CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Từ trước đến nay, MTTN của một tộc người là đối tượng tiếp cận nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn như dân tộc học, nhân học, văn hóa học, tâm lý học, văn học,. và trong bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay, việc nghiên cứu về ứng xử với tự nhiên càng trở nên cấp thiết hơn nữa. Dưới góc tiếp cận liên ngành, ngoài việc tiếp cận các tài liệu được nghiên cứu của ngành văn hóa học chúng tôi còn tiếp cận tài liệu của các ngành nhân học, văn học để có cách nhìn tổng quát và hệ thống về vấn đề nghiên cứu.
Với khối lượng công trình đã được tiếp cận khá lớn, chúng tôi nhóm lại thành hai nhóm là những công trình nghiên cứu lý luận và những công trình nghiên cứu thực tiễn. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận 1. Công trình của tác giả nước ngoài Để phục vụ nhu cầu nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam, các Trung tâm, Viện nghiên cứu văn hoá đã tổ chức dịch các công trình của các tác giả nước ngoài như năm 2001 Viện Thông tin Khoa học Xã hội thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia đã dịch các nghiên cứu của các nhà văn hoá học, nhân học, xã hội học trên thế giới như: White. với tựa đề công trình là Văn hoá học và văn hoá thế kỉ XX (Viện Thông tin Khoa học Xã hội , 2011).
Viện Văn hóa – Thông tin cũng đã tuyển chọn và dịch một số công trình của các tác giả nước ngoài như: A. Radughin (chủ biên) (2004) Văn hóa học những bài giảng; Nhiều tác giả (2007), Văn hóa học – Những phương pháp nghiên cứu; Chris Barker (2011) Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành. Các công trình này đã cung cấp các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cần thiết cho luận án, nhất là phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được vận dụng trong luận án (Radughin, 2004); (Nhiều tác giả , 2007); (Barker, 2011). Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiếp cận các công trình lý thuyết và phương pháp của ngành nhân học giúp bổ trợ cho công trình nghiên cứu như: H.
Russel Bernard 7 luan an (2009), Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học – tiếp cận định tính và định lượng; R. Nhóm tài liệu về lý thuyết và phương pháp của các tác giả nước ngoài này đã được chúng tôi tiếp cận kế thừa về phương pháp định tính, tham dự và phỏng vấn cộng đồng. Các lý thuyết được áp dụng trong luận án cũng được kế thừa từ các công trình này như lý thuyết sinh thái học văn hoá, lý thuyết chức năng. Tóm lại, các tài liệu này đã cung cấp cho chúng tôi những lý thuyết và phương pháp tiếp cận liên ngành phù hợp với đề tài.
Công trình của các tác giả trong nước Nghiên cứu về MTTN vùng ĐBSCL, chúng tôi đã có điều kiện tiếp cận quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Đây là một bộ sử liệu có giá trị cao về lịch sử, địa lí và văn hóa Nam Bộ. Tập sách là những ghi chép và mô tả tỉ mỉ về núi sông, khí hậu cùng các phong tục tập quán, tính cách sinh hoạt của cư dân cùng các địa danh xưa ở Nam Bộ. Mặc dù không gian nghiên cứu của luận án chỉ tập trung ở ĐBSCL (còn gọi là Tây Nam Bộ) nhưng đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi tham khảo để nghiên cứu không gian địa lý và không gian văn hóa của luận án (Trịnh Hoài Đức, tái bản lần thứ 1 năm 2016).
Lê Bá Thảo là tác giả có nhiều nghiên cứu về thiên nhiên Việt Nam nói chung và thiên nhiên ĐBSCL nói riêng. Hai công trình được chúng tôi tiếp cận tham khảo là Địa lý đồng bằng sông Cửu Long (1986) và Thiên nhiên Việt Nam (2002) và. Các công trình này không chỉ dừng lại ở mô tả tự nhiên khí hậu, địa lý Nam Bộ mà còn đề cập đến văn hóa ứng xử của người Nam Bộ với MTTN (Lê Bá Thảo, 1986); (Lê Bá Thảo, 2009). Nguyễn Xuân Kính là tác giả đã có những nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người, môi trường và văn hóa.
Quyển Con người môi trường và văn hóa của tác giả Nguyễn Xuân Kính được xuất bản năm 2003 là tập hợp các bài viết của tác giả, trong đó có nội dung “Con người và môi trường”, tác giả đã chia ra thành ba loại môi trường: môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn, môi trường xã 8 luan an hội. Bài viết giúp chúng tôi có cái nhìn về mối quan hệ giữa con người và môi trường, phân biệt được sự khác nhau giữa môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn và môi trường xã hội. Con người sống trong môi trường, tác động vào môi trường và có thể làm biến đổi môi trường (Nguyễn Xuân Kính, 2003). Ngô Văn Lệ với công trình Một số vấn đề văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á xuất bản năm 2003 là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa tộc người.
