Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Hán Nôm với đề tài "Nghiên cứu văn bản tục lệ Hán Nôm làng xã huyện Từ Liêm trước năm 1945" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoàng Yến thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Đinh Khắc Thuân. Luận án thuộc chuyên ngành Hán Nôm, mã số 62 22 01 04.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Huyện Từ Liêm trước năm 1945 là vùng đất cổ giáp kinh thành Thăng Long, có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời. Kho tư liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Khoa học Xã hội hiện lưu giữ khối lượng lớn văn bản tục lệ Hán Nôm của huyện Từ Liêm trải dài gần 300 năm, từ thời Lê Trung hưng đến cuối thời Nguyễn. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về làng xã và hương ước Bắc Bộ nói chung hoặc nghiên cứu đơn lẻ ở một vài làng xã, song chưa có công trình nào khảo cứu toàn diện, có hệ thống toàn bộ di sản văn bản tục lệ Hán Nôm của một đơn vị hành chính cấp huyện như huyện Từ Liêm. Luận án được triển khai nhằm lấp đầy khoảng trống tư liệu và học thuật này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là khảo sát trực tiếp, hệ thống hóa và phân tích toàn diện kho văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm trước năm 1945 nhằm làm rõ đặc điểm hình thức, nội dung và giá trị văn hóa - lịch sử của tục lệ làng xã. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm:

  1. Khảo sát, thống kê và phân loại sự phân bố của các văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm theo trục thời gian lịch sử và không gian địa lý hành chính cấp tổng.
  2. Phân tích đặc điểm hình thức văn bản, văn tự, tên gọi, quy trình sửa đổi bổ sung điều khoản và sự phản ánh đặc trưng nghề nghiệp trong tục lệ.
  3. Giải mã nội dung phản ánh phong tục tập quán (tế tự, khao vọng, hôn lễ, tang lễ, khuyến học và tổ chức Hội Tư văn) cùng vai trò chỉnh đốn phong tục của văn bản tục lệ.
  4. Đánh giá giá trị lịch sử và khả năng kế thừa các yếu tố tích cực của tục lệ cổ truyền trong việc xây dựng Quy ước văn hóa tại các xã, phường hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống văn bản tục lệ Hán Nôm cổ truyền của làng xã huyện Từ Liêm được xác lập trước năm 1945, bao gồm thư tịch viết tay trên giấy và thác bản văn bia hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  • Phạm vi không gian: Địa giới hành chính huyện Từ Liêm trước năm 1945 ghi nhận trong Đồng Khánh địa dư chí, bao gồm 13 tổng với 87 xã, thôn, trại, châu, sở (tương ứng với địa bàn các quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, Tây Hồ, một phần quận Hà Đông, Thanh Xuân và các huyện Hoài Đức, Đan Phượng thuộc thành phố Hà Nội ngày nay).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các văn bản có niên đại từ cuối thế kỷ XVII (năm 1686) đến trước cuộc cải lương hương chính diện rộng năm 1921 (điều khoản bổ sung muộn nhất trong diện khảo sát là năm 1915).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và điểm cứu tình hình nghiên cứu liên quan theo 5 nhóm hướng nghiên cứu chính:

