Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Văn hoá gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng" do nghiên cứu sinh Nông Anh Nga thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Nam và PGS. Nguyễn Thị Việt Hương, thuộc chuyên ngành Văn hóa học. Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên cơ sở liên ngành giữa Văn hóa học, Dân tộc học và Xã hội học, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm làm rõ thực trạng và sự biến đổi của văn hóa gia đình tộc người Tày trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện hai chức năng cơ bản là tái sản xuất con người nhằm duy trì nòi giống và xã hội hóa cá nhân nhằm hình thành nhân cách. Trải qua tiến trình lịch sử, gia đình Việt Nam đã định hình nên các chuẩn mực giá trị truyền thống bền vững. Sau 30 năm đổi mới đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của các gia đình có sự phát triển đáng kể, nhưng đồng thời bước sang thế kỷ XXI, gia đình cũng đối mặt với nhiều biến đổi phức tạp: quy mô thu nhỏ, cấu trúc và loại hình gia đình biến động, tỷ lệ ly hôn và sinh con ngoài giá thú gia tăng, vai trò của người phụ nữ trong lao động ngoài gia đình thay đổi, kèm theo các xung đột về đạo đức, lối sống, bình đẳng giới và bạo lực gia đình.

Người Tày ở tỉnh Cao Bằng là một cộng đồng cư dân bản địa lâu đời, sở hữu hệ thống văn hóa gia đình mang những nét đặc thù về lịch sử, địa lý nhân văn và văn hóa tộc người. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về gia đình Việt Nam và văn hóa dân gian người Tày, song cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về văn hóa gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng dưới góc nhìn lý thuyết cấu trúc - chức năng. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  1. Nhận diện được những giá trị văn hóa gia đình truyền thống và sự biến đổi của người Tày ở tỉnh Cao Bằng.
  2. Đánh giá được sự biến đổi của văn hóa gia đình trong xu thế hội nhập và phát triển của gia đình Việt Nam nói chung và gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng nói riêng.

Để hoàn thành mục đích trên, luận án triển khai bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về văn hóa gia đình, xác định công cụ lý thuyết và hệ thống khái niệm làm cơ sở khảo sát và đánh giá.
  2. Khảo sát và đánh giá các thành tố cơ bản của văn hóa gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng trong truyền thống trong mối tương quan với các tiền đề văn hóa - xã hội.
  3. Khảo sát và đánh giá sự biến đổi của các thành tố văn hóa gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng hiện nay.
  4. Dự báo xu hướng biến đổi và nêu lên những vấn đề đặt ra đối với văn hóa gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng trong thời kỳ hội nhập.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu:

  1. Văn hóa gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng có cấu trúc - chức năng gì trong xã hội truyền thống?
  2. Cấu trúc và chức năng của văn hóa gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng hiện nay như thế nào và các nguyên nhân của sự thay đổi cấu trúc - chức năng đó trong văn hóa gia đình hiện nay?

Giả thuyết khoa học được tác giả xác lập: Văn hóa gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng biến đổi mạnh là hệ quả tất yếu của những tác động trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và của quá trình đô thị hóa hiện nay đến cấu trúc - chức năng của nó; yếu tố văn hóa tộc người vẫn có vai trò quan trọng trong sự cân bằng những tác động này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng, được giới hạn qua 04 thành tố cơ bản: Quan niệm về hôn nhân; Các nghi lễ gia đình; Giáo dục trong gia đình; Ứng xử trong gia đình.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên 04 địa bàn đại diện của tỉnh Cao Bằng:
    • Thành phố Cao Bằng: đại diện cho khu vực đô thị, thành thị.
    • Huyện Thạch An: đại diện cho khu vực có cộng đồng người Tày cư trú tập trung đông nhất.
    • Huyện Phục Hòa: đại diện cho khu vực có hoạt động giao lưu buôn bán với nước ngoài qua cửa khẩu biên giới.
    • Huyện Bảo Lạc: đại diện cho khu vực người Tày sinh sống đan xen cùng các dân tộc thiểu số khác.
  • Phạm vi thời gian: Luận án chọn mốc năm 1986 (thời điểm khởi xướng công cuộc Đổi mới đất nước) làm điểm phân định giữa văn hóa gia đình truyền thống và văn hóa gia đình hiện nay để tiến hành so sánh, đối chiếu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả điểm lại các nghiên cứu kinh điển và hiện đại trên thế giới về thiết chế gia đình:

  • L. H. Morgan và Ph. Ăng-ghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đã phân tích 4 hình thức gia đình lịch sử: gia đình huyết tộc, gia đình Pulanuan, gia đình đối ngẫu và gia đình một vợ một chồng.
  • Auguste Comte (1798-1857) tiếp cận xã hội học, xem gia đình là tế bào cơ bản, công cụ xã hội hóa cá nhân và trường học đầu tiên của đời sống xã hội.
  • Firth Raymond, Hubert Jane và Forge Anthony (2001) trong công trình Families and their relatives: Kinship in a Middle-class Sector of London: Anthropology Study nghiên cứu quan hệ thân tộc bên ngoài gia đình hạt nhân của tầng lớp trung lưu đô thị.
  • Everett Rogers và cộng sự (1998) trong Social change in Rural societies phân tích sự biến đổi quy mô gia đình tại Mỹ qua 200 năm (từ 5,9 người/gia đình năm 1790 giảm xuống 5,0 năm 1890; 3,8 năm 1940 và còn 2,9 người năm 1980) do bốn nguyên nhân kinh tế - xã hội.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Giai đoạn trước 1945: Các công trình nghiên cứu phong tục, thiết chế pháp lý và văn hóa gia đình truyền thống gồm Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục, 1915), Hồ Đắc Điềm (Uy quyền của người cha và luật Việt Nam, 1928), Dương Tấn Tài (Phần hương hoả, 1932), Dương Mạnh Tường (Cá nhân trong nhà nước cổ Việt Nam, 1932), Lê Văn Dinh (Tục thờ cúng tổ tiên trong luật Việt Nam, 1934), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hoá sử cương, 1938), Nguyễn Văn Huyên (Văn minh An Nam, 1944).
  • Giai đoạn sau Đổi mới (từ năm 1986 và dấu mốc Năm Quốc tế Gia đình 1994):
    • Hướng tiếp cận truyền thống: Toan Ánh (Nếp cũ, con người Việt Nam), Đào Duy Anh (1938), Vũ Ngọc Khánh (Văn hoá gia đình Việt Nam, 2007) coi văn hóa gia đình là việc gìn giữ gia phong, gia lễ, gia huấn và các chuẩn mực đạo đức.
    • Hướng tiếp cận kinh tế - xã hội và lịch sử: Đề tài khoa học cấp quốc gia KX.06-11 (1994), Kiến Giang (1994), Quang Đạm (1994), Đỗ Huy (1997), Nguyễn Văn Phúc (1998), Tạ Văn Thành (1998), Đào Hùng (2002), Lê Ngọc Văn, Trần Đức Ngôn, Nguyễn Thị Việt Hương (2008). Các tác giả định nghĩa văn hóa gia đình là hệ thống giá trị, chuẩn mực điều tiết các mối quan hệ nội bộ và quan hệ giữa gia đình với xã hội.

Các công trình về văn hóa và người Tày tại Cao Bằng

  • Triệu Thị Mai (2001) với Lễ cầu tự của người Tày Cao Bằng và Văn hóa dân gian người Tày-Nùng Cao Bằng.
  • Hoàng Tuấn Nam, Bế Thanh Tuyền (2001) với Việc dựng vợ gả chồng của người Tày Cao Bằng.
  • Nguyễn Thị Yên (2010) với Đời sống tín ngưỡng của người Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng.
  • Đàm Thùy Linh với luận văn thạc sĩ Hát quan lang trong đám cưới của người Tày huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
  • Nguyễn Thị Thoa với luận án tiến sĩ Hát quan lang trong đám cưới người Tày ở Cao Bằng.
  • Các bài viết, công trình của Hoàng Thị Cành (Tục hôn nhân cổ của người Tày Nguyên Bình), Nguyễn Thanh Nga (Phong tục cưới xin cổ truyền của người Tày Cao Bằng), Bế Huỳnh (Cao Bằng tạp chí nhật tập, 1921).

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Các nghiên cứu trước đây về người Tày ở Cao Bằng chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả văn hóa dân gian, phong tục cưới xin, lễ hội hoặc tín ngưỡng đơn lẻ dưới góc độ dân tộc học hoặc văn học dân gian. Luận án của NCS. Nông Anh Nga là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về văn hóa gia đình người Tày ở Cao Bằng từ góc nhìn lý thuyết cấu trúc - chức năng, làm rõ sự biến đổi của các thành tố văn hóa gia đình từ năm 1986 đến nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

Luận án sử dụng Lý thuyết cấu trúc - chức năng làm khung phân tích chủ đạo:

  • Talcott Parsons (1902-1979): Nhấn mạnh cấu trúc và hệ thống xã hội, sự phân công lao động theo giới trong gia đình hạt nhân (nam giới giữ vai trò công cụ - instrumental male, nữ giới giữ vai trò biểu cảm - expressive female), cùng hai chức năng không thể thay thế là xã hội hóa sơ cấp trẻ em và ổn định nhân cách người lớn.
  • Robert Merton (1910-2003): Đóng góp khái niệm "loạn chức năng" hay "phản chức năng" (những hệ quả gây cản trở, rối loạn sự thích ứng của cấu trúc) và giải thích hành vi sai lệch chuẩn mực.
  • Peter Blau (1918-2002): Tác phẩm Bất bình đẳng và sự hỗn tạp, phân tích các tương tác xã hội tạo nên liên kết và thống nhất xã hội.
  • George Murdock (1949): Luận giải tính phổ quát của gia đình qua 4 chức năng: tình dục, tái sản xuất, giáo dục và kinh tế.
  • William J. Goode (1982), Samuel P. Huntington, Louise S. Spindler, Ronald Inglehart, Wayne E. Baker: Cung cấp cơ sở lý luận về sự chuyển đổi mô hình gia đình từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp, hiện đại.

Hệ thống định nghĩa được luận án kế thừa:

  • Khái niệm gia đình: Luận án sử dụng định nghĩa của Trần Đức Ngôn và Nguyễn Thị Việt Hương: Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ hôn nhân, gắn bó về tình cảm, kinh tế, trách nhiệm, chịu sự ràng buộc pháp lý được xã hội và nhà nước thừa nhận, bảo vệ.
  • Khái niệm văn hóa gia đình: Luận án sử dụng định nghĩa của Lê Ngọc Văn (2008): Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho từng cộng đồng, tộc người, hình thành qua lịch sử lâu dài gắn với điều kiện kinh tế, tự nhiên và xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Văn hóa học - Dân tộc học - Xã hội học:

  1. Phương pháp phân tích tài liệu: Khai thác, tổng hợp các tư liệu lịch sử, dân tộc học, văn hóa học, các văn bản chính sách và số liệu thống kê kinh tế - xã hội liên quan.
  2. Phương pháp quan sát tham dự: Thực hiện các đợt điền dã trực tiếp tại các gia đình người Tày ở 04 địa bàn: TP. Cao Bằng, huyện Thạch An, huyện Phục Hòa và huyện Bảo Lạc.
  3. Phương pháp điều tra xã hội học:
    • Nghiên cứu định lượng: Thiết kế bảng hỏi với khoảng 40 tiêu chí. Mẫu khảo sát gồm 400 phiếu phát ra và thu về 400 phiếu hợp lệ (đạt 100%), phân bổ đều tại 4 địa bàn (mỗi địa bàn 100 phiếu):
      • Huyện Bảo Lạc: 100 phiếu
      • Huyện Phục Hòa: 100 phiếu
      • Huyện Thạch An: 100 phiếu
      • Thành phố Cao Bằng: 100 phiếu
    • Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu bằng bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn đối với các nhóm đối tượng: già làng, trưởng bản, trưởng họ, thầy cúng (tào, then, pụt), cán bộ chính quyền địa phương, cán bộ văn hóa - xã hội và người dân thuộc nhiều lứa tuổi, giới tính.
  4. Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh: Dùng để xử lý dữ liệu khảo sát và đối chiếu các giai đoạn biến đổi.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa Cao Bằng; số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009 (toàn tỉnh Cao Bằng có 207.805 người Tày, chiếm 41% dân số toàn tỉnh và chiếm 25,2% tổng số người Tày tại Việt Nam).
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: 400 phiếu trưng cầu ý kiến định lượng và các biên bản ghi chép phỏng vấn sâu, quan sát điền dã tại 4 địa bàn nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, những vấn đề lý luận chung và khái quát về gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng

Chương này tập trung trình bày ba khối nội dung chính: tổng quan lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước; hệ thống hóa cơ sở lý luận về cấu trúc, chức năng của gia đình và văn hóa gia đình; khái quát bức tranh toàn diện về tộc người Tày tại tỉnh Cao Bằng.

  1. Nguồn gốc và lịch sử tộc người Tày:

    • Người Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngành phía Đông), có nguồn gốc lịch sử từ di duệ Lạc Việt và Tây Âu cổ đại. Tên gọi qua các thời kỳ: đời Đường gọi là Liêu, đời Tống đến đầu thế kỷ XX gọi là Thổ, từ năm 1956 (thành lập Khu tự trị Việt Bắc) tên gọi Tày chính thức được sử dụng.
    • Cộng đồng người Tày là kết quả hợp tộc lâu dài từ cư dân bản địa cổ xưa, các đợt di cư của người Kinh lên làm quan (Lưu quan triều Lý, Lê, thời kỳ nhà Mạc đóng đô tại Cao Bằng thế kỷ XVI, thầy đồ, dân chạy loạn) bị Tày hóa, và các nhóm di cư khác. Bế Huỳnh trong Cao Bằng tạp chí nhật tập (1921) từng chia người Thổ thành 4 nhóm: Thổ Ty, Phụ Đạo, Thổ Trước và Biến Thổ.
    • Theo truyền thuyết Pú Lương Quân, thủy tổ người Tày là Pú Luông và Già Cải sinh sống tại Ngườm Ngả (Cao Bằng), sinh ra một trăm người con.
  2. Văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày:

    • Văn hóa vật chất: Ăn uống theo mùa vụ và lễ tết (Tết Đoan Ngọ "Đắp nọi", Thanh minh 3/3, 5/5, 6/6, 14/7, 9/9, Đông chí, Tết Nguyên đán; các món nựa láp, nựa xổm, bánh pẻng tải, khẩu sli; uống rượu nếp lẩu van, tục chúc hồng). Nhà ở gồm nhà sàn 3 tầng (tầng đất nuôi gia súc, tầng sàn sinh hoạt và thờ cúng, tầng gác chứa nông sản) và nhà đất 3 gian 2 trái. Trang phục truyền thống nhuộm chàm; nam mặc áo xẻ ngực, quần chân què; nữ mặc áo dài 5 thân ("Cần slửa khao"), váy quây, vấn khăn chít mỏ quạ, đeo trang sức bạc.
    • Văn hóa tinh thần: Quan niệm về "khoăn" (con trai có 7 khoăn, con gái có 9 khoăn; tục gọi khoăn đầu năm); quan niệm cõi người ("mường gần") và cõi âm ("mường phi"). Bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa gồm 4 bát nhang: bát I thờ bảo mệnh toàn gia, bát II thờ Đẳm (tổ tiên 3 đời), bát III thờ phi Ham (ma hàm sắc tào/then/pụt), bát IV thờ slớ mẻ bióoc (bà mụ). Ngoài ra còn thờ ma bếp lửa ("phi phỉng phầy"), ma gia súc ("phi lảng lậu"), ma chết đường/chết trẻ ngoài hiên ("phi slương"), thờ Thổ công đầu bản và miếu Thiêng slấn (thần Nông). Nghệ thuật dân gian gồm hát then, đàn tính (đàn tẩu), hát quan lang, hát cỏ lẩu, múa sluông, múa chầu, lễ hội lồng tồng, nàng Hai, pháo hoa.
  3. Đặc điểm gia đình, dòng họ và tổ chức xã hội:

    • Gia đình người Tày mang tính chất phụ hệ, phụ quyền, con mang họ cha, coi trọng con trai để tế tự và thừa kế "phần hương hỏa". Trường hợp không có con trai thì thực hiện tục lấy rể "nạp tế" (rể đời). Mặc dù mang tính phụ quyền nhưng gia đình người Tày duy trì quan hệ nội bộ hòa thuận, dân chủ.
    • Dòng họ (các họ Nông, Ma, Hoàng, Chu, La, Vi, Bế, Lanh, Phùng, Nguyễn...) lưu giữ gia phả chữ Nôm Tày, tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc ngoại hôn dòng họ ("lượt lài", "đúc lượt"). Phân định họ nội ("pjạng nả") thân hơn họ ngoại ("pjảng lăng"). Làng bản ("Bản", "Nà", "Khuổi") gồm 20-30 nóc nhà định cư ven sông suối, thung lũng.

Chương 2: Văn hóa gia đình truyền thống của người Tày ở tỉnh Cao Bằng

Chương 2 phân tích sâu sắc các biểu hiện và điều kiện hình thành của văn hóa gia đình truyền thống người Tày (trước mốc năm 1986) qua 04 thành tố:

  1. Những biểu hiện của văn hóa gia đình truyền thống:

    • Quan niệm về hôn nhân: Hôn nhân mang tính chất sắp đặt của cha mẹ ("cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy"), đề cao môn đăng hộ đối, sự tương đồng về gia cảnh và đạo đức dòng họ; hôn nhân bền vững, tỷ lệ ly dị hầu như không đáng kể; coi trọng vai trò môi giới của người làm mai mối.
    • Các nghi lễ gia đình: Hệ thống nghi lễ chu kỳ đời người diễn ra nghiêm ngặt từ nghi lễ sinh đẻ (lễ bán khoán, lễ cúng mụ), nghi lễ cưới xin phức tạp với nhiều bước và diễn xướng hát đối đáp quan lang, hát cỏ lẩu giữa nhà trai và nhà gái; nghi lễ tang ma với sự tham gia của Thầy Tào và đồ phúng viếng theo tục lệ; nghi lễ thờ cúng tổ tiên, lễ cầu tự và các ngày lễ tết cổ truyền.
    • Giáo dục trong gia đình: Thực hiện chủ yếu bằng phương thức truyền khẩu, nêu gương của ông bà, cha mẹ; giáo dục ý thức lao động từ sớm (14-15 tuổi con trai thạo cày bừa nương rẫy, con gái thạo dệt vải, thêu thùa, nấu nướng nội trợ).
    • Ứng xử trong gia đình: Tôn ti trật tự theo nguyên tắc "kính trên nhường dưới", hiếu kính với ông bà cha mẹ, hòa thuận vợ chồng, cha mẹ ít dùng bạo lực hay đánh mắng con cái.
  2. Những điều kiện hình thành văn hóa gia đình truyền thống:

    • Điều kiện tự nhiên - địa lý vùng thung lũng núi cao hiểm trở, biệt lập tạo nên tính khép kín của cộng đồng bản làng.
    • Phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước kết hợp kinh tế nương rẫy và chăn nuôi đòi hỏi sự liên kết lao động chặt chẽ giữa các thành viên gia đình và dòng họ.
    • Thiết chế xã hội làng bản truyền thống và sự giao lưu văn hóa lịch sử lâu đời giữa người Tày với người Việt và người Nùng.

Chương 3: Sự biến đổi văn hoá gia đình truyền thống của người Tày ở tỉnh Cao Bằng

Chương 3 trình bày các kết quả điều tra định lượng và định tính, chỉ ra diện mạo biến đổi của văn hóa gia đình người Tày từ sau năm 1986 đến nay.

  1. Những biểu hiện của sự biến đổi qua số liệu khảo sát:
    • Biến đổi về cấu trúc và quy mô gia đình: Quy mô gia đình thu hẹp, mô hình gia đình hạt nhân (2 thế hệ) trở nên phổ biến, thay thế dần mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ sống chung.
    • Biến đổi quan niệm hôn nhân và quy mô sinh con: Độ tuổi kết hôn tăng lên, thanh niên có quyền tự do tìm hiểu và quyết định hôn nhân thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ; tiêu chí xây dựng gia đình dựa trên tình yêu và kinh tế tự chủ; quan niệm bình đẳng hơn về giới tính của con cái (giảm bớt áp lực sinh con trai); cởi mở hơn đối với hôn nhân hỗn hợp dân tộc.
    • Biến đổi trong nghi lễ gia đình: Nghi lễ cưới hỏi và tang ma được tinh giản các thủ tục rườm rà; trang phục cưới truyền thống dần thay thế bằng trang phục hiện đại; một số nghi lễ tín ngưỡng cổ truyền có xu hướng đơn giản hóa.
    • Biến đổi trong giáo dục và ứng xử: Nhà trường và xã hội san sẻ chức năng giáo dục với gia đình; quan hệ vợ chồng và cha con trở nên bình đẳng, dân chủ hơn; sự tham gia của gia đình vào các hoạt động cộng đồng có sự chuyển biến về tần suất và hình thức.

Dưới đây là danh mục 15 bảng thống kê định lượng được sử dụng trong Chương 3 để lượng hóa các nội dung biến đổi:

STT Tên bảng thống kê Trang trong luận án
1 Bảng 1: Các thế hệ sống chung trong một gia đình 90
2 Bảng 2: Quan niệm về số con trong gia đình 91
3 Bảng 3: Ý nghĩa của việc sinh con trai (con gái) trong gia đình 91
4 Bảng 4: Vai trò của bố (mẹ) đối với hôn nhân của con cái 94
5 Bảng 5: Tuổi kết hôn của người Tày (cả nam và nữ) 94
6 Bảng 6: Tiêu chí xây dựng gia đình 95
7 Bảng 7: Việc thực hiện các nghi lễ trong đám cưới 96
8 Bảng 8: Trang phục trong lễ cưới hiện nay 97
9 Bảng 9: Quan niệm về hôn nhân hỗn hợp dân tộc 100
10 Bảng 10: Việc thờ cúng trong gia đình 101
11 Bảng 11: Việc tổ chức các lễ, tết trong năm 102
12 Bảng 12: Đồ lễ phúng viếng trong đám ma 106
13 Bảng 13: Hình thức giáo dục trong gia đình 109
14 Bảng 14: Vai trò của các thành viên trong việc giáo dục con cái 110
15 Bảng 15: Tần suất tham gia các hoạt động cộng đồng của gia đình 115
  1. Đánh giá về sự biến đổi:
    • Mặt tích cực: Giải phóng cá nhân, đề cao tự do hôn nhân, thực hiện bình đẳng giới, nâng cao mức sống vật chất và dân trí, loại bỏ các hủ tục tốn kém trong việc cưới, việc tang.
    • Mặt tiêu cực và bất ổn định (loạn chức năng): Chức năng giáo dục đạo đức truyền thống bị suy giảm trước ảnh hưởng của lối sống thực dụng; sự phai nhạt ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng Tày) và trang phục dân tộc ở thế hệ trẻ; gia tăng nguy cơ rạn nứt hôn nhân, ly hôn và xung đột thế hệ giữa ông bà và con cháu.

Chương 4: Những yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hoá gia đình truyền thống của người Tày ở tỉnh Cao Bằng, dự báo xu hướng biến đổi và những vấn đề đặt ra hiện nay

  1. Những yếu tố tác động đến sự biến đổi:

    • Kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình tham gia sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
    • Quá trình đô thị hóa và giao lưu mở cửa biên giới: Tác động trực tiếp đến lối sống, đặc biệt tại địa bàn TP. Cao Bằng và vùng cửa khẩu Phục Hòa.
    • Chính sách, pháp luật của Nhà nước: Luật Hôn nhân và Gia đình, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và cuộc vận động xây dựng "Gia đình văn hóa".
    • Sự phát triển của truyền thông và giáo dục hiện đại: Mở rộng giao lưu tiếp xúc văn hóa, làm thay đổi thị hiếu, lối sống của giới trẻ.
  2. Dự báo xu hướng biến đổi:

    • Cấu trúc gia đình hạt nhân tiếp tục là xu hướng chủ đạo; tính chất dân chủ và bình đẳng trong quan hệ gia đình ngày càng được khẳng định.
    • Các nghi lễ vòng đời tiếp tục được tinh giản theo hướng văn minh, tiết kiệm; tuy nhiên các giá trị tâm linh cốt lõi (thờ cúng tổ tiên, hiếu thảo) vẫn duy trì bền vững như chiếc van an toàn tâm lý.
    • Nguy cơ suy giảm việc sử dụng tiếng Tày và trang phục truyền thống trong sinh hoạt gia đình thường nhật nếu không có giải pháp bảo tồn đồng bộ.
  3. Những vấn đề đặt ra hiện nay:

    • Giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống và tiếp nhận các giá trị văn hóa hiện đại.
    • Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội nhằm ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức và bạo lực gia đình.
    • Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gắn liền với gia đình người Tày (nghệ thuật hát then, hát quan lang, chữ Nôm Tày).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về văn hóa gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng dưới góc độ Văn hóa học.
  • Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng để phân tích toàn diện sự vận động, biến đổi của các thành tố văn hóa gia đình tộc người thiểu số trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế - xã hội.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Tập hợp hệ thống tư liệu điền dã phong phú và nguồn dữ liệu điều tra định lượng (400 phiếu khảo sát) phản ánh trung thực thực trạng văn hóa gia đình người Tày ở Cao Bằng trong cả hai giai đoạn: truyền thống (trước 1986) và hiện nay.
  • Cung cấp các dự báo khoa học về xu hướng biến đổi văn hóa gia đình, làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý văn hóa và hoạch định chính sách dân tộc tại địa phương.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí "Gia đình văn hóa" phù hợp với đặc thù văn hóa tộc người Tày tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biên giới.
  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Hôn nhân và Gia đình gắn với việc kế thừa các phong tục tập quán tốt đẹp, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan.
  • Đưa chương trình giảng dạy tiếng Tày, chữ Nôm Tày và các loại hình nghệ thuật dân gian (then, đàn tính, hát quan lang) vào trường học và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nội hàm văn hóa gia đình rất rộng, luận án chỉ tập trung khảo sát 04 thành tố cơ bản (hôn nhân, nghi lễ, giáo dục, ứng xử). Mẫu khảo sát định lượng (400 phiếu) dù được chọn lọc đại diện tại 4 địa bàn đặc trưng (thành thị, thuần nông, biên giới, đa tộc người) nhưng chưa thể bao quát toàn bộ 13 huyện, thành phố của tỉnh Cao Bằng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh văn hóa gia đình người Tày ở Cao Bằng với người Tày ở các tỉnh Đông Bắc lân cận (Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang) hoặc so sánh đối sánh với các tộc người cùng nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (như người Nùng, người Thái).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học, Nhân học văn hóa.
  • Giá trị thực tiễn: Cung cấp luận cứ khoa học cho cán bộ làm công tác quản lý văn hóa, cán bộ chính quyền cơ sở, Ban Dân tộc và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng trong việc xây dựng chính sách phát triển văn hóa gia đình, xây dựng nông thôn mới và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn khung thời gian và 4 địa bàn khảo sát nào tại tỉnh Cao Bằng?

Luận án chọn mốc năm 1986 (công cuộc Đổi mới) làm ranh giới thời gian để phân định giữa văn hóa gia đình truyền thống và hiện nay. Bốn địa bàn khảo sát gồm: Thành phố Cao Bằng (khu vực đô thị), Huyện Thạch An (nơi người Tày cư trú tập trung đông nhất), Huyện Phục Hòa (khu vực giao lưu buôn bán qua cửa khẩu), và Huyện Bảo Lạc (khu vực người Tày sống cùng các dân tộc thiểu số khác).

2. Tác giả luận án giới hạn nghiên cứu văn hóa gia đình qua những thành tố nào?

Luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu văn hóa gia đình của người Tày ở Cao Bằng qua 04 thành tố cơ bản:

  1. Quan niệm về hôn nhân.
  2. Các nghi lễ gia đình.
  3. Giáo dục trong gia đình.
  4. Ứng xử trong gia đình.

3. Trong tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Tày Cao Bằng, bàn thờ tổ tiên có bao nhiêu bát nhang và thờ những đối tượng nào?

Bàn thờ tổ tiên của người Tày đặt tại gian giữa trang trọng nhất trong nhà, gồm 4 bát nhang:

  • Bát thứ nhất (bên phải): Thờ bảo mệnh toàn gia (vía của cả nhà).
  • Bát thứ hai: Thờ Đẳm (tổ tiên ba đời).
  • Bát thứ ba: Thờ "phi Ham" (ma hàm sắc - dành cho gia đình có người hành nghề tào, then, pụt).
  • Bát thứ tư: Thờ "slớ mẻ bióoc" (thờ bà mụ trông nom trẻ nhỏ).

4. Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra định lượng của luận án được thực hiện như thế nào?

Luận án thiết kế bảng hỏi gồm khoảng 40 tiêu chí và tiến hành điều tra ngẫu nhiên với quy mô 400 phiếu (thu về 400 phiếu hợp lệ), phân bổ đồng đều tại 4 địa bàn: Huyện Bảo Lạc (100 phiếu), Huyện Phục Hòa (100 phiếu), Huyện Thạch An (100 phiếu) và Thành phố Cao Bằng (100 phiếu).

5. Luận án vận dụng thuyết cấu trúc - chức năng của những học giả tiêu biểu nào?

Luận án vận dụng quan điểm lý thuyết cấu trúc - chức năng từ các học giả xã hội học tiêu biểu gồm: Talcott Parsons (về cấu trúc hệ thống, vai trò công cụ và biểu cảm theo giới, chức năng xã hội hóa), Robert Merton (về phản chức năng và hành vi sai lệch), Peter Blau (về tương tác và liên kết xã hội), kết hợp với luận điểm về chức năng gia đình của George Murdock và William J. Goode.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Văn hoá gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng" của tác giả Nông Anh Nga là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Văn hóa học, vận dụng hiệu quả lý thuyết cấu trúc - chức năng và phương pháp liên ngành để phân tích diện mạo văn hóa gia đình tộc người Tày. Thông qua việc phân tích 04 thành tố cốt lõi (hôn nhân, nghi lễ, giáo dục, ứng xử) trên cơ sở kết hợp dữ liệu định tính và 400 phiếu khảo sát định lượng tại 4 địa bàn đặc trưng, luận án đã làm sáng tỏ quy luật biến đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại sau mốc năm 1986. Công trình mang lại những đóng góp rõ nét về mặt học thuật và cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn tin cậy phục vụ công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng hiện nay.