Luận án tiến sĩ văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người khmer vùng đồng bằng sông cửu long

Tài liệu chuyên sâu Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng

Trường đại học

Trường Đại học Trà Vinh

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

210
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận

1.3. Công trình của tác giả nước ngoài

1.4. Công trình của các tác giả trong nước

1.5. Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn

1.6. Công trình của các tác giả nước ngoài

1.7. Công trình của các tác giả trong nước

1.8. Một số khái niệm

1.9. Môi trường tự nhiên (environment)

1.10. Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên

1.11. Lý thuyết nghiên cứu

1.12. Thuyết sinh thái văn hoá (cultural ecology)

1.13. Thuyết chức năng (functionalism)

1.14. CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.15. Môi trường cư trú và phân bố dân cư của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

1.16. Môi trường cư trú của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

1.17. Phân bố dân cư của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

1.18. Văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long

1.18.1. Văn hoá vật thể

1.18.2. Văn hoá phi vật thể

2. CHƯƠNG 2: VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI ĐẤT VÀ NƯỚC CỦA NGƯỜI KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1. VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI ĐẤT

2.1.1. Quan niệm về đất (ដី = đây) và phân loại đất

2.1.1.1. Quan niệm về đất
2.1.1.2. Phân loại đất
2.1.1.3. Đất sản xuất (ដីផលិត = đây phol lít)
2.1.1.4. Đất trong nghề thủ công (ដក្ ី ន ុ ង្សិលបៈហតថ ក្ម្ម = đây k-nông sil-lặk-pắc hách-tặc-căm)
2.1.1.5. Đất thể hiện qua tín ngưỡng, phong tục (ដក្ k-nông chùm nưa, tùm niêm tùm lóp)

2.2. VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI NƯỚC

2.2.1. Quan niệm về nước (ទឹក្=tứk)

2.2.2. Nước là nguồn gốc của sự sống

2.2.3. Nước có ý nghĩa trong sạch, có chức năng thanh tẩy

2.2.4. Nước sinh hoạt (ទឹក្ន្បើ្ាស់ = tứk p-rơ p-rá)

2.2.5. Nước trong sản xuất (ទឹក្ក្នុង្ផលិតក្ម្ម = tứk k-nông phol-lít-tặt căm)

2.2.6. Ứng xử với thiếu nước

2.2.7. Ứng xử với dư nước

2.2.8. Ứng xử với nước phèn, nước mặn

2.2.9. Ứng xử với nước thể hiện trong tín ngưỡng, phong tục, lễ hội (ទឹក្ក្នុង្ជំននឿ, ទំននៀម្ទម្លាប់,បុណ្យទាន = tứk k-nông chùm nưa, tùm niêm tùm lóp, bonh tean)

2.2.10. Yếu tố thanh tẩy

2.2.11. Lễ nghi cầu nước, đưa nước

2.2.12. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI THỜI TIẾT, ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT CỦA NGƯỜI KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

3.1. VĂN HOÁ ỨNG XỬ THỜI TIẾT (ធាតុអាកាស = thiêch à cás)

3.1.1. Đặc điểm thời tiết vùng đồng bằng sông Cửu Long

3.1.2. Ứng xử với thời tiết mùa khô

3.1.3. Ứng xử với thời tiết mùa mưa

3.2. VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT

3.2.1. Đặc điểm động vật, thực vật ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

3.2.2. Văn hoá khai thác và tận dụng động vật, thực vật

3.2.2.1. Khai thác và tận dụng động vật
3.2.2.2. Khai thác và tận dụng thực vật

3.2.3. Động vật, thực vật trong đời sống tâm linh

3.2.3.1. Tín ngưỡng liên quan đến động vật
3.2.3.2. Tín ngưỡng liên quan đến thực vật

4. CHƯƠNG 4: VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI VÀ NHỮNG BÀN LUẬN

4.1. MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY

4.1.1. Biến đổi trong văn hoá ứng xử với đất

4.1.2. Biến đổi trong ứng xử với đất trong văn hoá vật thể

4.1.3. Biến đổi trong ứng xử với đất trong văn hoá phi vật thể

4.1.4. Biến đổi trong văn hoá ứng xử với nước

4.1.5. Biến đổi trong văn hoá ứng xử với cây trồng, vật nuôi

4.1.5.1. Biến đổi trong văn hoá ứng xử với cây trồng
4.1.5.2. Biến đổi trong văn hoá ứng xử với vật nuôi

4.1.6. Biến đổi trong ứng xử với thời tiết

4.2. MỘT SỐ XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI PHƯƠNG THỨC SINH KẾ ĐỂ THÍCH NGHI VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY

4.2.1. Chuyển đổi trong kĩ thuật nuôi trồng

4.2.2. Chuyển đổi phương thức sinh kế

4.3. MỘT VÀI VẤN ĐỀ ĐẶT RA

4.3.1. Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường tự nhiên trong cộng đồng Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

4.3.2. Phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu

4.3.3. Phổ biến kiến thức pháp luật về môi trường tự nhiên

4.3.4. Phát huy hơn nữa vai trò của chức sắc và những trí thức có uy tín trong cộng đồng Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: NHẬT KÍ ĐIỀN DÃ

PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH ĐIỀN DÃ

PHỤ LỤC 3: CÁC TRUYỆN DÂN GIAN KHMER

Tóm tắt

I. Giới thiệu về văn hóa Khmer và môi trường tự nhiên

Văn hóa Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một phần quan trọng trong bức tranh văn hóa đa dạng của Việt Nam. Người Khmer đã sống và phát triển trong môi trường tự nhiên phong phú, nơi có hệ sinh thái đa dạng với đất, nước, động thực vật phong phú. Môi trường tự nhiên không chỉ là nơi cư trú mà còn là nguồn sống, ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong đời sống văn hóa của người Khmer. Họ đã phát triển những phong tục tập quán đặc trưng để ứng xử với môi trường tự nhiên, từ việc canh tác nông nghiệp đến các nghi lễ tôn giáo. Những giá trị văn hóa này không chỉ phản ánh sự thích nghi mà còn thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên. Theo nghiên cứu, người Khmer có những quan niệm sâu sắc về đất và nước, coi chúng là nguồn sống và là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng.

1.1. Đặc điểm văn hóa Khmer

Văn hóa Khmer được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử, với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú. Văn hóa dân gian của người Khmer thể hiện qua các truyền thuyết, lễ hội và phong tục tập quán. Những yếu tố này không chỉ tạo nên bản sắc văn hóa mà còn giúp người Khmer thích nghi với môi trường tự nhiên. Các nghi lễ tôn giáo, như lễ hội Ok-Om-Bok, không chỉ mang tính tâm linh mà còn thể hiện sự gắn kết với môi trường tự nhiên. Người Khmer tin rằng việc tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên sẽ mang lại sự thịnh vượng cho cộng đồng.

II. Ứng xử với đất và nước

Người Khmer có những quan niệm đặc biệt về đất và nước, coi chúng là những yếu tố sống còn trong đời sống hàng ngày. Ứng xử với môi trường tự nhiên của người Khmer thể hiện qua các hoạt động nông nghiệp, nơi họ áp dụng những kinh nghiệm dân gian để canh tác hiệu quả. Họ phân loại đất thành nhiều loại khác nhau, từ đất sản xuất đến đất trong nghề thủ công, và có những phương pháp canh tác phù hợp với từng loại đất. Nước cũng được xem là nguồn sống, không chỉ trong sinh hoạt mà còn trong sản xuất. Người Khmer có những nghi lễ cầu nước, thể hiện sự tôn trọng và cầu mong sự phong phú từ môi trường tự nhiên. Những phong tục này không chỉ giúp họ duy trì cuộc sống mà còn bảo vệ môi trường tự nhiên.

2.1. Quan niệm về đất

Đất được người Khmer xem như một phần thiêng liêng, là nơi nuôi sống họ. Họ có những cách phân loại đất rất chi tiết, từ đất sản xuất đến đất trong các hoạt động thủ công. Những quan niệm này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về môi trường tự nhiên mà còn tạo ra những phương pháp canh tác bền vững. Việc bảo vệ đất cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, từ đó duy trì sự phát triển bền vững cho cộng đồng.

2.2. Quan niệm về nước

Nước được coi là nguồn gốc của sự sống, có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của người Khmer. Họ có những nghi lễ cầu nước, thể hiện sự tôn trọng đối với môi trường tự nhiên. Nước không chỉ phục vụ cho sinh hoạt mà còn là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp. Người Khmer đã phát triển những phương pháp quản lý nước hiệu quả, giúp họ ứng phó với những biến đổi của môi trường tự nhiên.

III. Biến đổi trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, văn hóa ứng xử của người Khmer với môi trường tự nhiên đang có những thay đổi đáng kể. Những hiện tượng như nước nhiễm mặn, nhiễm phèn, và sự thay đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến cách thức canh tác và sinh hoạt của họ. Người Khmer đã bắt đầu áp dụng những kỹ thuật mới trong nông nghiệp, chuyển đổi cây trồng và vật nuôi để thích ứng với môi trường tự nhiên đang biến đổi. Những thay đổi này không chỉ phản ánh sự thích nghi mà còn thể hiện sự sáng tạo trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên.

3.1. Thay đổi trong ứng xử với đất

Người Khmer đã có những thay đổi trong cách ứng xử với đất, từ việc áp dụng các phương pháp canh tác truyền thống đến việc áp dụng công nghệ mới. Những thay đổi này giúp họ tăng năng suất và bảo vệ môi trường tự nhiên. Việc chuyển đổi cây trồng cũng là một trong những biện pháp quan trọng để thích ứng với biến đổi khí hậu.

3.2. Thay đổi trong ứng xử với nước

Ứng xử với nước cũng đã có những biến đổi lớn. Người Khmer đã phải tìm ra những giải pháp mới để quản lý nước, đặc biệt trong bối cảnh nước nhiễm mặn và nhiễm phèn. Những nghi lễ cầu nước vẫn được duy trì, nhưng bên cạnh đó, họ cũng áp dụng những phương pháp mới để bảo vệ và sử dụng nước hiệu quả hơn, từ đó bảo vệ môi trường tự nhiên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Từ trước đến nay, MTTN của một tộc người là đối tượng tiếp cận nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn như dân tộc học, nhân học, văn hóa học, tâm lý học, văn học,. và trong bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay, việc nghiên cứu về ứng xử với tự nhiên càng trở nên cấp thiết hơn nữa. Dưới góc tiếp cận liên ngành, ngoài việc tiếp cận các tài liệu được nghiên cứu của ngành văn hóa học chúng tôi còn tiếp cận tài liệu của các ngành nhân học, văn học để có cách nhìn tổng quát và hệ thống về vấn đề nghiên cứu.

Với khối lượng công trình đã được tiếp cận khá lớn, chúng tôi nhóm lại thành hai nhóm là những công trình nghiên cứu lý luận và những công trình nghiên cứu thực tiễn. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận 1. Công trình của tác giả nước ngoài Để phục vụ nhu cầu nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam, các Trung tâm, Viện nghiên cứu văn hoá đã tổ chức dịch các công trình của các tác giả nước ngoài như năm 2001 Viện Thông tin Khoa học Xã hội thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia đã dịch các nghiên cứu của các nhà văn hoá học, nhân học, xã hội học trên thế giới như: White. với tựa đề công trình là Văn hoá học và văn hoá thế kỉ XX (Viện Thông tin Khoa học Xã hội , 2011).

Viện Văn hóa – Thông tin cũng đã tuyển chọn và dịch một số công trình của các tác giả nước ngoài như: A. Radughin (chủ biên) (2004) Văn hóa học những bài giảng; Nhiều tác giả (2007), Văn hóa học – Những phương pháp nghiên cứu; Chris Barker (2011) Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành. Các công trình này đã cung cấp các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cần thiết cho luận án, nhất là phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được vận dụng trong luận án (Radughin, 2004); (Nhiều tác giả , 2007); (Barker, 2011). Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiếp cận các công trình lý thuyết và phương pháp của ngành nhân học giúp bổ trợ cho công trình nghiên cứu như: H.

Russel Bernard 7 luan an (2009), Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học – tiếp cận định tính và định lượng; R. Nhóm tài liệu về lý thuyết và phương pháp của các tác giả nước ngoài này đã được chúng tôi tiếp cận kế thừa về phương pháp định tính, tham dự và phỏng vấn cộng đồng. Các lý thuyết được áp dụng trong luận án cũng được kế thừa từ các công trình này như lý thuyết sinh thái học văn hoá, lý thuyết chức năng. Tóm lại, các tài liệu này đã cung cấp cho chúng tôi những lý thuyết và phương pháp tiếp cận liên ngành phù hợp với đề tài.

Công trình của các tác giả trong nước Nghiên cứu về MTTN vùng ĐBSCL, chúng tôi đã có điều kiện tiếp cận quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Đây là một bộ sử liệu có giá trị cao về lịch sử, địa lí và văn hóa Nam Bộ. Tập sách là những ghi chép và mô tả tỉ mỉ về núi sông, khí hậu cùng các phong tục tập quán, tính cách sinh hoạt của cư dân cùng các địa danh xưa ở Nam Bộ. Mặc dù không gian nghiên cứu của luận án chỉ tập trung ở ĐBSCL (còn gọi là Tây Nam Bộ) nhưng đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi tham khảo để nghiên cứu không gian địa lý và không gian văn hóa của luận án (Trịnh Hoài Đức, tái bản lần thứ 1 năm 2016).

Lê Bá Thảo là tác giả có nhiều nghiên cứu về thiên nhiên Việt Nam nói chung và thiên nhiên ĐBSCL nói riêng. Hai công trình được chúng tôi tiếp cận tham khảo là Địa lý đồng bằng sông Cửu Long (1986) và Thiên nhiên Việt Nam (2002) và. Các công trình này không chỉ dừng lại ở mô tả tự nhiên khí hậu, địa lý Nam Bộ mà còn đề cập đến văn hóa ứng xử của người Nam Bộ với MTTN (Lê Bá Thảo, 1986); (Lê Bá Thảo, 2009). Nguyễn Xuân Kính là tác giả đã có những nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người, môi trường và văn hóa.

Quyển Con người môi trường và văn hóa của tác giả Nguyễn Xuân Kính được xuất bản năm 2003 là tập hợp các bài viết của tác giả, trong đó có nội dung “Con người và môi trường”, tác giả đã chia ra thành ba loại môi trường: môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn, môi trường xã 8 luan an hội. Bài viết giúp chúng tôi có cái nhìn về mối quan hệ giữa con người và môi trường, phân biệt được sự khác nhau giữa môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn và môi trường xã hội. Con người sống trong môi trường, tác động vào môi trường và có thể làm biến đổi môi trường (Nguyễn Xuân Kính, 2003). Ngô Văn Lệ với công trình Một số vấn đề văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á xuất bản năm 2003 là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa tộc người.

Với cách tiếp cận nhân học văn hóa, tác giả có cái nhìn khái quát về đặc trưng văn hóa của người Việt và các tộc người thiểu số ở Nam Bộ cũng như đặc trưng văn hóa của cư dân Đông Nam Á. Điểm cốt lõi để chúng tôi kế thừa công trình này là tác giả chú trọng đến mối liên hệ phát triển của hệ sinh thái và tộc người. Cùng với cách tiếp cận nhân học văn hóa và tư liệu điền dã, đây là một trong những tài liệu quý giá giúp chúng tôi có thêm nguồn tham khảo cho luận án (Ngô Văn Lệ, 2003). Công trình Nhân học văn hóa - con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên của tác giả Vũ Minh Chi xuất bản năm 2004 ngoài việc trình bày đối tượng, phương pháp nghiên cứu của nhân học văn hóa còn phân tích mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái.

Để tồn tại, con người có những cách ứng xử khác nhau với MTTN và từ đó hình thành những nét văn hóa riêng biệt. Đây là quan điểm rất quan trọng được chúng tôi tiếp cận, kế thừa trong nghiên cứu về ứng xử với MTTN của người Khmer ở vùng ĐBSCL (Vũ Minh Chi, 2004). Tác giả Trần Quốc Vượng với quyển Môi trường con người & Văn hóa xuất bản năm 2005 là tập hợp tất cả bài viết về vấn đề sinh thái văn hóa. Bằng cách tiếp cận lịch sử - văn hóa, địa - văn hóa tác giả đã mang đến nhiều đóng góp khi nghiên cứu về vấn đề môi trường qua các vùng miền ở Việt Nam.

Có thể kể đến các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài như: Triết lý môi trường; Khảo cổ - văn hóa - môi trường sinh thái; Yếu tố nước trong văn hóa Việt Nam; Di tích và môi trường; Người Đông Sơn và môi trường sinh thái Đông Sơn; Văn hóa biển và sông nước ở (Phía Bắc) miền Trung Việt Nam, một cái nhìn sinh thái nhân văn; Nam Bộ, các tiểu vùng sinh thái khảo cổ - nhân văn và huyền tích khởi nguyên luận, v. Công trình Văn hóa sinh thái – nhân văn (giáo dục môi trường) xuất bản năm 2005 của tác giả Trần Lê Bảo là công trình nghiên cứu văn hóa sinh thái dưới cách tiếp cận cấu trúc chức năng. Tác giả chia môi trường sinh thái – tự nhiên thành các thành tố: nước; không khí; động vật, thực vật; đất đai; đồng thời, tác giả có sự quan tâm đến 9 luan an văn hóa ứng xử với môi trường sinh thái, giáo dục văn hóa sinh thái ở Việt Nam hiện nay (Trần Lê Bảo, 2005). Chúng tôi còn được tiếp cận công trình Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng (2013) là một công trình mang tính hệ thống về lý thuyết nghiên cứu văn hóa học của tác giả Trần Ngọc Thêm.

Trong đó, tác giả nghiên cứu vấn đề lý luận văn hóa học có đề cập đến nước và văn hóa nước. Dưới góc tiếp cận hệ thống cấu trúc, tác giả chia văn hóa nước thành: văn hóa tận dụng nước, văn hóa đối phó với nước, văn hóa lưu luyến nước và văn hóa sùng bái nước. Tác giả đã nhìn nhận sâu sắc, toàn diện về nước trong đời sống văn hóa con người. Cũng trong công trình này, tác giả có nghiên cứu cụ thể về vấn đề “Nước, Văn hóa và hội nhập”.

Tác giả nêu lên một số quan điểm về nước và văn hóa nước từ đó đưa ra một số nhận định về văn hóa nước và ảnh hưởng của nước đến tâm thức người Việt. Tất cả kết quả nghiên cứu trên giúp chúng tôi có thêm điểm nhìn về văn hóa nước của Việt Nam trong cái nhìn hệ thống loại hình (Trần Ngọc Thêm, 2013). Tiếp nối với lý thuyết hệ thống - loại hình, vào năm 2013 Trần Ngọc Thêm đã công bố công trình Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do tác giả chủ biên. Công trình tập hợp nhiều bài viết một cách hệ thống về văn hóa nhận thức, văn tổ chức, văn hóa ứng xử với tự nhiên và xã hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ và đây là nguồn tài liệu giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh với văn hóa ứng xử với MTTN của người Khmer (Trần Ngọc Thêm (chủ biên) , 2013).

Để phục vụ cho tra cứu các tư liệu về không gian văn hóa ĐBSCL, chúng tôi còn sử dụng tư liệu từ các công trình dưới dạng biên khảo, bút kí của Sơn Nam và Vương Hồng Sển. Các tác phẩm đã phản ánh không gian cư trú, không gian sinh hoạt của người Khmer ở ĐBSCL như Sơn Nam, 1998: Đồng bằng sông Cửu Long; Sơn Nam, 2005: Tìm hiểu đất Hậu Giang & Lịch sử đất An Giang; Sơn Nam, 2007: Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa; Vương Hồng Sển, 2012: Di cảo Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang, Ba Thắc. Thông qua các tác phẩm này chúng tôi nhận diện được nhiều tri thức dân gian, kinh nghiệm dân gian của người Nam Bộ trong đời sống văn hóa vật thể như ăn uống, nhà cửa, đi lại và trong đời sống văn hóa phi vật thể như lễ tục, tín ngưỡng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Lê Thúy An, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phan An và PGS. Nguyễn Xuân Hương, được thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các giá trị văn hóa ứng xử của người Khmer đối với môi trường tự nhiên, từ đó làm nổi bật mối liên hệ giữa văn hóa và bảo vệ môi trường trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà văn hóa ảnh hưởng đến hành vi bảo vệ môi trường mà còn mở ra những hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học và sinh viên trong lĩnh vực văn hóa học và môi trường. Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến môi trường, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Moka tại KCN Đông Mai, Quảng Ninh, nơi phân tích tác động của các dự án công nghiệp đến môi trường, hay Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường từ trang trại chăn nuôi lợn tại xã Yên Giang, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, nghiên cứu về ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực nông nghiệp. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường cho dự án khu đô thị sinh thái Dream City tại Hưng Yên, một tài liệu liên quan đến quy hoạch và phát triển bền vững trong môi trường đô thị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường.