Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm hình vị, từ, ngữ, nghĩa 1. Hình vị Trong ngôn ngữ học đại cương, hình vị (“morpheme” mooc- phem/ từ tố/ nguyên vị/ hình tố…) và từ tố được coi là những dạng thức cụ thể của hình vị trong những hoàn cảnh nhất dịnh với vai trò cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn (từ). Hình vị là một trong những nội dung thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy có một số quan niệm của các tác giả trên thế giới về hình vị như sau: Quan niệm thứ nhất, coi hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của từ. Tiêu biểu cho quan niệm này là phát biểu của Baudouin de Courtnay: “Chuỗi lời nói chia ra câu hay mệnh đề, câu chia ra thực từ, từ chưa ra hình vị. Như vậy, hình vị là bộ phận của từ và là bộ phận có nghĩa nhỏ nhất”. Quan niệm thứ hai, coi hình vị là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ.
Tiêu biểu cho quan niệm này là phát biểu của L. Bloomfield: “Hình vị là một nhát cắt âm thanh nhỏ nhất có sự tương ứng giữa âm và nghĩa, phân biệt được với nhát cắt khác cũng là hình vị; hình vị là hình thức đơn vị nhỏ nhất có nghĩa”. Theo quan niệm này, hình vị được xem là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ và ngôn ngữ gồm ba bậc cơ bản là: âm vị, hình vị và kết cấu. Quan niệm thứ ba, coi hình vị có nội dung rộng hơn cách hiểu của quan niệm thứ nhất nhưng hẹp hơn cách hiểu của quan niệm thứ hai.
Theo đó, hình vị là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất của ngôn ngữ không được sử dụng độc lập về mặt cú pháp. Những nhà nghiên cứu theo quan điểm này coi từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Đi sâu tìm hiểu các quan niệm về hình vị của các nhà Việt ngữ học, chúng tôi nhận thấy một số tác giả với các quan niệm có tính khuynh hướng như: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - từ ghép - đoản ngữ” đã cho rằng: “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất về mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp” [11]. Như vậy hình vị được coi là tiếng và là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt.
Tuy nhiên, tác giả không đồng nhất tiếng là từ mà có sự phân biệt: tiếng độc lập và tiếng không độc lập. Các tiếng độc lập được coi là từ còn các tiếng không độc lập được coi là các hình vị tự do. Như vậy, Nguyễn Tài Cẩn đã lấy tính độc lập/ không độc lập là tiêu chuẩn để phân biệt từ và hình vị. Rất rõ ràng để thấy các lí giải về hình vị tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn thuộc vào quan niệm thứ hai.
Tác giả Cao Xuân Hạo khi bàn về hình vị, một mặt tán đồng quan điểm hình vị trùng với âm tiết của Nguyễn Tài Cẩn, mặt khác ông đi sâu tìm hiểu cách tổ chức tôn tin của các đơn vị mang nghĩa và các quy tắc cú pháp của tiếng Việt. Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã chứng mình: trong tiếng Việt, đơn vị có cương vị ngôn ngữ học của âm vị là tiếng chứ không phải là âm tố như trong các ngôn ngữ Châu Âu. Từ những phân tích cụ thể, tác giả đi đến kết luận: “Trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị, vừa là từ, và nếu có thể hình dung một ngôn ngữ Âu châu như một cơ chế hoạt động trên ba cái trục chính: âm vị - hình vị và từ, tiếng Việt dường như gộp ba cái trục ấy lại làm một: cái trục hợp nhất ấy là tiếng” [26]. Chính điều này đã tạo ra hiện tượng “một thể ba ngôi” trong tiếng Việt.
Tiếp thu các quan điểm đi trước, các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu,… cho rằng: từ mới là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Nếu quan niệm hình vị là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ thì từ tiếng Việt trùng với hình vị. Điều này dẫn đến nhận định có thể coi từ tiếng Việt trùng với hình vị và âm tiết. Tuy nhiên, không phải âm tiết nào cũng là hình vị và từ bởi có những âm tiết vô nghĩa và không thể coi là hình vị.
Từ việc tìm hiểu các quan niệm trên, chúng tôi nhận thấy có thể coi “hình 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vị” là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ. Theo đó, hình vị có 2 đặc điểm chính: - Là đơn vị có nghĩa. - Không thể phân chia thành đơn vị có nghĩa nhỏ hơn. Từ Từ là một khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học và đã được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học.
Saussure thì: “… từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng của chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngữ nghĩa, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [36]. Có lẽ vì thế mà đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về từ đã được đưa ra những chưa có định nghĩa nào thỏa mãn được các nhà nghiên cứu. Nhận định này là hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 6000 ngôn ngữ đang được sử dụng và ở mỗi ngôn ngữ từ lại được biểu hiện ở những hình thái khác nhau. Để thấy được sự đa dạng trong định nghĩa về từ, chúng tôi dẫn ra một số định nghĩa thường được nhắc đến như sau: F.
de Saussure cho rằng: “Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng của chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ…” [36, tr. Trong định nghĩa về từ, K. Bukher chú ý đến mặt ngữ âm của từ và cho rằng: “Các từ là kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường”. Nhìn nhận từ góc độ thuộc tính phổ quát của từ.Solnxev nhận định: “a) Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa; b) Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời”.
Theo tác giả, khi nói từ là đơn vị ngôn ngữ là đã có hàm ý phân biệt từ với hình vị, với câu; nói tính hai mặt (âm và nghĩa) là muốn khẳng định tính hoàn chỉnh của từ. Tức là từ có cả hình thái và ngữ nghĩa. Vì vậy, trong lời nói từ có khả năng hoạt động độc lập về cú pháp. Tiếp thu các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã dành sự quan tâm cho vấn đề này.
Có thể kể đến các tác giả 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các nhận định về từ được nhiều người đồng thuận như: Tác giả Nguyễn Thiện Giáp khi nghiên cứu về từ đã so sánh từ của các ngôn ngữ Ấn Âu và từ của tiếng Việt [24, tr. Tác giả chỉ ra: 1) Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Trong các ngôn ngữ Ấn Âu, từ có thể là đơn tiết, có thể là đa tiết. Trong Việt ngữ, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những âm vô nghĩa.
Như vậy, từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Đây là một đặc điểm khác hẳn với các ngôn ngữ Ấn Âu. 2) Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và giăng, nhăn và dăn), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa (ví dụ: các ý nghĩa khác nhau của từ ăn…) nhưng không thể có biến thể hình thái học. Dù đứng trong câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức.
3) Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở từ trong tiếng Việt. Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát. Chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa. Từ những phân tích trên, tác giả tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong công đưa ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một ấm tiết, một khối viết liền” [24, tr.
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong công trình nghiên cứu“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” nhận định: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [17, tr. Khi nghiên cứu đối tượng là từ, tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa về từ như: “Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất trong cấu tạo câu [12, tr. Đây được coi là định nghĩa về từ được nhiều nhiều chấp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận nhất bởi: định nghĩa này đã chỉ ra được những đặc điểm khái quát cơ bản nhất của từ như sau: 1) Từ là đơn vị hoàn chỉnh có cả hình thức (vỏ âm thanh) và nghĩa. 2) Từ có khả năng hoạt động độc lập và tạo ra câu trong lời nói.
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Hữu Châu để nghiên cứu từ ngữ trong múa rối cạn của người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên. Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được chia thành: từ đơn, từ ghép và từ láy. Từ đơn là “từ chỉ chứa một từ tố”[6, tr. Các từ đơn như: nhà, bàn, lớp, lúa, ngô, chạy, nhảy, cười, khóc, vui, buồn,… Từ ghép là “Từ chứa hai (hoặc hơn hai) từ tố và trong đó nhìn chung không có hiện tượng “hòa phối ngữ âm tạo nghĩa” [6, tr.
Căn cứ theo cấu tạo, từ ghép chia thành: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Từ ghép đẳng lập là từ ghép mà “quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong nó là quan hệ bình đẳng; ý nghĩa ngữ pháp do cơ chế ghép đẳng lập tạo ra nó là ý nghĩa tổng hợp, ý nghĩa chỉ loại sự vật, đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) chung” [6, tr.