Tình hình nghiên cứu tục lệ và văn bản tục lệ

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Nghiên cứu làng xã và bản chất hương ước: Các công trình tiêu biểu của Vũ Duy Mền và Bùi Xuân Đính (1982, 1985, 1989, 1993, 2010), Phan Đại Doãn (1992), Lê Đức Tiết (1998), Ninh Viết Giao (2000), Cao Văn Biền (1996) đã làm rõ khái niệm, nguồn gốc ra đời, tính tự trị của làng xã và mối quan hệ giữa lệ làng và phép nước.
  • Nghiên cứu văn bản học tục lệ và chính sách cải lương hương chính: Các tác giả như Vũ Duy Mền (2000), Đinh Khắc Thuân (2005), Đào Phương Chi (2013, 2014, 2017), Nguyễn Thị Lệ Hà (2012, 2014), Đinh Thị Thùy Hiên (2014, 2017), Nguyễn Thị Oanh (2018) đã khảo sát hình thức văn bản, những biến đổi trong tế tự, tang ma, cưới hỏi, khao vọng qua các giai đoạn cải lương hương tục thí điểm tại Bắc Kỳ.
  • Nghiên cứu văn bản hương ước các nước đồng văn và so sánh: Các công trình của Phạm Thị Thùy Vinh (2005, 2006), Chu Tiểu Điền (2006), Chu Hồng Lâm (2007), Lưu Tĩnh Nhiên (2006), Đỗ Thị Hà Thơ (2009, 2011, 2012, 2014, 2015), Vũ Duy Mền và Hoàng Minh Lợi (2001), Oh Yu Jung (2010) đã phân tích hương quy dân ước Trung Quốc, hương ước Choson (Hàn Quốc) và luật làng Kanto (Nhật Bản), chỉ ra ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và tính tự quản cộng đồng ở khu vực Đông Á.
  • Sưu tầm, biên dịch và giới thiệu văn bản: Các tập tư liệu của Đinh Khắc Thuân (2006), Trương Sĩ Hùng (2009), Đỗ Thị Hảo (2010), Nguyễn Tá Nhí (2010, 2013) đã công bố nhiều bản dịch hương ước Thăng Long - Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trước đây tiếp cận làng xã Bắc Bộ nói chung hoặc đi sâu vào từng trường hợp làng xã riêng lẻ, chưa có công trình chuyên khảo nào xử lý trọn vẹn, đồng bộ hệ thống văn bản tục lệ Hán Nôm của một huyện cửa ngõ kinh thành như Từ Liêm. Luận án giải quyết triệt để khoảng trống này bằng việc khảo sát toàn bộ 85 văn bản Hán Nôm hiện còn, kết hợp phân tích văn bản học với nghiên cứu lịch sử xã hội, thể chế tự quản và giá trị văn hóa thực tiễn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng lý luận Nho gia về hương ước bắt nguồn từ Lam Điền Lã thị hương ước thời Bắc Tống (Trung Quốc), dựa trên 4 trụ cột: đức nghiệp tương khuyến (giúp nhau bồi dưỡng đạo đức), quá thất tương quy (khuyên răn khi có sai lầm), lễ tục tương giao (ứng xử theo chuẩn mực lễ nghi), hoạn nạn tương tuất (cứu giúp khi gặp nạn). Khi du nhập vào Việt Nam từ thời Lê Thánh Tông (thế kỷ XV), lý luận này được bản địa hóa, kết hợp chặt chẽ với tập quán pháp bản địa để hình thành hệ thống quy ước thành văn của làng xã.

Tác giả luận án xác định khái niệm tục lệ là những điều quy định, nếp sống từ lâu đời đã thành thói quen của mỗi làng, hình thành trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung khi cần thiết. Nội dung tục lệ điều chỉnh từ tổ chức xã hội đến đời sống sinh hoạt, có tính ràng buộc bắt buộc đối với mọi thành viên trong cộng đồng làng xã và tồn tại song song, hỗ trợ cho luật pháp nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản học: Giám định chất liệu, chữ viết, khuôn dấu, cấu trúc, đối chiếu các bản chép nhằm xác định niên đại, tính chân xác và diễn tiến sửa đổi của văn bản.
  2. Phương pháp phiên dịch học: Phiên âm, giải nghĩa và dịch thuật chuẩn xác các văn bản chữ Hán và chữ Nôm cổ sang tiếng Việt hiện đại.
  3. Phương pháp luận sử học và sử liệu học: Đặt văn bản vào bối cảnh lịch sử cụ thể (thời Lê Trung hưng, Tây Sơn, thời Nguyễn) để phân tích, đối chiếu với các bộ luật chính thống (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ).
  4. Phương pháp khảo sát điền dã: Khảo sát thực địa tại các xã, phường thuộc huyện Từ Liêm cũ (Đông Ngạc, Phú Diễn, Thụy Phương, Minh Khai, Liên Mạc, Thượng Cát, Xuân Phương, Vân Canh) để đối chiếu tư liệu văn bản với di tích và phong tục hiện hành.
  5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng tri thức của Hán Nôm học, luật học, sử học, văn hóa học dân gian và dân tộc học.
  6. Thao tác thống kê, định lượng: Thống kê số lượng, tỷ lệ văn bản theo niên đại triều đại, phân bố không gian cấp tổng và cơ cấu các điều khoản quy định.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu chính gồm 85 văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (82 bản viết tay trên giấy dó và 3 thác bản văn bia; thuộc phân kho AF: 44 bản, phân kho A: 38 bản). Trong đó có 28 văn bản được Lý trưởng địa phương xác nhận và đóng triện dấu. Tư liệu đối chiếu gồm các bộ địa chí kinh điển: Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) và Đồng Khánh địa dư chí.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 làm rõ nội hàm các thuật ngữ pháp lý - tập quán cổ (tục lệ, hương ước, khoán ước, khoán lệ, điều lệ, bạ, phong tục) qua các từ điển tiếng Hán, tiếng Việt cổ và hiện đại (Đại Nam quấc âm tự vị, Hán ngữ đại từ điển, Từ nguyên, Đại từ điển tiếng Việt). Chương này tổng kết bức tranh nghiên cứu hương ước trong và ngoài nước, khẳng định tính chất thành văn của tục lệ bắt đầu phổ biến từ thời Lê Thánh Tông, đóng vai trò cụ thể hóa luật nước vào không gian làng xã và xác lập định hướng nghiên cứu hệ thống cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Khảo sát văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm

Chương 2 phục dựng địa giới hành chính huyện Từ Liêm qua các thời kỳ lịch sử và thực hiện khảo sát định lượng toàn bộ kho văn bản hiện có.

Tổng số văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm: 85 văn bản
Tiêu chí phân loại Số lượng Tỷ lệ (%) Ghi chú cụ thể
Loại hình văn bản
- Thư tịch viết tay giấy dó 82 96,47% Thuộc phân kho A và AF tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
- Thác bản văn bia 3 3,53% Bia tại La Nội, Ỷ La (ký hiệu N0 926, 927)
Phân bố theo thời kỳ lập bản đầu tiên
- Thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII - XVIII) 22 25,88% Sớm nhất: Sùng sư báo bản bi ký (1686, Chính Hòa 7)
- Thời Tây Sơn và thời Nguyễn (thế kỷ XIX - XX) 63 74,12% Bổ sung muộn nhất: xã Thụy Phương (1915, Duy Tân 9)
Tình trạng chứng thực pháp lý
- Bản có triện dấu xác nhận của Lý trưởng 28 32,94% Hạ Trì (5), Thượng Cát (3), Phù Diễn (2), Thượng Trì (2)...
- Bản không có dấu xác nhận 57 67,06% Gồm các bản sao chép lưu trữ của EFEO và Viện Hán Nôm

Về phân bố không gian, 85 văn bản phân bố khắp 13 tổng của huyện Từ Liêm thời Nguyễn: Dịch Vọng, Hương Canh, Đại Mỗ, La Nội, Yên Lũng, Thượng Ốc, Cổ Nhuế, Phú Gia, Minh Tảo, Hạ Trì, Thượng Trì, Thượng Hội, Tây Tựu. Mật độ văn bản tập trung nhiều nhất ở các làng khoa bảng và làng nghề ven đô như Đông Ngạc, Vân Canh, La Khê, Phú Diễn.

Chương 3: Đặc điểm hình thức và nội dung văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm

Chương này đi sâu phân tích hình thức thư tịch học và đặc trưng loại hình:

  • Hình thức và tên gọi: Đa phần được chép trên giấy dó khổ chuẩn, bìa giấy tây màu nâu do Viễn Đông Bác cổ bảo quản. Tên gọi văn bản đa dạng: tục lệ, khoán ước, khoán lệ, phong tục, điều lệ, lệ bạ, hương ước.
  • Đặc điểm văn tự: Tuyệt đại đa số viết bằng chữ Hán chân phương; có một số bản ghi tên người, tên địa danh bằng chữ Nôm và duy nhất bản phong tục xã Thụy Phương bổ sung năm 1915 được soạn bằng chữ Nôm theo hướng cải lương.
  • Hiện tượng sửa đổi, bổ sung: Tục lệ không cố định mà được tu chỉnh liên tục theo hai nguyên nhân: do lệnh chấn chỉnh phong tục của quan lại triều đình hoặc do nhu cầu tự quản nội tại khi kinh tế - xã hội làng chuyển biến.
  • Phản ánh đặc trưng nghề nghiệp:
    • Làng thuần nông: Quy định chặt chẽ về tuần đinh, bảo vệ mùa màng, chia ruộng công, điều tiết nguồn nước tưới tiêu và đắp đê phòng lụt.
    • Phường làng nghề: Các làng dệt lụa La Khê, làm giấy Nghĩa Đô, đúc đồng, làm bánh... có điều lệ phường nghề riêng nhằm bảo vệ bí quyết kỹ thuật, quy định mức đóng góp và bảo trợ lẫn nhau.
    • Làng khoa bảng, giáp, dòng họ: Các làng như Đông Ngạc, Vân Canh lập ra Tư văn hội lệ, Hương lão giáp lệ bạ, ưu tiên vị thứ và miễn trừ phu phen tạp dịch cho người có học vị, chức tước.

Chương 4: Nội dung, giá trị văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm

Chương 4 phân tích các nhóm nội dung đời sống làng xã và giá trị của tục lệ:

  • Tín ngưỡng và lễ tiết: Quy định chi tiết việc thờ cúng Thành hoàng làng và chu kỳ lễ tiết nông nghiệp quanh năm gồm: tiết Khai hạ, Cầu an, Cầu phúc, lễ Hạ điền, Thượng điền, Thường tân (cơm mới), lễ Giao thừa.
  • Lệ khao vọng và ngôi thứ: Xác định trật tự phân hạng chiếu ngồi và mức nộp tiền khao vọng đối với người có chức tước, người có phẩm hàm và người đỗ đạt khoa trường.
  • Hôn lễ và lệ "lan giai": Quy định sính lễ cưới xin và lệ nộp tiền/lễ vật cho làng (lệ lan giai). Người lấy vợ/chồng cùng làng nộp lễ vật nhẹ hơn (gà, rượu, vài mạch tiền); người lấy người ngoại thôn phải nộp phạt nặng hơn (thường là lợn, vò rượu, tiền quan) nhằm hạn chế người ngoài ngụ cư.
  • Tang lễ: Phân chia tang chế thành các hạng tùy theo độ tuổi và địa vị xã hội của người mất. Tục lệ quy định việc giúp đỡ phu cáng, nghiêm cấm việc đòi hỏi cỗ bàn linh đình gây khánh kiệt gia cảnh tang chủ.
  • Truyền thống hiếu học và Hội Tư văn: Thiết lập chế độ khuyến học rõ rệt: cấp ruộng học (học điền), trích quỹ thưởng tiền gạo cho sĩ tử đi thi, tổ chức lễ rước vinh quy bái tổ cho người đỗ đại khoa, phân định vị thứ ngồi chiếu trên tại đình làng cho người có học vị.
  • Giá trị chỉnh đốn phong tục: Tục lệ đóng vai trò bộ lọc văn hóa, tiếp thu các đạo dụ chấn chỉnh phong tục của triều đình để loại bỏ dần hủ tục cưới xin, ma chay, đồng thời gìn giữ trật tự đạo đức Nho giáo và tình làng nghĩa xóm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện tư liệu: Đây là công trình đầu tiên khảo sát, thống kê, phân loại và lập danh mục thư mục chi tiết toàn bộ 85 văn bản tục lệ Hán Nôm làng xã huyện Từ Liêm trước năm 1945, xác định chính xác niên đại và địa bàn hành chính lịch sử.
  2. Làm rõ diễn tiến văn bản học: Luận án chỉ ra quá trình vận động của văn bản tục lệ từ dạng thức đơn sơ ở thế kỷ XVII (chủ yếu là văn bia và khoán ước ngắn) đến các bản tục lệ hoàn chỉnh, đa điều khoản ở thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
  3. Phân tích tính đa dạng theo nghề nghiệp: Luận án chứng minh văn bản tục lệ phản ánh rõ nét tính chất kinh tế - xã hội của từng tiểu vùng: làng nông nghiệp, làng nghề thủ công và làng khoa bảng ven đô Thăng Long.
  4. Làm sáng tỏ cơ chế điều chỉnh phong tục: Phân tích sự tương tác hai chiều giữa pháp luật triều đình quân chủ và lệ làng, chỉ ra cách thức cư dân địa phương tiếp thu luật nước để hoàn thiện quy chuẩn tự quản của cộng đồng.

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp nguồn sử liệu gốc có độ tin cậy cao phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương Hà Nội, văn hóa học, dân tộc học và lịch sử pháp luật Việt Nam.
  • Đề xuất các căn cứ khoa học giúp cơ quan quản lý văn hóa kế thừa có chọn lọc các giá trị tích cực của tục lệ xưa (tinh thần hiếu học, tương trợ cộng đồng, giữ gìn an ninh trật tự, tiết kiệm trong việc tang việc cưới) vào việc biên soạn và thực thi Quy ước văn hóa tại các tổ dân phố, thôn xóm hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung xử lý nguồn văn bản tục lệ Hán Nôm cổ truyền được lưu trữ tập trung tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và một số thư viện trung ương; chưa thể bao quát hết toàn bộ các bản hương ước cải lương thời kỳ 1921–1945 bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp cũng như các bản khoán ước còn lưu lạc rải rác trong các dòng họ tại địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    1. Mở rộng sưu tầm và khảo sát các văn bản tục lệ, gia phả, văn khế chữ Hán Nôm còn lưu giữ trong tư gia và dòng họ trên địa bàn huyện Từ Liêm cũ.
    2. Nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa văn bản tục lệ cổ truyền Hán Nôm với hệ thống hương ước cải lương giai đoạn 1921–1945 để thấy rõ bước chuyển đổi thể chế làng xã thời thuộc địa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Hán Nôm, Lịch sử, Văn hóa học, Dân tộc học: Tham khảo phương pháp tiếp cận văn bản học, kỹ thuật phân loại thống kê tư liệu Hán Nôm và phương pháp phân tích liên ngành.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử Hà Nội: Khai thác tư liệu chi tiết về địa danh hành chính, phong tục tập quán, tổ chức phường hội và truyền thống khoa bảng huyện Từ Liêm cổ.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền cơ sở: Tham khảo kinh nghiệm lịch sử của việc "chỉnh đốn phong tục" để vận dụng xây dựng các bản quy ước, hương ước làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa phù hợp với đời sống hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Số lượng và nguồn gốc các văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm trong luận án được thống kê như thế nào?

Tổng số có 85 văn bản tục lệ Hán Nôm, gồm 3 thác bản văn bia và 82 văn bản viết tay trên giấy dó lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (phân kho AF có 44 bản, phân kho A có 38 bản). Trong số đó, có 28 văn bản thuộc phân kho AF được Lý trưởng đương thời ký tên, đóng triện xác nhận sao chép đúng từ bản gốc của địa phương.

2. Văn bản tục lệ nào có niên đại sớm nhất và muộn nhất trong diện khảo sát của luận án?

Văn bản có niên đại sớm nhất là thác bản văn bia Sùng sư báo bản bi ký (崇師報本碑記) tại xã La Nội, Ỷ La lập năm Chính Hòa thứ 7 (1686) thời Lê Trung hưng. Văn bản có điều khoản bổ sung muộn nhất trong kho tục lệ cổ truyền khảo sát là bản phong tục xã Thụy Phương viết bằng chữ Nôm vào năm Duy Tân thứ 9 (1915).

3. Căn cứ hành chính nào được sử dụng để xác định phạm vi không gian huyện Từ Liêm trước năm 1945?

Luận án căn cứ vào địa giới hành chính huyện Từ Liêm ghi nhận trong Đồng Khánh địa dư chí, gồm 13 tổng và 87 xã, thôn, trại, châu, sở: tổng Dịch Vọng, Hương Canh, Đại Mỗ, La Nội, Yên Lũng, Thượng Ốc, Cổ Nhuế, Phú Gia, Minh Tảo, Hạ Trì, Thượng Trì, Thượng Hội, Tây Tựu.

4. Lệ nộp "lan giai" trong tục lệ làng xã Từ Liêm thời Lê Trung hưng được quy định cụ thể ra sao?

Trong Minh Tảo xã khoán ước (lập năm Chính Hòa thứ 19 - 1698), lệ lan giai quy định: người trong làng gả con gái cho trai làng nộp cho Văn hội 1 con gà, 1 chĩnh rượu và 3 mạch tiền cổ; nếu con gái lấy chồng người làng khác ngoài xã thì phải nộp phạt nặng hơn gồm 1 con lợn, 1 vò rượu và 1 quan tiền cổ.

5. Văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm phân biệt đặc trưng nghề nghiệp giữa các làng xã như thế nào?

Tục lệ phân chia rõ rệt thành 3 nhóm: làng thuần nông tập trung vào điều lệ bảo vệ nông trang, phân chia công điền và tuần phòng mùa màng; làng nghề/phường nghề (như La Khê, Nghĩa Đô) quy định về bảo vệ bí truyền công nghệ và đóng góp hội nghề; làng khoa bảng (như Đông Ngạc, Vân Canh) xây dựng quy ước khuyến học, tôn vinh người đỗ đạt và thiết lập tổ chức Hội Tư văn.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoàng Yến là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về di sản văn bản tục lệ Hán Nôm của huyện Từ Liêm trước năm 1945. Thông qua việc xử lý 85 văn bản thư tịch và văn bia, tác giả đã phục dựng bức tranh toàn diện về tổ chức xã hội, trật tự tập quán, đời sống kinh tế - văn hóa và truyền thống hiếu học của vùng đất ven đô Thăng Long. Công trình khẳng định giá trị lịch sử của tục lệ làng xã trong việc duy trì trật tự cộng đồng và cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa cơ sở hiện nay.