Tổng quan luận án

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất cực nam của Việt Nam, gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Cần Thơ. Địa bàn này có đặc điểm ba mặt giáp biển với đường bờ biển dài 700 km, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 1 mét đến 2 mét so với mực nước biển (trừ các giồng cát ven biển cao đến 5 mét), chịu sự chi phối của hai mùa mưa - khô luân phiên.

Người Khmer là tộc người có dân số đứng thứ hai sau người Việt tại ĐBSCL. Trong lịch sử định cư, lao động và sản xuất, cộng đồng người Khmer đã hình thành hệ thống kinh nghiệm dân gian để thích nghi, điều tiết và ứng phó với môi trường tự nhiên (MTTN). Tuy nhiên, ĐBSCL hiện nay đối diện với các thách thức lớn do biến đổi khí hậu (BĐKH) như xâm nhập mặn, nhiễm phèn kéo dài, nhiệt độ tăng cao, nước biển dâng và sạt lở. Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2011), khi nước biển dâng cao 1 mét, ước tính 5,3% diện tích tự nhiên, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp tại Việt Nam sẽ chịu tác động trực tiếp. Trước những biến động sinh thái, tập quán sinh kế và tri thức bản địa của người Khmer đang đứng trước yêu cầu phải biến đổi để thích ứng.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu văn hóa ứng xử với các yếu tố tự nhiên như đất, nước, thời tiết, động vật, thực vật trong văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của người Khmer; từ đó, phân tích các giá trị trong truyền thống và sự biến đổi trong cách ứng xử với tự nhiên của người Khmer trước những thách thức về BĐKH trong bối cảnh hiện nay.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa các giá trị về văn hóa ứng xử với MTTN (đất, nước, thời tiết, động vật, thực vật) trong văn hóa vật thể và phi vật thể của người Khmer ở ĐBSCL.
    2. Phân tích, đánh giá và đề xuất một số khuyến nghị mang tính dự báo về những biến đổi trong ứng xử với MTTN của người Khmer trước thách thức của BĐKH, bổ sung cứ liệu khoa học vào mảng nghiên cứu văn hóa Khmer ở ĐBSCL.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa ứng xử với MTTN của người Khmer ĐBSCL, cụ thể gồm ứng xử với đất, nước, thời tiết, động vật và thực vật.
  • Đối tượng khảo sát: Cộng đồng người Khmer có sinh kế chính là sản xuất nông nghiệp tại 3 địa bàn đại diện:
    • Ấp Phnôm-Pi, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vùng sinh thái đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi, đầu nguồn sông Mekong).
    • Khóm Cà Lăng A Biển, phường 2, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (vùng sinh thái đồng bằng ven biển, hạ nguồn sông Mekong).
    • Ấp Bà Tây B, xã Tập Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (vùng sinh thái đồng bằng ven biển, hạ nguồn sông Mekong).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các tư liệu và hiện trạng từ sau năm 1975 đến nay.
  • Chủ thể nghiên cứu: Tộc người Khmer cư trú tại vùng ĐBSCL.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Tộc người Khmer đã ứng xử với MTTN (đất, nước, thời tiết, động thực vật) như thế nào? Trong quá trình thích nghi và đối phó với MTTN, người Khmer đã làm gì để tận dụng các giá trị có lợi và đối phó với điều kiện bất lợi nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nhà cửa, đi lại?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Trong bối cảnh biến đổi của MTTN hiện nay, người Khmer đã có sự biến đổi như thế nào trong văn hóa ứng xử với MTTN để đảm bảo sự thích nghi và phát triển bền vững?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1: MTTN là yếu tố có giá trị quan trọng trong văn hóa vật thể và phi vật thể của người Khmer; qua lịch sử, người Khmer đã tích lũy hệ thống kinh nghiệm dân gian để thích nghi với môi trường sống.
  • Giả thuyết nghiên cứu 2: Trước những biến động môi trường, người Khmer có sự thay đổi mang tính thích nghi có chọn lọc so với tri thức truyền thống (giữ lại tri thức giá trị, loại bỏ yếu tố không còn phù hợp); BĐKH, sự suy giảm tài nguyên cùng chính sách của Nhà nước là những nhân tố thúc đẩy sự chuyển đổi này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành hai nhóm chính:

