Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN TRÀ BỒNG VÀ NGƯỜI COR Ở HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI 1. Các khái niệm công cụ * Di sản văn hóa Di sản văn hóa là di sản của các hiện vật, vật lý và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau. Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (như các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật, và các hiện vật), văn hóa phi vật thể (như văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức) và di sản tự nhiên (bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học). Trong khái niệm về Di sản văn hóa thường được chia làm hai nhóm đó là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể: - Di sản văn hóa phi vật thể “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [57, tr.
Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa chia Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian [14, tr. Trong phiên họp thứ 32 tại Paris năm 2003, tổ chức UNESCO đã xác định khái 13 niệm: "Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng và về phát triền bền vững.
- Di sản văn hóa vật thể “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [56, tr. Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Di sản Văn hóa chia Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [14, tr. Tại kỳ họp thứ 17, năm 1972, tổ chức UNESCO đã xây dựng Công ước về Di sản văn hoá. Theo đó, những loại hình sau đây sẽ được coi là "di sản văn hoá vật thể": Di tích kiến trúc (monuments); Nhóm công trình xây dựng có giá trị nổi tiếng toàn cầu; Các di chỉ có giá trị khoa học toàn cầu; Di sản thiên nhiên giá trị khoa học toàn cầu.
Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ lẫn nhau. Sinh thời, GS. Trần Quốc Vượng đã có lần trao đổi: "Thực ra trên đời này, khó có 14 thể phân biệt rạch ròi đâu là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.
Nhiều loại hình văn hóa vừa là vật thể lại vừa là phi vật thể. Trong tiếng Anh, người ta gọi di sản văn hóa phi vật thể là "intangible heritage". Tra từ nguyên "intangible" thì lại bao hàm nghĩa "không thể sờ thấy được, không thể chạm vào được” [77, tr. * Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Bảo tồn và phát huy là hai hoạt động văn hóa trong thực tiễn.
Chúng không hề tách rời nhau, mà luôn đi đôi, gắn liền với nhau. Hiện nay, quan điểm về bảo tồn và phát huy đang chiếm vị trí chủ đạo trong giới học thuật cũng như giới văn hóa ở nhiều nước phát triển trên thế giới. Quan điểm này không chú trọng vào việc tranh cãi nên bảo tồn nguyên vẹn như thế nào hay nên kế thừa cái gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản, nhất là di sản văn hóa phi vật thể sống và phát huy được tác dụng trong đời sống hiện đại. Trong các văn kiện của Đảng cũng nhấn mạnh về vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức thẩm mỹ, các di sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc. Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh của đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Như vậy quan điểm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa được Đảng và Nhà nước định hướng và phát triển trong suốt thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước.
Theo đó, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc không thể dựa vào ý chí chủ quan, mà phải gắn liền bảo tồn và phát huy với hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia như vậy mới có thể xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 15 * Quản lý Di sản văn hóa Quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, có hiệu quả. Tùy vào xã hội, chế độ, thời đại và nghề nghiệp mà các nhà khoa học có định nghĩa, có góc nhìn về quản lý khác nhau như: Tylor cho rằng “làm quản lý là bạn phải biết rõ muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”. Còn Fayol thì cho rằng “Quản lý là hoạt động mà mọi nơi tổ chức điều có, gồm năm yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát”.
Tóm lại, để đạt được mục tiêu quản lý đề ra trong tiến hành công tác quản lý chúng ta phải dựa vào các phương tiện và chính sách về pháp luật, tài chính, nghiên cứu khoa học, nguồn nhân lực,… Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa dân tộc là quá trình tác động, điều chỉnh thường xuyên bằng các chủ trương, chính sách,… của Đảng, Nhà nước đối với các hoạt động trên các lĩnh vực về di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững. Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa dân tộc còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng các hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, hội, đoàn thể, cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia là nên di sản văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Tại điều 54 Luật Di sản văn hóa quy định 8 nội dung quản lý nhà nước về di sản gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn nhân lực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức và quản lý 16 hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [56, tr. Lý thuyết tiếp cận nghiên cứu và những nguyên tắc cơ bản về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong đời sống xã hội * Lý thuyết tiếp cận nghiên cứu - Giao lưu, tiếp biến văn hóa: Thuật ngữ “giao lưu và tiếp biến văn hoá” được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội như: dân tộc học, xã hội học, văn hoá học,.
ở phương Tây thuật ngữ này được dùng với những từ khác nhau. Người Anh dùng Cultural Change là trao đổi văn hoá, người Mỹ dùng Acculturation là đan xen văn hoá, giao thoa văn hoá, nhưng cách dịch được nhiều người đồng thuận nhất là giao lưu và tiếp biến văn hoá. Theo quy luật kế thừa, nếu quá trình phát triển văn hoá diễn ra theo trục thời gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau và tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc.