Chương 1. LÝ LUẬN PHÁP LUAT VE THUẬN TINH LY HON VÀ. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HANH VE THUẬN TINH LY HON 1. Khái niệm ly hôn, quyền yêu cầu ly hôn 111.
Khái niệm ly hôn Củng với sự phát triển của zã hội vả gia đình, vấn để ly hôn đã được nghiên cứu ở nhiều phương điện với nhiều quan điểm khác nhau. Để dam bao được sự thông nhất trong việc nghiên cửu lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật, cin thiết phải xy dựng được một khái niệm cu thể, phan ánh rõ nét ‘ban chất, đặc điểm pháp lý của hiện tương ly hồn. Trong các công trinh nghiên. cứu, nhiễu khái niệm vẻ “ly hôn” đã được nêu ra Từ điển “Từ vả ngữ VietNam” của Giáo sư Nguyễn Lân định nghia: “Ly hôn Ja vợ chong bé nhau"2.
Khái niệm nay thể hiện góc nhìn đời thường, nêu. lên biểu hiện thực tế của ly hôn. Khái niềm nay được sử dung nhiễu trong cách didn dat hang ngày của người dân. Tuy nhiên, cách giải thích này chưa nói lên.
được bản chất pháp lý, đặc điểm của ly hồn. Bởi việc vợ chồng bỏ nhau không phải là điều kiện, cơ sở để vợ, chẳng được công nhận la đã ly hôn. “Xét trên gúc đồ pháp lý, theo từ điền giải thích thuật ngữ Luật hoc: Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật tô tụng dân sự của Trường Đại học. Luật Hà Nội năm 1999, “ly hôn là chấm đứt quan hệ vơ chồng khi hai người cin sống do một bến yêu cầu hoặc hai bén thuận tinh được TAND công nhân.
‘bang ban án cho ly hôn hay bằng quyết định công nhận thuận tinh ly hôn"” ‘Theo khái niém nay, bản chất pháp lý của ly hôn được phan ánh rõ nét, đồ là việc “chấm dút quan hé vơ chẳng”, hay nói cách khác, đỏ là việc chấm đứt sự tôn tại của quan hệ hôn nhân. Khai niệm nay còn nêu đặc điểm ly hôn là trường. 'Nguẫn Lin (006), Từ đấu ừ và ngổ i Now, Ni, Tổng hợp tain phd Hồ CaM, 1057 Nguyen Ngọc Hin hủ biện (199), Me đến giã ach đu gi ade lọc: uất độn tị, Ti hổn nhấn vài 2A NOs, Nos Công ein in, 151 “2ù, Tế tổ ng đấnụ, Đại học hột hop chấm đứt hôn nhân giữa những người còn sống dé phân biết với trường hop chấm đứt hôn nhân do vợ hoặc chồng chết hoặc bi tuyên bổ là đã chết Đảng thời, khái niêm nên được cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn là Tòa án va hình thức ghi nhận viếc ly hôn là ban án hoặc quyết định công nhân thuân. tình ly hôn của Tòa án.
Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn. fa việc châm đút quan hệ vợ chẳng theo ban án, quyết định có hiệu lực pháp luật cia Toa án”. Nội dung điều luật này phản anh được ly hôn la việc chấm. dứt quan hé hôn nhân Điều luật thể hiến tính quyển lực của nha nước ở nổi dung quy định cơ quan có thẩm quyên giải quyết viéc ly hôn là Toa án va nêu.
a cơ sỡ, hình thức ghi nhân việc ly hôn là “bản án, quyết định có hiệu lực pháp Tuật cia Toa án”. Nêu hai bên vợ chẳng thuận tinh ly hôn, giãi quyết với nhau. được tất cả các nội dung sau khi ly hôn thi Toa án công nhân ly hôn và ra quyết định dưới hình thức quyết định công nhân thuân tinh ly hôn Nếu vợ chẳng mâu. thuẫn, có tranh chấp thi Toa an xét xử và ra phan quyết ly hôn đưới dang bản.
án Pháp luật HN&GÐ ghi nhận sự kiến chấm ditt hôn nhân của vợ chồng trên thực té vả quy định về thẩm quyền, căn cứ, thủ tục ly hôn. Trên cơ sỡ đó, Toa án quyết định việc ly hôn, lam cham đứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chẳng Việc Toa an quyết định cho các cấp vo, chẳng ly hôn là một sự kiến. Tir phân tích trên, tác giã luôn văn đưa ra khối niệm về ly hôn như sau: Ly hôn là sự kiện pháp i}, do Tòa an quyết định trên cơ sở yêu cầu của vo, ng hoặc cả hat vợ chẳng. và huân theo căn củ: thù tục do pháp luật guy dã đmh, làm chấm ait quan hệ vo và ci ông trước pháp luật.
Khái niệm quyền yêu cầu ly hôn. ‘VL Lénin đã tửng khẳng định: “Người ta không thé la một người dan chủ va xã hội chủ nghĩa nêu ngay từ bây giờ, không đời quyền hoàn toàn tự do 10 ly hôn, vi thiéu quyén tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với giới bi áp bức, đổi với phụ nữ, tuy hoản toản chẳng khó khăn gì ma không hiểu được rằng khi ta thửa nhận cho phụ nữ được tự do ba chẳng thì không phải là ta khuyên tắt cả ‘ho b6 chồng”. Trên cơ sở bảo dam quyển tư do hôn nhân, pháp luật của nha nước ta bão đảm cho cá nhân có quyển tự do ly hôn. Nha nước Công hoa XA hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận quyền ly hôn là quyên con người, tại Điều 36 Hiển pháp nim 2013 quy định: “Nam, nữ có quyển kết hôn, ly hôn”.
Quyên ly "hôn lả năng lực pháp luật của cá nhân, lả kha năng mà cá nhân có các quyển và giữa vụ pháp ly do luật định. Để hiện thực hoá quyên ly hôn, quyển ly hôn cần. được thực hiện thông qua quyền yêu câu ly hôn. Cụ thể, vo, chẳng muốn ly hôn.
thì phải bằng hảnh vi của minh, thể hiện yêu cầu tới cơ quan nha nước có thẩm. quyên để cơ quan đó tiến hanh xem xét, giải quyết. Như vậy, quyền yêu cầu ly "hôn thể hiện ý chí của vợ chẳng, là năng lực hảnh vi của cá nhân ~ các cá nhân. bằng hảnh vi của minh tự xác lập va thực hiện các quyền va nghĩa vụ pháp ly đã được nhà nước thừa nhận Điều 30 Bộ luật dân sự 2015 ghỉ nhân quyển ly hôn là quyển nhân thân Quyên yêu cầu ly hôn la kha năng cá nhân thực hiện quyền ly hôn trên thực tế, cũng là quyền nhân thân.
Về nguyên tắc, chi có tự bản thân vợ, chéng có thể thực hiện quyển yêu cầu ly hôn, không thể chuyển giao hay ủy quyển cho người khác thực hiện. Bởi quyền yêu cầu ly hôn gắn với tâm tử, ý chí, nguyên vọng, của vơ chẳng đối với hôn nhân của mình. Chỉ có vợ, chẳng — những người trong cuộc, mới sác định đúng thực chất thực trang quan hệ hôn nhân giữa họ nên chỉ vợ, chồng mới có thể quyết đính yêu cầu ly hôn. Do đó, khoản 4 Điển 85 BLTIDS 2015 quy định lôi với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mất minh tham gia tổ tung”.
Trường hợp cha, mẹ hoặc người thân thích của vợ chẳng có yêu cầu ly hôn theo khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 thi họ tham gia tổ tung với tư cách là người đại điên. V1 Linn, “ủy hồn về nốt bến Hoa ching Mc vd ingen để quốc", Tint, ‘Tip 30,208 Tên bộ, Muvoơ 1961 2 163 i Mt cách khái quát, có thể định ngiĩa về quyển yêu câu ly hôn như sau in yêu câu ly hôn là khả năng của vợ, chồng, bằng hành vi của minh th hién mong muỗn chẳm đứt quan hệ hôn nhân (thông qua don yêu cau) tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết ly hôn. “Quyên yêu cầu ly hôn về nguyên tắc do vo, chẳng thực hiện vì nó gắn với ý chi, tinh cảm, mong muôn của vợ, chẳng déi với hôn nhân của mình. Do đó, quyển yêu cau ly hôn được vơ, chồng thực hiền khi ho có đũ năng lực hành.
vi dân sự, và hiểu được hậu quả pháp lý hảnh vi của minh”. Như vậy, vẻ nguyên tắc, không một cả nhân, tổ chức nào có thé thay mat cho vợ, chong quyết định, yêu cầu, thể hiện quan điểm vẻ việc chấm đút hôn nhân. Tuy nhiên, thực tế có những trường hợp người vợ hoặc chẳng không thể tự mình thực hiện quyên yêu cầu ly hôn do có khó khăn trong nhận thức hoặc lâm chủ hành vi, hoặc bi cân trở việc tự do, déc lập thể hiện ý chí. Để bao vệlợi ich của biên yêu.
thể trong quan hệ vợ chong trong những trường hop, hoản cảnh nhất định, khoăn 2 Điểu 51 Luật HN&GD 2014 quy định người thứ ba la cha, me, người thân thích khác cũng có thé yêu odu giải quyết ly hôn đổi với vợ, chẳng khi có những điểu kiên nhất định: “Cha, me, người thân thích khác có quyển yêu câu. Toa an giải quyết ly hôn khi một bên vo, chẳng do bị bệnh tâm thân hoặc mắc ‘bénh khác mà không thé nhận thức hoặc làm chủ hành vi của mình, đồng thời 1ä nạn nhân của bạo lực gia đình do chẳng, vợ của họ gây ra lãm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mang, sức khõe, tinhthan cia họ”. Việc quy đính người thứ ba có quyển yêu câu ly hôn không làm thay đổi bản chất quyển yêu cầu ly "hôn là quyền nhân thân của vo, chồng, béi đây không phải quyền tư nhiên của cha mẹ, người thân thich của vợ, chẳng. Có thể hiểu day 1a một cơ chế pháp lý 'hỗ trợ vợ, chéng trong những trường hợp, hoàn cảnh nhất định thực hiện quyền.
‘yéu cầu ly hôn. Chi trong những trường hợp cụ thé, đáp ứng đây di, chat chế ` Nggyễn Psreng Len, 2018), “Quy yêu cầu y hôn tờ góc Win vì thọ tổn ip dig, Top cade oe sb thang 0018. các điều kiện mã nội dung điều luật đưa ra thì cha, me, người thân thích khác mới có quyền yêu cau Tòa án giải quyết ly hôn đối với vợ, chồng. Khi sự kiện pháp lý ly hôn diễn ra, đối tượng ma Nha nước quan tâm, ‘bdo vệ không chỉ bao gồm quyển va lợi ich hợp pháp của vo, chẳng mà còn.
nhằm bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của con chung và của các cá nhân vả tổ chức liên quan, đồng thời bao về các giá trị chung khác của gia đinh. Bởi lế những đổi tượng này liên quan và chịu ảnh hưởng trực tiếp khi vợ, chẳng ly hôn Do đó, pháp luật HN&GD han chế quyển yêu cau ly hôn trong một số trường hợp. Trong mỗi hoàn cảnh lich sỡ, chế độ Nhà nước khác nhau, những điều kiện hạn chế quyển yêu cầu ly hôn của vợ, chồng mà Nha nước đất ra cũng khác nhau. Theo quy định của Luật HN&GD 2014, quyền yêu cầu ly hôn là tỉnh đẳng như nhau giữa vợ, chong Vợ, chẳng có thé tự mình độc lập, chủ.
động thực hiện quyén yêu câu ly hôn. Song trong những điều kiện nhất dinh, pháp luật quy định quyên yêu cầu ly hôn của người chéng có thé bi hạn chế.