Nhóm công trình Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung và giá trị kế thừa
Nghiên cứu lý luận - Nước ngoài: A. Radughin (2004), Chris Barker (2011), H. Russell Bernard (2009), Viện Thông tin KHXH dịch Leslie White (2001/2011).
- Trong nước: Trịnh Hoài Đức (Gia Định thành thông chí, 2016); Lê Bá Thảo (1986, 2002); Nguyễn Xuân Kính (2003); Ngô Văn Lệ (2003); Vũ Minh Chi (2004); Trần Quốc Vượng (2005); Trần Lê Bảo (2005); Trần Ngọc Thêm (2006, 2013); Sơn Nam (1998, 2005, 2007); Vương Hồng Sển (2012); Phạm Đức Dương (2002, 2013); Hồ Sĩ Vịnh (2006).
Cung cấp hệ thống khái niệm, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát tham dự; phân định các loại môi trường sinh thái (tự nhiên, nhân văn, xã hội); xác lập mối quan hệ giữa hệ sinh thái và văn hóa tộc người; cung cấp cơ sở đối sánh không gian văn hóa vùng Tây Nam Bộ.
Nghiên cứu thực tiễn - Nước ngoài: Bronislaw Malinowski (1922, Argonauts of the Western Pacific); E. E. Evans-Pritchard (1940, The Nuer); Julian Steward (1938, 1955, Theory of Culture Change); Aurelio Peccei & Daisaku Ikeda (1993); Grant Evans & John Clammer (2001); Stephen Oppenheimer (2005); Lévy-Bruhl (2008); Trịnh Hiểu Vân (2008).
- Tộc người khác tại Việt Nam: Nguyễn Viết Chức (2002); Tô Ngọc Thanh (2006); Trần Thúy Anh (2009); Nguyễn Diệp Mai (2011); Võ Thị Thu Thủy (2013); Phan Thị Yến Tuyết (2014); Phạm Công Hoan (2015); Đặng Thị Ngọc Oanh và tgk (2015, 2016); Ngô Văn Lệ & Huỳnh Ngọc Thu (2017); Nguyễn Thị Kim Ngân (2015); Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017).
- Về người Khmer ĐBSCL: Lê Hương (1969); Huỳnh Ngọc Trảng (1987); Thạch Voi, Đinh Văn Liên (1988); Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990); Mạc Đường, Phan An, Phan Thị Yến Tuyết (1991); Trường Lưu và tgk (1993); Phan Thị Yến Tuyết (1993); Nguyễn Khắc Cảnh (1998, 2008); Trần Văn Bổn (1999); Phan An (2009); Mai Thanh Sơn & Võ Mai Phương (2011); Huỳnh Thanh Quang (2011); Phạm Thị Phương Hạnh (2011); Trần Dũng & Đặng Tấn Đức (2012); Trần Thanh Pôn (2014); Tiền Văn Triệu & Lâm Quang Vinh (2015); Ngô Thị Phương Lan (2016, 2019).
Cung cấp các mô hình ứng xử với sinh thái biển, đất, nước và chăn nuôi; mô tả bức tranh văn hóa truyền thống, phum sóc, tín ngưỡng, chùa chiền, lễ hội và cấu trúc sinh kế của người Khmer. Làm nền tảng dữ liệu để đối chiếu biến đổi sinh thái - văn hóa.

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận văn hóa Khmer dưới góc độ mô tả phong tục, lễ hội, lịch sử, văn hóa vật chất đơn lẻ hoặc nghiên cứu kinh tế - xã hội thuần túy. Chưa có công trình chuyên sâu nào phân tích một cách hệ thống văn hóa ứng xử với MTTN của người Khmer ở ĐBSCL theo mô hình sinh thái học văn hóa, kết nối toàn diện từ tri thức bản địa truyền thống đối với đất, nước, thời tiết, động thực vật đến các biến đổi thực tế trong sinh kế và văn hóa tinh thần trước bối cảnh BĐKH hiện nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung lý thuyết sử dụng

