CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Chương này sẽ trình bày một cách tổng quát về hương ước, tục lệ, tình hình nghiên cứu hương ước, tục lệ ở Việt Nam trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu chuyên sâu để giải quyết những vấn đề cần nghiên cứu mà những công trình, đề tài nghiên cứu trước chưa từng đề cập đến. Khái quát chung về tục lệ và văn bản tục lệ 1. Khái niệm tục lệ Trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các tổ chức hương thôn như phe giáp, xóm ngõ, làng xã thường đặt ra những điều ước để ràng buộc, điều hòa và giải quyết tranh chấp va chạm với nhau.
Vì vậy, tục lệ còn được hiểu là lệ làng, là luật tục của người dân nơi làng xã. Tuy nhiên, trước khi tục lệ của làng xã được văn bản hóa, thì tục lệ của làng đã truyền miệng từ lâu đời. Văn bản tục lệ có nhiều tên gọi khác nhau như tục lệ, phong tục, khoán ước, hương ước, bạ, khoán, khoán ước, khoán lệ, lệ, điều lệ. Trước hết, luận án tìm hiểu khái niệm của các thuật ngữ này được viết trong từ điển, tự điển của Trung Quốc và Việt Nam, ngoài ra có tham khảo thêm cách giải thích của các nhà nghiên cứu đi trước nhằm hiểu rõ hơn nội hàm mà các thuật ngữ này đề cập đến.
* Thuật ngữ do các từ điển, tự điển Trung Quốc, Việt Nam giải thích: - Bạ 1. Sổ sách; sổ sách dùng để ghi chép. Đăng ký; ghi chép vào sổ sách.1 [ 236, 1267] Đại Nam quấc âm tự vị không có mục từ bạ. [10] Bạ là sổ sách dùng để đăng kí, ghi chép.
Bạ: Sổ sách để biên chép: thủ bạ; sổ bạ. [118, 25] Bạ: Sổ sách ghi chép để theo dõi về ruộng đất, sinh tử, giá thú. [102, 21] Bạ: Sổ sách ghi chép về ruộng đất, sinh tử, giá thú: bạ ruộng đất. Nghĩa lệ, thể lệ của trước tác.
Quy định về việc nào đó được phê chuẩn, hoặc tổ chức của một cơ quan.2 [234, 1482] Điều lệ: Quy điều, phép tắc.册籍; 载用的本子.登录;记入册籍 ." 2 Nguyên văn: "條例 : 1. 著作的义例,体例.由國家制定或批准的規定某些事項或某一机关的组织 ." 10 z Điều lệ là quy tắc chia thành điều kí kết. [240, 1574] Điều lệ: Luật lệ chia ra từng khoản để noi theo. [118, 197] Điều lệ: Văn bản quy định mục đích, nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của một đoàn thể, một tổ chức.
[102, 311] Điều lệ: Văn bản ghi những điều khoản về nhiệm vụ, về tổ chức, hoạt động, tôn chỉ của một tổ chức đã được tổ chức thông qua và làm theo. Giống như từ hương quy dân ước (Trung Quốc). Dùng thích hợp với quy ước của làng đó, khu vực đó. Lã Đại Phòng truyện" (Họ Lã) từng làm "hương ước" nói rằng: "Phàm những người cùng ràng buộc với nhau, dùng đức nghiệp khuyên bảo nhau, có lỗi lầm thì khuyên răn, sửa chữa, thói quen lễ phép giao tiếp với nhau, hoạn nạn giúp đỡ nhau."3 [237, 665] Hương ước là quy ước của người dân cùng nhau tuân thủ.
Sử Tống phần 340, Lã Đại Phòng truyện: "Người nói về lễ ở đất Quan Trung nên suy tôn họ Lã mà thôi. [Ông] từng viết sách Hương ước: "Phàm những người cùng quy ước với nhau, nghiệp đức khuyến khích nhau, sai lầm khuyên răn nhau, lễ tục kết giao với nhau, hoạn nạn thương xót nhau4 [240, 3116] Hương ước: Lệ làng, quy luật trong làng. [118, 296] Hương ước: Luật lệ ở làng xã dưới chế độ cũ, do dân làng đặt ra. [102, 458] Hương ước: Luật lệ do làng xã dưới chế độ cũ đặt ra.
[152, 863] Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ hương ước. Phù hợp, khớp. Thuật lại, miêu tả, thể hiện. Thí dụ bảo đảm công việc có thể thành công.
Khoán thời xưa thường chia làm hai nửa, mỗi bên giữ một nửa làm bằng chứng. [240, 351] Khoán 券: lời giao ước, hẹn hò, cấm ngăn. [10, 495] Khoán là khuôn. [112, 372] Khoán: Bằng cứ.
Tờ giao ước để làm bằng. Khoản phải nộp cho làng, coi như tiền phạt, khi làm điều gì trái với lệ làng, theo tục lệ cũ ngày trước ở nông thôn. Giấy 3 Nguyên văn: 鄉約 : 1.犹言乡规民约。适用于本乡本地的规约。<<宋史 .吕大防传>>:"(吕氏 )嘗為 <<鄉 約 >>曰:"凡同約者,德業相勸,過失相規,禮俗相交,患難相卹 ." 4 Nguyên văn: 鄉 約 鄉人共守之約.宋史三四○.吕大防傳 :"關中言禮 學者推吕氏.嘗為鄉約 曰 :"凡同約者,德 相 勸 ,過失相 規 ,禮 俗相交,患難相卹 5 Nguyên văn: 券: 1.状写,描摹 5.比喻事情可以成功的保証. 11 z bán con vào cửa Phật, cửa Thánh, làm con Phật, con Thánh cho dễ nuôi, theo mê tín.
[102, 486] Khoán: Tờ giao ước để làm bằng. [152, 910] - Khoán lệ: Hán ngữ đại từ điển, Từ nguyên không có cụm từ này. Khoán lệ: Lệ nộp khoán với làng. [118, 318] Khoán lệ: Lệ nộp khoán.
[152, 910] - Khoán ước: khế ước, văn tự. Từ nguyên không có cụm từ này. Khoán ước: Bản giao ước. [102, 487] Khoán ước: Bản giao kèo.
[152, 910] Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ khoán ước. Chuẩn tắc, quy tắc. Trở thành lệ; lệ cũ. Theo phép tắc cũ, trở thành thói quen.7 [234, 1334] Lệ: chuẩn tắc, quy trình điều lệ noi theo.8 [240, 207] Lệ 例: thói quen, phép đã định đã quen.
[10, 554] Lệ: Phép tắc, thói quen đã thành từ trước. [118, 353] Lệ: Điều quy định và đã trở thành nếp. Điều quy định có từ lâu đã trở thành nề nếp, mọi người cứ theo thế mà làm. Điều được lặp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên đã thành thói quen.
Lần nào cũng thế, đã thành lệ. Theo lệ thường. Điều làm theo lệ thường (chỉ cốt cho có mà thôi). [102, 541] - Lệ bạ 例簿: Hán ngữ đại từ điển, Từ nguyên không có cụm từ này.
Từ điển tiếng Việt, Đại từ điển tiếng Việt không có mục từ này. - Phong tục: Phong khí, tập tục nối nhau lâu ngày mà thành.9 [238, 604] Phong tục là thói quen, tập quán hình thành trong thời gian dài của một địa phương.10 [240, 3406] Phong tục: Thói tục chung của nhiều người từ lâu đời: phong tục làng. [118, 487] Phong tục: Thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo. [102, 756] 6 Nguyên văn : "券約: 契据.准則 ,規则.
成例;旧例.按照旧規慣例 " 8 Nguyên văn: "例:仿照的準則,規程條例 ." 9 Nguyên văn: "風俗 : 1. 相沿积久而成的风气,习俗。" 10 Nguyên văn : "風俗:一地方長期形成的風尚,習貫 ." 12 z Phong tục 風俗: thói tục. [11, 816] Phong tục: Lối sống, thói quen đã thành nề nếp, được mọi người công nhận, tuân theo. [152, 1339] Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ phong tục.
Như quán lệ (làm theo thói quen). Tập tục của dân gian.11 [234, 1405] Từ nguyên không có mục từ này. Tục lệ 俗例: Thói tục đã quen. [10, 554] Tục lệ: Lề thói, thói quen: tục lệ trong chốn hương thôn.
[102, 1026] Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ tục lệ. Tục lệ: Những điều quy định, nếp sống từ lâu đời đã thành thói quen. [152, 1747] * Thuật ngữ do các nhà nghiên cứu giải thích Trong Việt Nam phong tục, tác giả Phan Kế Bính định nghĩa về khoán ước như sau: "Chốn hương thôn thường có ước hẹn riêng với nhau, lập ra sổ sách, đồng dân ký kết gọi là khoán ước". Và tác giả giải thích: "Trong khoán ước có thưởng phạt, trừ ra các việc lớn đã có phép của nhà nước, còn việc nhỏ thì trong dân thôn thi hành lẫn nhau".
[4, 181] Hai tác giả Vũ Duy Mền và Bùi Xuân Đính (1982) với bài viết "Hương ước - khoán ước trong làng xã" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 năm 1982, giải thích: "Hương ước vốn là sản phẩm của văn hóa làng xã, hình thành và ra đời cùng với làng xã." [69, 43] Bùi Xuân Đính (1985) trong Lệ làng phép nước: ".việc văn bản hóa những tục lệ, tập quán cốt yếu trước đây thành những quy ước cụ thể là tối cần thiết - Bộ "tập quán pháp" thành văn mà ta quen gọi là hương ước hay khoán ước phải ra đời, nhằm đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của các làng xã. Như vậy, hương - khoán ước ra đời vừa là kết quả vừa là yêu cầu của quá trình phát triển nội tại của đời sống làng xã. Nó là sự kế tục và hoàn chỉnh những quy ước cổ sơ của mỗi nhóm cư dân trong từng lũy tre xanh một." [22, 16] Tác giả Vũ Duy Mền (1989) trong "Góp phần xác định thuật ngữ "khoán ước" "hương ước" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: "Sang thế kỷ XV, đặc biệt dưới 11 Nguyên văn: "俗例 :1.犹慣例 .民间的习俗. 13 z thời vua Lê Thánh Tông, thuật ngữ khoán ước bao hàm nội dung một số quy ước của dân làng đã trở nên tương đối phổ biến.
Trong Hồng Đức thiện chính thư Lê Thánh Tông ra chỉ lệnh hạn chế bớt việc làng xã lập khoán ước riêng vượt những cấm đoán của nhà nước." [71, 80] Phan Đại Doãn (1992) trong Làng Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế xã hội nêu ra định nghĩa về hương ước: "Hương ước là luật lệ làng, bắt buộc các thành viên phải tuân thủ. Hương ước gắn bó các thành viên trong một cộng đồng tương đối chặt chẽ và tự nguyện, lệ thuộc lẫn nhau, phục tùng làng xã." [12, 87] Luật gia Lê Đức Tiết (1998) trong Về hương ước lệ làng đưa ra khái niệm hương ước, lệ làng từ góc độ luật học: "Hương ước, lệ làng là một trong những di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của nhân dân Việt Nam. hương ước, lệ làng là sản phẩm pháp lý do dân làng tự sáng tạo ra." [140, 7] Sau đó, ông giải thích thêm: "Hương ước, lệ làng Việt Nam có quá trình hình thành, tồn tại và phát triển trong nhiều thế kỉ. Gắn liền với mọi biến cố thăng trầm về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của đất nước.
Các cộng đồng cư dân làng xã đã sử dụng nó làm thước đo chuẩn mực để phân biệt đúng sai, phải trái trong quan hệ giao tiếp, ứng xử. Điều đó có ý nghĩa tích cực và bổ ích là toàn dân làng biết sử dụng nó vào mục đích bảo vệ sản xuất, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo đảm an ninh của cộng đồng, chống lại mọi hiểm họa từ bên ngoài ập đến." [140, 7-8] Ninh Viết Giao (2000), "Từ hương ước đến quy ước trong xã hội ngày nay", Tạp chí Văn hóa dân gian (1), đưa ra khái niệm hương ước vào giai đoạn trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 như sau: "Hương ước là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao gồm các điều ước về dân sự, hình sự, các điều ước về giữ gìn đạo lý, về phong tục tập quán. có liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống nhân dân trong làng.