Với cách tiếp cận nhân học văn hóa, tác giả có cái nhìn khái quát về đặc trưng văn hóa của người Việt và các tộc người thiểu số ở Nam Bộ cũng như đặc trưng văn hóa của cư dân Đông Nam Á. Điểm cốt lõi để chúng tôi kế thừa công trình này là tác giả chú trọng đến mối liên hệ phát triển của hệ sinh thái và tộc người. Cùng với cách tiếp cận nhân học văn hóa và tư liệu điền dã, đây là một trong những tài liệu quý giá giúp chúng tôi có thêm nguồn tham khảo cho luận án (Ngô Văn Lệ, 2003). Công trình Nhân học văn hóa - con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên của tác giả Vũ Minh Chi xuất bản năm 2004 ngoài việc trình bày đối tượng, phương pháp nghiên cứu của nhân học văn hóa còn phân tích mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái.
Để tồn tại, con người có những cách ứng xử khác nhau với MTTN và từ đó hình thành những nét văn hóa riêng biệt. Đây là quan điểm rất quan trọng được chúng tôi tiếp cận, kế thừa trong nghiên cứu về ứng xử với MTTN của người Khmer ở vùng ĐBSCL (Vũ Minh Chi, 2004). Tác giả Trần Quốc Vượng với quyển Môi trường con người & Văn hóa xuất bản năm 2005 là tập hợp tất cả bài viết về vấn đề sinh thái văn hóa. Bằng cách tiếp cận lịch sử - văn hóa, địa - văn hóa tác giả đã mang đến nhiều đóng góp khi nghiên cứu về vấn đề môi trường qua các vùng miền ở Việt Nam.
Có thể kể đến các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài như: Triết lý môi trường; Khảo cổ - văn hóa - môi trường sinh thái; Yếu tố nước trong văn hóa Việt Nam; Di tích và môi trường; Người Đông Sơn và môi trường sinh thái Đông Sơn; Văn hóa biển và sông nước ở (Phía Bắc) miền Trung Việt Nam, một cái nhìn sinh thái nhân văn; Nam Bộ, các tiểu vùng sinh thái khảo cổ - nhân văn và huyền tích khởi nguyên luận, v. Công trình Văn hóa sinh thái – nhân văn (giáo dục môi trường) xuất bản năm 2005 của tác giả Trần Lê Bảo là công trình nghiên cứu văn hóa sinh thái dưới cách tiếp cận cấu trúc chức năng. Tác giả chia môi trường sinh thái – tự nhiên thành các thành tố: nước; không khí; động vật, thực vật; đất đai; đồng thời, tác giả có sự quan tâm đến 9 luan an văn hóa ứng xử với môi trường sinh thái, giáo dục văn hóa sinh thái ở Việt Nam hiện nay (Trần Lê Bảo, 2005). Chúng tôi còn được tiếp cận công trình Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng (2013) là một công trình mang tính hệ thống về lý thuyết nghiên cứu văn hóa học của tác giả Trần Ngọc Thêm.
Trong đó, tác giả nghiên cứu vấn đề lý luận văn hóa học có đề cập đến nước và văn hóa nước. Dưới góc tiếp cận hệ thống cấu trúc, tác giả chia văn hóa nước thành: văn hóa tận dụng nước, văn hóa đối phó với nước, văn hóa lưu luyến nước và văn hóa sùng bái nước. Tác giả đã nhìn nhận sâu sắc, toàn diện về nước trong đời sống văn hóa con người. Cũng trong công trình này, tác giả có nghiên cứu cụ thể về vấn đề “Nước, Văn hóa và hội nhập”.
Tác giả nêu lên một số quan điểm về nước và văn hóa nước từ đó đưa ra một số nhận định về văn hóa nước và ảnh hưởng của nước đến tâm thức người Việt. Tất cả kết quả nghiên cứu trên giúp chúng tôi có thêm điểm nhìn về văn hóa nước của Việt Nam trong cái nhìn hệ thống loại hình (Trần Ngọc Thêm, 2013). Tiếp nối với lý thuyết hệ thống - loại hình, vào năm 2013 Trần Ngọc Thêm đã công bố công trình Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do tác giả chủ biên. Công trình tập hợp nhiều bài viết một cách hệ thống về văn hóa nhận thức, văn tổ chức, văn hóa ứng xử với tự nhiên và xã hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ và đây là nguồn tài liệu giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh với văn hóa ứng xử với MTTN của người Khmer (Trần Ngọc Thêm (chủ biên) , 2013).
Để phục vụ cho tra cứu các tư liệu về không gian văn hóa ĐBSCL, chúng tôi còn sử dụng tư liệu từ các công trình dưới dạng biên khảo, bút kí của Sơn Nam và Vương Hồng Sển. Các tác phẩm đã phản ánh không gian cư trú, không gian sinh hoạt của người Khmer ở ĐBSCL như Sơn Nam, 1998: Đồng bằng sông Cửu Long; Sơn Nam, 2005: Tìm hiểu đất Hậu Giang & Lịch sử đất An Giang; Sơn Nam, 2007: Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa; Vương Hồng Sển, 2012: Di cảo Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang, Ba Thắc. Thông qua các tác phẩm này chúng tôi nhận diện được nhiều tri thức dân gian, kinh nghiệm dân gian của người Nam Bộ trong đời sống văn hóa vật thể như ăn uống, nhà cửa, đi lại và trong đời sống văn hóa phi vật thể như lễ tục, tín ngưỡng.