  1. Khái niệm công cụ:
    • Môi trường tự nhiên (environment): Tổng thể các yếu tố vô sinh và hữu sinh bao quanh con người và sinh vật như đất, nước, không khí, động vật, thực vật, khí hậu, ánh sáng... tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sinh tồn.
    • Văn hóa ứng xử với MTTN: Quá trình tương tác qua lại giữa con người với tự nhiên, bao gồm sự thích nghi và ứng phó với MTTN nhằm tạo ra các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần.
  2. Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural Ecology):
    • Được kế thừa từ quan điểm của Julian Steward (1938, 1955) về tiến hóa đa tuyến và khái niệm "hạt nhân văn hóa" (culture core). Thuyết này lý giải cách thức con người sử dụng văn hóa, công nghệ và tổ chức xã hội để thích nghi với các điều kiện sinh thái cụ thể, chỉ ra rằng các môi trường sinh thái tương đồng sẽ dẫn đến những khuôn mẫu ứng xử văn hóa tương tự.
  3. Thuyết chức năng (Functionalism):
    • Vận dụng quan điểm của Bronislaw Malinowski (1922) để giải thích chức năng của các thành tố tự nhiên (đất, nước, thời tiết, động thực vật) trong việc đáp ứng các nhu cầu sinh học, vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại) và nhu cầu tâm linh, tâm lý (ma thuật, nghi lễ, trấn an tinh thần) của cộng đồng người Khmer.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Cách tiếp cận: Tiếp cận liên ngành (văn hóa học, nhân học, xã hội học, văn học); tiếp cận hệ thống - cấu trúc (phân tích theo hệ thống văn hóa nhận thức - văn hóa ứng xử); tiếp cận văn hóa - sinh thái.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Nghiên cứu định tính: Luận án không sử dụng điều tra định lượng bằng bảng hỏi do đặc thù tri thức dân gian khó lượng hóa. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn phi cấu trúc với các đối tượng là nông dân, người nuôi trồng thủy sản, thợ thủ công, người làm đường thốt nốt, các vị Sư, Achar và cán bộ địa phương.
    • Quan sát tham dự: Trực tiếp thâm nhập đời sống sinh hoạt, sản xuất, lễ hội tại các ấp, khóm đại diện ở Tri Tôn (An Giang), Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Trà Cú (Trà Vinh).
    • Phương pháp so sánh lịch đại: Đối chiếu các tập quán ứng xử trong lịch sử với các chuyển đổi sinh kế và phong tục trong giai đoạn hiện nay.
    • Phân tích văn bản và văn học dân gian: Khảo sát các truyện cổ dân gian, truyền thuyết Khmer (như sự tích Ao Bà Om, sấm sét, mưa gió, Neak Ta, tranh tượng rồng, chim Grut...) làm cứ liệu bổ trợ cho các phân tích tâm thức tộc người.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 xác lập cơ sở lý thuyết, điểm luận hệ thống tài liệu và phác thảo bối cảnh thực tiễn địa bàn nghiên cứu:

  • Phân tích môi trường cư trú của người Khmer tại ĐBSCL dựa trên 5 tiểu vùng sinh thái theo phân chia của Trần Ngọc Thêm: Tiểu vùng Phù sa ngọt, Tiểu vùng Giồng duyên hải, Tiểu vùng Ngập hở (Tứ giác Long Xuyên), Tiểu vùng Ngập kín (Đồng Tháp Mười) và Tiểu vùng Ngập mặn.
  • Xác định địa bàn cư trú chủ yếu của người Khmer là các giồng cát ven biển (tại Trà Vinh, Sóc Trăng) và vùng ngập hở ven núi (huyện Tri Tôn, Tịnh Biên thuộc An Giang).
  • Trình bày đặc trưng văn hóa vật thể (nhà ở, ẩm thực, phương tiện vận chuyển) và văn hóa phi vật thể (hệ thống tín ngưỡng dân gian Neak Ta, Arak, Phật giáo Nam tông Khmer, lễ hội truyền thống Chôl Chnăm Thmây, Sen Đôlta, Ok Om Bok).

Chương 2: Văn hóa ứng xử với đất và nước của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long

Chương này đi sâu vào tri thức bản địa và các thực hành văn hóa của người Khmer đối với hai yếu tố tự nhiên then chốt:

Luận án tổng hợp bảng so sánh sự thay đổi trong cách ứng xử với nguồn nước của người Khmer:

Tiêu chí Ứng xử với nước trong truyền thống Ứng xử với nước hiện nay
Nguồn nước sinh hoạt Phụ thuộc hoàn toàn vào nước mưa tích trữ trong lu/khạp, nước ao làng, ao chùa và giếng đào tầng nông trên giồng cát. Sử dụng nước máy, hệ thống cấp nước tập trung nông thôn, giếng khoan ngầm tầng sâu bằng máy bơm điện.
Kỹ thuật tưới tiêu sản xuất Dựa vào nước trời (canh tác lúa mùa nổi, lúa một vụ), tát nước thủ công bằng gàu sòng, gàu dai, đắp bờ giữ nước tự nhiên. Ứng dụng trạm bơm điện, máy bơm dầu, hệ thống kênh mương bê tông hóa, áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm, đóng cống ngăn mặn.
Ứng phó hạn, mặn, phèn Làm lễ cầu mưa, cầu an giải hạn; di dời tạm thời hoặc chấp nhận giảm năng suất mùa vụ; rửa phèn tự nhiên bằng nước mưa. Chuyển đổi cơ cấu giống lúa chịu mặn/chịu phèn; luân canh lúa - tôm, tôm - màu; theo dõi quan trắc độ mặn qua truyền thông; xây bờ bao ngăn triều cường.
Yếu tố nghi lễ tâm linh Giữ vai trò bắt buộc trong cấu trúc mùa vụ, thực hành lễ cầu nước, lễ đưa nước với tính chất tôn nghiêm tuyệt đối. Các nghi lễ tắm Phật, té nước, đua ghe Ngo tại lễ hội Ok Om Bok tiếp tục duy trì nhưng lồng ghép thêm tính chất giao lưu văn hóa và thể thao cộng đồng.

Chương 3: Văn hóa ứng xử với thời tiết, động vật, thực vật của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3 trình bày phương thức thích ứng sinh thái đối với thời tiết và sinh vật:

  • Ứng xử với thời tiết (thiêch à cás):
    • Người Khmer quan sát quy luật luân chuyển giữa mùa khô và mùa mưa để xây dựng lịch mùa vụ nông nghiệp.
    • Mùa khô: Triển khai các ngành nghề phụ như làm đường thốt nốt (An Giang), dệt chiếu, làm gốm, sửa chữa nông cụ, cải tạo đất, thu trữ rơm rạ cho gia súc.
    • Mùa mưa: Tập trung gieo cấy lúa, gia cố bờ bao, đánh bắt thủy sản nước ngọt trên đồng ngập lũ.
  • Khai thác và sử dụng động vật, thực vật:
    • Động vật: Khai thác thủy hải sản tự nhiên bằng các ngư cụ dân gian; nuôi trâu bò phục vụ cày kéo và lấy phân bón ruộng; phát triển gia cầm.
    • Thực vật: Khai thác và chế biến cây thốt nốt (lấy nước làm đường, lá lợp nhà, thân làm cột/thuyền); trồng cây lúa nước, các loại cây bản địa lấy gỗ quanh khuôn viên chùa (sao, dầu, thốt nốt, tre) tạo môi trường sinh thái râm mát. Tận dụng các loài rau dại, cây thuốc Nam phục vụ ẩm thực và chữa bệnh.
  • Yếu tố tâm linh đối với động thực vật:
    • Tín ngưỡng tôn kính các loài động vật gắn với biểu tượng Phật giáo và thần thoại: hình tượng rồng (Neak), chim thần Grut (Garuda), voi thần.
    • Tín ngưỡng tôn kính thực vật: biểu tượng cây bồ đề trong khuôn viên chùa; sử dụng hoa cau trong các nghi lễ hôn nhân truyền thống (các sự tích ba bông hoa cau trong ngày cưới).

Chương 4: Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long – Một số biến đổi và những bàn luận

Chương 4 tập trung nhận diện những biến đổi văn hóa, sự chuyển dịch sinh kế và các khuyến nghị quản lý:

  • Các biến đổi văn hóa ứng xử:
    • Ứng xử với đất: Chuyển đổi từ đất lúa thuần nông sang đất nuôi trồng thủy sản hoặc trồng hoa màu chuyên canh; đất đai trở thành hàng hóa giao dịch trên thị trường; suy giảm các lễ thức cúng thần đất tại gia đình.
    • Ứng xử với nước: Giảm bớt sự phụ thuộc thụ động vào thiên nhiên nhờ công nghệ bơm tưới, giảm dần các nghi thức cầu mưa mang tính ma thuật nguyên thủy.
    • Ứng xử với cây trồng, vật nuôi: Thay thế các giống lúa mùa địa phương dài ngày bằng các giống lúa thuần ngắn ngày năng suất cao; trâu bò chuyển từ vai trò cày kéo sang chăn nuôi lấy thịt thương phẩm do sự xuất hiện của máy cày, máy gặt đập liên hợp.
    • Ứng xử với thời tiết: Dựa vào dự báo khí tượng thủy văn hiện đại thay vì thuần túy nhìn dấu hiệu tự nhiên (mây, gió, hành vi côn trùng).
  • Xu hướng chuyển đổi phương thức sinh kế thích ứng BĐKH:
    • Chuyển đổi kỹ thuật nuôi trồng: áp dụng mô hình 1 vụ lúa - 1 vụ tôm, trồng màu trên đất giồng cát phủ bạt nilon tiết kiệm nước.
    • Đa dạng hóa sinh kế: chuyển từ độc canh nông nghiệp sang kết hợp thương mại dịch vụ, làm thuê thời vụ tại các khu công nghiệp hoặc đi lao động ngoài tỉnh.
  • Một vài vấn đề đặt ra:
    • Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng phum sóc.
    • Tăng cường phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu và chính sách pháp luật về môi trường.
    • Phát huy vai trò của các vị Sư, Ban quản trị chùa và các vị Achar - những chức sắc có uy tín cao trong việc vận động cộng đồng giữ gìn môi trường sống.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
    • Luận án vận dụng thuyết sinh thái văn hóa của Julian Steward và thuyết chức năng của Bronislaw Malinowski vào trường hợp một tộc người cụ thể (người Khmer ĐBSCL), chứng minh mối quan hệ hữu cơ giữa môi trường sinh thái vùng đồng bằng ngập nước, giồng cát ven biển với hệ thống văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng.
    • Góp phần hệ thống hóa khái niệm "văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên" trong ngành Văn hóa học Việt Nam, đặt trong mối quan hệ đa chiều giữa con người, kỹ thuật và bối cảnh tự nhiên biến đổi.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp tư liệu điền dã dân tộc học chi tiết tại ba tỉnh An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh về các phương thức ứng xử cụ thể của người Khmer đối với đất, nước, thời tiết, động vật và thực vật từ truyền thống đến hiện đại.
    • Làm rõ bức tranh chuyển đổi sinh kế và biến đổi nhận thức của người Khmer trước áp lực của BĐKH, hạn mặn và sự phát triển kinh tế thị trường.
  3. Kiến nghị và giải pháp:
    • Đề xuất giải pháp phát huy tri thức bản địa tích cực kết hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật để xây dựng các mô hình sinh kế thích ứng bền vững.
    • Khuyến nghị cơ quan quản lý lồng ghép mạng lưới các chùa Khmer, các vị chức sắc tôn giáo (Sư sãi, Achar) vào chương trình truyền thông về bảo vệ môi trường và ứng phó thiên tai tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Địa bàn nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào 3 tỉnh đại diện (Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang), chưa thể bao quát toàn bộ 13 tỉnh, thành phố nơi có cộng đồng người Khmer sinh sống rải rác tại ĐBSCL (như Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long...).
    • Nghiên cứu tập trung vào phương pháp định tính và điền dã dân tộc học, không xây dựng hệ thống số liệu thống kê điều tra xã hội học diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát so sánh văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Khmer ĐBSCL với cộng đồng người Khmer ở Campuchia hoặc các tộc người cùng cộng cư (Việt, Hoa, Chăm) tại vùng Tây Nam Bộ.
    • Nghiên cứu định lượng đánh giá mức độ suy giảm tri thức bản địa trong thế hệ trẻ người Khmer dưới tác động của đô thị hóa và di cư lao động.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học và Địa lý nhân văn.
    • Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Ban Dân tộc, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh ĐBSCL trong việc xây dựng kế hoạch thích ứng BĐKH gắn với đặc thù văn hóa tộc người.
  • Phần tư liệu đáng tham khảo:
    • Hệ thống thuật ngữ tiếng Khmer đi kèm phiên âm chuẩn xác về các yếu tố tự nhiên (đất, nước, thời tiết, hoạt động sản xuất).
    • Phụ lục nhật ký điền dã thực địa chi tiết tại Trà Vinh, An Giang, Sóc Trăng.
    • Tuyển tập các văn bản truyện dân gian Khmer phản ánh nhận thức nguyên thủy về tự nhiên (truyền thuyết Ao Bà Om, giếng anh giếng chị, sự tích sấm sét, Neak Ta...).

