mở đầu bằng phần lễ và đám rước trở thành nghi thức chủ đạo trong ngày hội. Hội bao giờ cũng có nhiều trò vui, xuất phát từ cuộc sống lao động sản xuất, ước mơ của con người về cuộc sống tươi đẹp. Nó có khả năng cân bằng nhu cầu tâm lí nhằm giải tỏa bớt đi những căng thẳng vốn có của mỗi thành viên đến với hội. Từ sự trình bày và phân tích trên đây cho thấy lễ hội có những đặc trưng là: Thứ nhất, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo của một cộng đồng dân cư trong một thời kỳ lịch sử nhất định.
Lễ hội truyền thống là sinh hoạt của cộng đồng làng xã, diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian đã được xác định. Lễ hội thường được diễn ra vào dịp đầu năm vào xuân để cầu mong cho một năm tốt đẹp. Thứ hai, lễ hội là một chỉnh thể thống nhất biện chứng, trong lễ có hội, trong hội có lễ. Bởi vì, khi tiến hành nghi lễ ở đình, chùa, phủ, đền, miếu đồng thời là lúc hội được bắt đầu, mỗi thành viên trong làng tham gia trẩy hội, họ đều hướng tới ước muốn cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, đất nước bình an, nhân khang vật thịnh.
Thứ ba, không gian lễ hội rất gần gũi với đời sống thường ngày được gắn với trời, đất, núi, sông, rừng, biển; cộng đồng dân cư làng, và các thiết chế như đình, chùa, miếu, phủ. 14 Thứ tư, lễ hội là hoạt động được tổng hoà từ nhiều các hoạt động văn hoá khác nhau được cộng đồng thể hiện mang tính xã hội cao. Chủ thể quản lý lễ hội là nhà nước, kết hợp với sự điều hành trực tiếp của chính quyền sở tại. Như vậy lễ hội có sự ràng buộc khăng khít và có tác động lẫn nhau xoắn xuýt hữu cơ vào nhau, không thể tách rời nhau, được người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng.
Lễ hội truyền thống Khi nghiên cứu về lễ hội truyền thống, tác giả Lê Trung Vũ đã viết: Về nội dung giới hạn ở lễ hội cổ truyền hay nói đúng hơn là lễ hội truyền thống, lễ hội của một cộng đồng làng được dùng với nghĩa gần như tương đương với nhau. Lễ hội lấy làng làm đơn vị xã hội cơ bản của cộng đồng dân tộc [25, tr.43] Hội làng Tác giả còn quan niệm: Hội làng là một sinh hoạt văn hóa - xã hội - tôn giáo -nghệ thuật đặc sắc của cộng đồng người làng.Hội làng phải hiểu làng với vai trò chức năng văn hóa, lịch sử, địa lí và giá trị của nó trong đời sống tâm linh của người làng.443] Trong Hán-Việt từ điển bách khoa, tác giả Đào Duy Anh đã định nghĩa truyền thống như sau: “Thống gồm có nghĩa là mối tỏ, đường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa “Đời nọ truyền xuống đời kia” [2, tr 13]. Tác giả Nguyễn Chí Bền trong cuốn Lễ hội cổ truyền của người Việt cấu trúc và thành tố thì cho rằng: “Lễ hội truyền thống là sinh hoạt của cộng đồng làng xã diễn ra trong một khoảng thời gian và trong một không gian đã được xác định một cách hữu thức. 15 Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp được các thế hệ sau nối tiếp nhau.
Lễ hội truyền thống là một thành tố quan trọng được tổ chức theo giai đoạn lịch sử khác nhau. Lễ hội truyền thống, lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian là đã được tồn tại từ đời này qua đời khác. Nó được hình thành và tồn tại từ cộng đồng, dân tộc nào đó do vậy “lễ hội truyền thống”, “lễ hội cổ truyền” “lễ hội làng” hay “lễ hội dân gian” là tương đối đồng nhất với nhau khi nói về lễ hội. Đã có nhiều quan điểm khác nhau về lễ hội truyền thống, tùy thuộc vào các nhà nghiên cứu tiếp cận ở các khía cạnh khác nhau.
Nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đều cho rằng lễ hội truyền thống có tính chất hai mặt trong một chỉnh thể thống nhất. Lễ hội truyền thống gồm các hành vi nghi thức và những hoạt động văn hóa để minh họa cho các hành vi nghi lễ. Sự linh thiêng của lễ hội có thể đánh giá bằng số người đến dự hội. Lễ hội truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến của cộng đồng cư dân nông nghiệp nước ta.
Tính nguyên hợp của lễ hội thể hiện ở chỗ: Lễ hội vừa là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng các vị thần linh, vừa là hoạt động vui chơi giải trí, là sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất. Lễ hội truyền thống đã được nhận diện là một thành tố quan trọng của loại hình di sản văn hóa phi vật thể nằm trong kho tàng di sản văn hóa chung của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, lễ hội truyền thống còn được tổ chức ở các di tích lịch sử - văn hóa, là các thiết chế văn hóa lâu đời tại các làng xã như các ngôi đình, đền, miếu, chùa, chiền. mà các di tích này lại thuộc thành phần của các di sản văn hóa vật thể.
Điều đó đã nói lên mối quan hệ khăng khít giữa di sản văn hóa phi vật thể với di sản văn hóa vật thể, được thể hiện rõ nét trong không gian văn hóa tâm linh của các lễ hội truyền thống ở nước ta. Như vậy, có thể hiểu lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn 16 hóa lịch sử được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phong tục tập quán. Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá tình lịch sử, là sự thể hiện truyền thống quý báu “uống nước nhớ nguồn” của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “ thần”, “thành hoàng làng” những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại. Khái niệm “lễ hội truyền thống” hay “lễ hội cổ truyền” dùng với nghĩa gần như tương đương với nhau.
Truyền thống hay cổ truyền thật ra đó là hai thuật ngữ Hán -Việt dùng để nói về cùng một đối tượng lấy làng làm đối tượng cơ bản. Như vậy “lễ hội làng Duyên Phúc xã Khánh Hồng, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình” đã được tồn tại trong dân gian từ lâu và truyền từ đời nọ sang đời kia được trình bày trong bài luận văn có thể hiểu là “lễ hội truyền thống” Cấu trúc của lễ hội Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của lễ hội, cho đến nay vẫn chưa có quan điểm chung thống nhất. Theo quan niệm thông thường thì lễ hội bao gồm 2 phần, phần lễ và phần hội. Vì vậy, để làm cho lễ hội phù hợp với cuộc sống đương đại, cần lược bỏ những nội dung không phù hợp, bổ xung những nội dung mới có nội dung lành mạnh, tiến bộ.
Tác giả Nguyễn Chí Bền cho rằng, lễ hội của người Việt bao gồm ba bộ phận hợp thành: Nhân vật phụng thờ; các thành tố hiện hữu và các thành tố tàng ẩn nhưng hiện hữu trong thời gian thiêng. Trong đó, nhân vật phụng thờ là thành tố quan trọng nhất trong cấu trúc của một lễ hội truyền thống của người Việt, quyết định sự tồn tại của các thành tố và diện mạo cấu trúc của lễ hội truyền thống. Nhân vật phụng thờ tồn tại tàng ẩn trong tiềm thức, ký ức của các thế hệ, trong huyền thoại, 17 song lại hiện hữu trong thần tích lưu giữ ở di tích từ đời này qua đời khác và hầu hết bằng chữ Hán. Các thành tố hiện hữu gồm: Nơi sinh/nơi hóa (thường là nghè / miếu); di tích (Đình, đền, miếu, chùa, phủ, lăng); tượng thờ; sắc phong; câu đối; hoành phi; bát bửu.
Các thành tố này của lễ hội truyền thống là hiện hữu, là vật thể tồn tại trong một không gian vật chất hữu hình, mà ngày nay theo quan niệm của UNESCO và Luật Di sản văn hóa, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa là di sản văn hóa phi vật thể. Các thành tố tàng ẩn nhưng hiện hữu trong thời gian thiêng. Khác với các thành tố hiện hữu, lễ hội truyền thống có những thành tố không hiện hữu trong thời gian bình thường, trong thường ngày, mà chúng chỉ nên hiện hữu một cách sống động trong thời gian thiêng, trong ngày lễ hội. Đó là các thành tố: Huyền thoại về nhân vật phụng thờ; trò diễn; trò chơi; nghi lễ/nghi thức thờ cúng; lễ vật; văn tế; các kiêng ky [5, tr 25-26].
Ba bộ phận của lễ hội nói trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự tồn tại của thành tố này chi phối sự tồn tại của thành tố kia và ngược lại. Song trong mỗi bộ phận ấy lại bao gồm nhiều thành tố khác nhau, mỗi thành tố chỉ có giá trị khi tồn tại trong hệ thống này, nhưng là một cấu trúc mở, có thể thêm vào những thành tố mới, miễn sao chúng có giá trị, ý nghĩa khi tồn tại trong hệ thống này. Quản lý, quản lý lễ hội Quản lý Quản lý, trước hết là một hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích xác định.
Muốn cho đất nước phát triển đúng hướng và ổn định, nhà nước phải thực hiện quản lý trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Trong quản lý nhà nước về 18 văn hóa có nhiều lĩnh vực khác nhau và lễ hội là một lĩnh vực không thể thiếu được sự quản lý của nhà nước. Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là: “Tổ chức và điều khiển hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [27, tr. Theo nghĩa Hán Việt: “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đề ra” [23, tr.
Quản lý nhấn mạnh đến vai trò của người đứng đầu một bộ phận hoặc một đơn vị. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý. Chẳng hạn, tác giả H.Faylo cho rằng: “Quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”[54, tr. Như vậy, quản lý là nhu cầu tất yếu của xã hội khi bước vào văn minh, là quá trình chủ thể quản lý thực hiện nhiệm vụ tổ chức, điều hành xã hội theo những chuẩn quy định của luật pháp và phong tục, tập quán, nhằm đạt được mục tiêu đề ra.