Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, những vấn đề lý luận chung và khái quát về gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng 15 Chương 2: Văn hoá gia đình truyền thống của người Tày ở tỉnh Cao Bằng Chương 3: Sự biến đổi văn hoá gia đình truyền thống của người Tày ở tỉnh Cao Bằng Chương 4: Những yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa gia đình truyền thống của người Tày ở tỉnh Cao Bằng, dự báo xu hướng biến đổi và những vấn đề đặt ra hiện nay 16 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ GIA ĐÌNH NGƢỜI TÀY Ở TỈNH CAO BẰNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu chung về gia đình và văn hoá gia đình 1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Trên thế giới, người đầu tiên nghiên cứu về các hình thức gia đình của con người có thể coi là Morgan.
Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Ph. Ăng ghen đã dẫn ý kiến của Morgan về 4 hình thức gia đình chính từng tồn tại trong lịch sử nhân loại: đó là gia đình huyết tộc, gia đình Pulanuan, gia đình đối ngẫu và gia đình một vợ một chồng. Theo ông, hình thức gia đình một vợ một chồng là đỉnh cao của sự biến đổi, phát triển gia đình trong lịch sử và hình thức này dựa trên những điều kiện kinh tế nhất định (C.Mác, Ăng ghen toàn tập, t21, tr. Nhiều nhà triết học, dân tộc học, xã hội học như C.Mác, Ăng Ghen, Jacques, Sabran, Locke…đã từng quan tâm nghiên cứu về gia đình và văn hoá gia đình dưới nhiều góc độ khác nhau như góc độ dân tộc học, triết học, hay xã hội học…Theo thời gian, những công trình nghiên cứu này cũng ngày càng tăng lên và đa dạng hơn, sâu hơn ở nhiều góc độ khác nhau và dù nghiên cứu ở góc độ nào thì nội dung đặt ra cũng là sự phong phú về các vấn đề thuộc mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và văn hoá gia đình của các xã hội trong đời sống nhân loại.
Ngoài việc đánh giá xu hướng, phân tích thực tiễn, còn đặc biệt lưu ý tới các nguy cơ ảnh hưởng đến những giá trị tốt đẹp, đề cao những giá trị truyền thống văn hoá gia đình. Dưới góc độ xã hội học, nhà triết học Pháp August Comte (1798-1857) đồng thời là một trong những nhà sáng lập ra ngành Xã hội học cho rằng gia đình là công cụ xã hội hóa cá nhân chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống xã hội, là trường học của đời sống xã hội. Gia đình là một tập đoàn xã hội cơ bản và quan trọng nhất. Cơ sở gắn bó gia đình trong xã hội là kết quả hợp tác giữa các gia đình trong sự phân công lao động.
Ở một chiều cạnh khác, dưới góc độ nhân học, Firth Raymond; Hubert Jane và Forge Anthony trong Families and their relatives: Kinship in a Middle-class 17 Sector of London: Anthropology Study (2001) lại nghiên cứu về gia đình qua các vấn đề dòng họ và thân tộc, cấu trúc và ý nghĩa của nó trong xã hội công nghiệp hiện đại thông qua nghiên cứu trường hợp tầng lớp lao động đô thị Anh. Bằng một nghiên cứu ở London, tác giả đã đi xem xét những quan hệ thân tộc bên ngoài gia đình hạt nhân của tầng lớp trung lưu đô thị. Ngoài việc cung cấp về lý luận trong nghiên cứu quan hệ xã hội thời công nghiệp hiện đại, cuốn sách còn xem xét một số vấn đề phương pháp luận trong lĩnh vực nghiên cứu này. Vấn đề cấu trúc gia đình cũng đã được khá nhiều công trình đề cập, chủ yếu đi vào những khía cạnh cụ thể.
Everett Roger và cộng sự trong công trình nghiên cứu Social change in Rural societies (1998) đã chỉ ra những sự thay đổi rõ nét trong cộng đồng nước Mỹ trong đó có gia đình. Số thành viên trong gia đình Mỹ đã thay đổi đáng kể trong vòng 200 năm trở lại đây. Năm 1790, mỗi gia đình Mỹ có trung bình là 5,9 người. Con số này giảm xuống còn 5,0 vào năm 1890, và 3,8 vào năm 1940, và đến 1980 chỉ còn 2,9 người trong mỗi gia đình.
Các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tập trung vào 4 nguyên nhân chính: 1/ nhiều người quyết định không kết hôn hoặc không có con để tập trung vào sự nghiệp; 2/ Các bậc cha mẹ già ở Mỹ sống độc lập trong những trại dưỡng lão thay vì sống chung và phụ thuộc vào con cái như ngày xưa; 3/ nhiều cặp vợ chồng dùng biện pháp tránh thai để hạn chế số con vì lý do kinh tế- xã hội; 4/ con cái không còn được xem như một thứ “của cải”, một nguồn lao động để đóng góp vào thu nhập của gia đình nữa. Thông qua những công trình được công bố, chúng tôi nhận thấy dù nghiên cứu ở góc độ nào thì điểm chung của các công trình này là ở sự ghi nhận: gia đình là một thực thể xã hội phức tạp, đang biến đổi và có thể có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Bên cạnh các khuynh hướng lý thuyết chung về gia đình, các công trình nghiên cứu về các lĩnh vực cụ thể của gia đình cũng rất đa dạng, phong phú. Những nghiên cứu của các tác giả trong nước Ở trong nước, việc nghiên cứu về các vấn đề của gia đình cũng được đặt ra từ rất sớm.
Có thể kể đến như Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục (1915), Hồ Đắc Điềm với Uy quyền của người cha và luật Việt Nam (1928), Dương Tấn Tài với Phần hương hoả (1932), Dương Mạnh Tường với Cá nhân trong nhà nước cổ 18 Việt Nam (1932), Lê Văn Dinh với Tục thờ cúng tổ tiên trong luật Việt Nam (1934), Đào Duy Anh với Việt Nam văn hoá sử cương (1938), Nguyễn Văn Huyên với Văn minh An Nam (1944)… Cũng như các nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn khác, từ sau năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh, do sai lầm trong nhận thức, vấn đề gia đình và văn hoá gia đình ở nước ta hầu như không được nghiên cứu. Chỉ từ sau đổi mới, đặc biệt năm 1994, khi Liên hợp quốc lấy làm năm Quốc tế gia đình, chúng ta đã tiếp thu tinh thần ấy, tổ chức các cuộc hội thảo và tiến hành các đề tài quốc gia nghiên cứu về gia đình. Đề tài Văn hoá gia đình Việt Nam mang mã số KX.06-11 được công bố năm 1994; Hội nghị Gia đình và sự phát triển kinh tế xã hội năm 1995 do UNESCO tổ chức (1996); Hội nghị bàn về Xây dựng gia đình văn hoá các tỉnh phía Bắc (1996) cùng các cơ quan nghiên cứu về gia đình và phụ nữ và các tạp chí chuyên ngành ra đời. Từ đó đến nay vấn đề gia đình và văn hoá gia đình đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường và trở thành đề tài luận văn, luận án của các cử nhân, thạc sỹ, tiến sĩ.Tuỳ thuộc vào chỗ đứng của từng chuyên ngành và nền tảng tri thức sẵn có của mình, mỗi nhà nghiên cứu lại có cách tiếp cận riêng với những trọng tâm nhất định.
Về cơ bản, các công trình này đề cập đến gia đình và văn hóa gia đình trên 3 góc độ: 1) vấn đề văn hóa gia đình 2) thực trạng gia đình và văn hóa gia đình 3) đi sâu vào một thành tố cụ thể của văn hóa gia đình. * Tiếp cận theo quan điểm truyền thống Theo quan điểm tiếp cận này, văn hóa gia đình thường được nhìn nhận theo nghĩa là một hoặc tập hợp những thành tố cụ thể. Theo đó, văn hóa gia đình thường đồng nhất với giá trị và chuẩn của hệ giá trị đó chính là tư tưởng Nho giáo. Những gì đã được quy định trong Nho giáo được xem như giá trị, thước đo của văn hóa gia đình.
Tác giả Toan Ánh, trong tác phẩm Nếp cũ, con người Việt Nam đã đề cập đến khái niệm văn hoá gia đình dưới giác độ là một nét thuần phong mỹ tục tiêu biểu của dân tộc Việt. Tác giả cho rằng “Khảo xét về phong tục Việt Nam, phải bắt đầu từ gia đình Việt Nam với những tục lệ, lễ nghi đã chi phối gia đình, sinh, tử, giá, thú…để dần dần đi tới phong tục về xã hội ” (tr. Như vậy, tuy không trực 19 tiếp đề cập đến khái niệm văn hoá gia đình, nhưng tác giả Toan Ánh đã cho thấy, văn hoá gia đình chính là những tập tục, lễ nghi được duy trì từ đời này qua đời khác trong mỗi gia đình. Những tập tục, lễ nghi ấy, được cụ thể hoá bằng những nền nếp sinh hoạt trong gia đình, những hoạt động, phong tục liên quan đến chu trình vòng đời người.
Đọc hết tác phẩm, người đọc có thể hình dung trong quan niệm của tác giả, văn hoá gia đình chính là những tập quán cổ xưa được bảo lưu, gìn giữ qua nhiều thế hệ, văn hoá gia đình bị chi phối nhiều bởi quan hệ dòng họ và luôn xem trọng vai trò người đàn ông [3]. Một đóng góp quan trọng của tác giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương là việc ông chỉ ra mối quan hệ giữa gia đình và đời sống xã hội Việt Nam, chỉ ra vai trò của văn hoá gia đình trong văn hoá dân tộc. “Cái đặc tính thứ nhất của văn hoá nông nghiệp ấy là xã hội lấy gia đình làm cơ sở. Từ xưa đến nay, trải thời phong kiến thượng cổ, thời đại nội thuộc cho đến thời độc lập, đời nào gia tộc cũng là bản vị cho xã hội.
Trong một nhà, con phải phục tùng gia trưởng và trọng giai cấp trưởng ấu, đạo hiếu là mối đầu đạo đức. Một nước cũng như một gia tộc lớn, cho nên điển lễ gia miếu là đại kinh của quốc gia, mà nhân dân phải phục tùng quân chủ và trọng giai cấp tôn ti. Từ xưa đến nay, lịch sử chỉ biểu dương những chuyện trọng hiếu đáng làm gương để duy kệ lòng người”…[2]. Một trong những tác giả sử dụng khái niệm này khá sớm, ngay từ những năm 90, tác giả Kiến Giang, trong cuốn sách Nhiều tác giả “Văn hoá gia đình và sự phát triển xã hội” (1994) khi bàn về văn hóa gia đình đã xuất phát từ việc coi gia đình là một thực thể văn hoá để bàn về văn hoá, đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh: coi gia đình là một thực thể văn hoá chưa có nghĩa là thừa nhận văn hoá gia đình như một khái niệm khoa học.