Câu hỏi thường gặp

1. Người Khmer vùng ĐBSCL phân loại và định danh đất đai trong sản xuất và đời sống như thế nào?
Trong ngôn ngữ và quan niệm dân gian, người Khmer gọi đất là đây (ដី). Trong canh tác, đất sản xuất nông nghiệp được gọi là đây phol lít (ដីផលិត); đất dùng trong nghề thủ công gốm sứ gọi là đây k-nông sil-lặk-pắc hách-tặc-căm (ដីក្នុងសិល្បៈហត្ថកម្ម). Đất đai gắn liền với yếu tố tâm linh (đây k-nông chùm nưa, tùm niêm tùm lóp - ដីក្នុងជំនឿ, ទំនៀមទម្លាប់) thông qua sự tôn kính vị thần bảo hộ đất đai Neak Ta.

2. Nước (tứk) mang những ý nghĩa biểu tượng và chức năng gì trong đời sống tâm linh của người Khmer?
Người Khmer quan niệm nước (tứk - ទឹក) không chỉ là nguồn gốc nuôi dưỡng sự sống mà còn mang ý nghĩa thanh khiết và có chức năng thanh tẩy, tẩy trần tà khí. Ý niệm này được biểu hiện rõ nét qua các nghi thức tắm Phật, tắm Sư, té nước chúc phúc trong tết Chôl Chnăm Thmây, các nghi lễ cầu nước, đưa nước và lễ hội đua ghe Ngo trong dịp Ok Om Bok.

3. Địa hình cư trú đặc trưng của người Khmer tại ĐBSCL được phân bố ở những tiểu vùng nào?
Theo khảo sát của luận án, người Khmer ĐBSCL tập trung sinh sống chủ yếu ở hai tiểu vùng sinh thái: tiểu vùng Giồng duyên hải (các giồng cát cao ven biển tại tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng) và tiểu vùng Ngập hở thuộc Tứ giác Long Xuyên (khu vực đồng bằng phù sa ven núi tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, tỉnh An Giang).

4. Vai trò của chùa Khmer và tầng lớp chức sắc (Sư, Achar) trong việc giáo dục môi trường được đề cập ra sao?
Ngôi chùa Khmer (Wot) được xây dựng như một tiểu vùng sinh thái xanh với các rặng cây sao, dầu, thốt nốt. Luận án chỉ ra rằng các vị Sư sãi và Achar là những người nắm giữ uy tín tinh thần tối cao trong phum sóc; do đó, việc phát huy vai trò thuyết giáo và định hướng của lực lượng này là giải pháp mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và ứng phó BĐKH trong cộng đồng.


Kết luận

Luận án của tác giả Lê Thúy An đã giải quyết một cách có hệ thống các câu hỏi nghiên cứu về văn hóa ứng xử với MTTN của người Khmer vùng ĐBSCL trên cơ sở thuyết sinh thái văn hóa và thuyết chức năng. Công trình làm rõ các thực hành thích nghi truyền thống đối với đất, nước, thời tiết và sinh giới, đồng thời ghi nhận chân thực các biến đổi trong sinh kế và nhận thức của người dân trước tác động của biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và nguồn tư liệu điền dã có giá trị cao cho công tác nghiên cứu văn hóa tộc người và quản lý phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ.