Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA NGƯỜI VIỆT XỨ THANH, CA KHÚC VỀ THANH HÓA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình mang tính lý luận về cách tiếp cận của nghiên cứu văn hóa dân gian Công trình Nghiên cứu folklore Mĩ của Jan Harold Bruvand, xuất bản lần đầu vào năm 1968 và lần thứ hai năm 1985, là một công trình nghiên cứu cơ bản về văn hóa dân gian được đánh giá cao, là cuốn sách hàng đầu được chọn làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên và cho các khóa học về folklore. Trong công trình tác giả đưa ra định nghĩa, giới thuyết, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân loại và các tiểu loại của folklore… Công trình này đã khẳng định vị trí Jan Harold Bruvand trong giới nghiên cứu folklore Mĩ cũng như trên thế giới.
Trong quá trình nghiên cứu folklore, Jan Harold luôn chú trọng tính nguyên hợp và đề cập đến một khía cạnh rất quan trọng, đó là phương diện đạo lý, trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý của người sưu tầm đối với người cung cấp thông tin và tư liệu của họ… [126]. Về lịch sử phát triển của ngành nghiên cứu văn hóa dân gian, trong bài viết “Văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc”, tác giả Ngô Đức Thịnh viết: Thuật ngữ quốc tế "folklore (phôn-clo)" - Văn hóa dân gian, được W.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ "phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ. của người thời trước". Từ đó đến nay, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái phôn-clo Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái phôn-clo Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp và I-ta-li-a) và trường phái phôn-clo Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học [134].
luan an 12 Ở Việt Nam, thuật ngữ "phôn-clo" đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là "văn học dân gian", "văn nghệ dân gian" và nay là "văn hóa dân gian". Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm phôn-clo từ các trường phái khác nhau trên thế giới [134]. Cuốn Image - Music - Text (Hình ảnh - Âm nhạc - Văn bản) tập hợp các bài tiểu luận lớn của Roland Barthes về phân tích cấu trúc của tự sự và về các vấn đề trong lý thuyết văn học, về ký hiệu học của nhiếp ảnh và phim, về thực hành âm nhạc và giọng nói. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã mô tả hình thức thể hiện trong âm nhạc dân gian là một loại thanh nhạc được đặc trưng bởi âm lượng giọng hát và giọng nói, không gian mà ý nghĩa phát sinh “từ trong tiếng nói và bối cảnh tình cảm của nó” và nó được định vị ở cổ họng, lưỡi và răng… [125].
Năm 2006, Viện Văn hóa - Thông tin (nay là Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam) tổ chức hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ ở Bắc Ninh). Hội thảo thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về âm nhạc dân gian trên thế giới như Marina Roseman, Oshio Satomi, Bountheng Souksavatd… Học giả Max Peter Baurmann, đến từ trường Đại học Bamberg - Cộng hòa liên bang Đức, có bài viết “Di sản văn hóa phi vật thể - các truyền thống truyền miệng, tính đa dạng và bản thuyết trình toàn cầu về sự hiểu biết liên văn hóa. Ông đã đưa ra quan niệm: “… Lịch sử của truyền thống âm nhạc dân gian vì thế trước hết là lịch sử của sự thờ ơ. Đồng thời nó luôn là lịch sử của việc trau dồi những giá trị truyền thống tưởng tượng, của sự kính trọng hay vô lễ đối với những biểu đạt của dân tộc cũng như cuộc đấu tranh để được thừa nhận bởi những người ngoài cuộc và những nhóm chi phối họ” [73, tr.
luan an 13 Về tư liệu nghiên cứu văn hóa dân gian trước cách mạng tháng Tám phải kể đến công trình của Nguyễn Văn Huyên. Luận án tiến sĩ Hát đối đáp của nam nữ thanh niên An Nam (Les chants alternés des garcons et de s filles en Annam) năm 1932 là một công trình tổng hợp về ngôn ngữ, dân tộc, âm nhạc, sử học, văn học dân gian… “ Có chương chuyên nghiên cứu nhạc cụ, lời hát dân gian trong các ngày hội lễ. Có chương chuyên phân tích phân tích các kết cấu của từng thể ca trong lời hát đối đáp”… Sách đề cập đến tài ứng tác văn chương của người bình dân, so sánh các lễ hội giao duyên ở nước ta với các lễ hội giao duyên ở Lào, Thái, Tây Tạng Trung Quốc… [48, tr. Tác giả Đinh Gia Khánh được giới nghiên cứu văn hóa dân gian đánh giá là đã “đặt nền móng cho sự phát triển của ngành folklore học Việt Nam” với công trình Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian xuất bản năm 1989.
Một trong những đóng góp quan trọng của cuốn sách là giới thuyết khái niệm “văn hóa dân gian”. Tác giả là người đầu tiên đưa ra “tính chất nguyên hợp” của văn hóa dân gian và phân tích các thành tố cơ bản của nó như nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian và nghệ thuật ngữ văn dân gian. Ông cũng viết về sinh hoạt văn hóa dân gian; các vấn đề lớn của văn hóa dân gian như: lịch sử, lý luận, phương pháp luận trong nghiên cứu văn hóa dân gian; vai trò của folklore học Việt Nam hiện nay trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới… [33]. Theo ông, tác phẩm folklore tồn tại và vận động như một chỉnh thể nguyên hợp.
Vì vậy, cần tiếp cận nó theo hướng tiếp cận chỉnh thể. Chỉnh thể ấy được cảm thụ bằng tất cả các giác quan trong cùng một lúc. Ông cho rằng: “Tác phẩm folklore trong cùng một lúc tác động vào thị giác, vào thính giác, vào cảm xúc nhịp điệu. Tác phẩm folklore lại có mối quan hệ hữu cơ với môi trường, với sinh hoạt văn hóa, với thế ứng xử và lối ứng xử, với tập tục và truyền thống lâu đời của cộng đồng…” [118, tr.
Để nghiên cứu một tác luan an 14 phẩm folklore thì cần phải phân tích chỉnh thể nguyên hợp ấy ra các thành tố, hơn nữa cần phải phân tích từng thành tố ra các yếu tố nhỏ hơn để có thể đi sâu tìm hiểu nội dung cũng như cấu trúc của từng thành tố nói riêng, của chỉnh thể nguyên hợp nói chung [118, tr. Trong bài viết “Nghiên cứu âm nhạc từ góc độ phôncơlo học”, tác giả Tô Đông Hải cho rằng: “Âm nhạc dân gian là một bộ phận không thể chia cắt nổi của toàn bộ sinh hoạt phôncơlo của một tộc người, một dân tộc. Nó gắn chặt với lễ hội, với múa, với những hoạt động diễn xướng, với nghệ thuật tạo hình, với phong tục, tập quán của tộc người, dân tộc đó” [114, tr. “Trong khi nghiên cứu các loại hình âm nhạc, dân ca của người Việt, chúng tôi thấy hiện tượng gồm 2 bộ phận, 2 yếu tố, 2 đơn vị lại tồn tại không phải trong cao độ của âm thanh, mà ở trong nhịp điệu và tiết tấu của các âm thanh ấy” [114, tr.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng thành phần ngôn từ trong tác phẩm phôncơlo có thể không tồn tại mà không có giai điệu, nhưng nếu giai điệu mà thiếu lời thì không tồn tại… trong sự thống nhất giữa lời ca và giai điệu, yếu tố quyết định thường là phần lời… [114, tr. Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những kiến thức nền tảng, các phạm trù nhận thức, lý thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các khái niệm và thuật ngữ cơ bản rất cần thiết và hữu ích để NCS có thể tham khảo, vận dụng trong quá trình triển khai luận án. Nghiên cứu về dân ca và ca khúc Việt Nam 1. Nghiên cứu về dân ca Việt Nam Hiện nay đã có khá nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đi trước quan tâm tìm hiểu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung, dân ca Việt Nam nói riêng.
NCS chỉ đi sâu phân tích một số công trình nghiên cứu về dân ca Việt Nam có liên quan đến luận án. luan an 15 Với đối tượng nghiên cứu là Việt Nam và mối quan tâm nghiên cứu bao gồm: chính trị, văn hóa, biểu diễn, âm nhạc dân gian, sân khấu, nhân học hình ảnh…, tác giả Lauren Meeker đã đưa ra nhiều vấn đề nghiên cứu mới qua luận án Musical transmissons folk music, mediation and modernity in Northern Vietnam (Sự chuyển tải âm nhạc: âm nhạc dân gian, sự điều chỉnh và quá trình hiện đại hóa ở miền Bắc Việt Nam) (2007). Từ cách tiếp cận nhân học, tác giả xem xét yếu tố diễn xướng trong âm nhạc dân gian, sự trao truyền, kỹ thuật thể hiện…(trong đó có đề cập đến dân ca Việt Nam) [135]. Bài viết “Dân ca Việt Nam - dòng sữa mẹ” [60] của tác giả Tú Ngọc cung cấp một cái nhìn tổng quan về kho tàng dân ca trên khắp đất nước Việt Nam.
Tác giả đã cho độc giả hiểu biết về sự phong phú của các thể loại, sự gắn bó của từng thể loại với môi trường và phương thức diễn xướng cụ thể; cũng như chức năng thực hành xã hội và giá trị nghệ thuật của dân ca. Trong chuyên khảo Tìm hiểu giai điệu dân ca Việt Nam [61] tác giả Tú Ngọc đã giải quyết một cách khoa học các vấn đề: Mối quan hệ giữa ngữ âm tiếng Việt và giai điệu dân ca – sự hình thành những phong cách giai điệu, những hình thái âm điệu đặc trưng, ý nghĩa biểu hiện và vai trò điệu tính của chúng, những phương thức phát triển giai điệu trong dân ca. Bài viết đã cung cấp một cách tiếp cận mới, các kiến thức nền tảng, những khái niệm cơ bản để nghiên cứu dân ca Việt Nam. Công trình nghiên cứu Dân ca Việt Nam những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp của tác giả Lê Văn Chưởng đã sử dụng thuật ngữ dân ca với phương pháp tiếp cận nghiên cứu chỉnh thể.
Tác giả quan niệm dân ca là những bài thơ dân gian được diễn xướng theo nhiều làn điệu, trên nhiều môi trường khác nhau. Do vậy, công trình không những chỉ tiếp cận những bài thơ dân gian mà còn âm nhạc và trình diễn dân gian bởi dân ca vốn là một tổng thể hoàn chỉnh (chỉnh thể) có tính nguyên hợp [12].