chương 1) để cung cấp những thông tin cơ bản về người Hmông ở Việt Nam như: tộc danh, nguồn gốc và lịch sử di cư, các nhóm Hmông và địa vực cư trú của người Hmông ở Việt Nam. Nội dung chính của công trình đi vào nghiên cứu và chỉ ra nền kinh tế truyền thống của người Hmông ở Việt Nam và những biến đổi hiện nay. Đó là kinh tế nương rẫy với những kỹ thuật canh tác trên nương du canh hay định canh; là các nghề thủ công (đan lát, dệt vải, nhuộm vải, rèn đúc…); nghề chăn nuôi, săn bắt và hái lượm; buôn bán… Tác giả nhận xét: “Điều dễ nhận thấy là, kinh tế truyền thống của người Hmông là nền kinh tế hoàn toàn tự phát, mang tính tự cung, tự cấp rất cao. Mỗi gia đình người Hmông trở thành một đơn vị kinh tế với những hoạt động “tự sản, tự tiêu” rất điển hình, yếu tố đó cho thấy nền kinh tế truyền thống của họ không mang tính cộng đồng, càng không phải là nền tảng cho sự cố kết và thống nhất” (tr.
Tác giả cũng chỉ ra rằng, với ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, cơ cấu kinh tế của người Hmông cũng đã có sự thay đổi. Người nông dân Hmông đã biết tự điều chỉnh, tiếp nhận một số yếu tố mới nhằm nâng cao kỹ năng lao động và thay đổi mục tiêu canh tác truyền thống, lấy việc phát triển những cây, con cho hiệu quả kinh tế cao thay cho việc trồng cây lương thực truyền thống (tr. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại xuất hiện khi có những biến đổi về đời sống kinh tế người Hmông đó chính là vấn đề di cư tự do. Điều này không chỉ làm cho đời sống của những người Hmông di cư thêm khó khăn mà còn tạo nhiều yếu tố nhạy cảm bởi sự xúi dục của một số kẻ xấu, khiến cho đời sống của nhóm người này càng chịu thêm rủi ro và thử thách (tr.
luan an 12 Bên cạnh việc chỉ ra đời sống kinh tế truyền thống của người Hmông, công trình còn chỉ ra xã hội truyền thống của người Hmông ở Việt Nam và những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay. Đó là một số biến đổi trong gia đình, dòng họ cũng như những nghi thức tôn giáo trong các gia đình, dòng họ Hmông truyền thống. Cuối cùng, tác giả rút ra 5 kết luận (tr.232): Một là Kinh tế của người Hmông là sự tổng hoà của các hoạt động mưu sinh mà nông nghiệp nương rẫy đóng vai trò chủ đạo, thể hiện tính tự cung tự cấp cao; Hai là người Hmông ở Việt Nam là dân tộc có hệ thống kiến thức bản địa đặc thù khi thể hiện hai phương thức canh tác với hai kỹ năng sản xuất khác nhau trong cùng môi trường rẻo và cao nguyên; Ba là dòng họ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội truyền thống của người Hmông; Bốn là xã hội truyền thống của người Hmông thể hiện sự cố kết mạnh mẽ từ gia đình đến cộng đồng dòng họ, làng bản, dân tộc. Năm là Xã hội truyền thống của người Hmông mang nặng tính cố hữu và khép kín.
Nhìn chung, hai công trình này khá quan trọng để tác giả luận án nghiên cứu và sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho phần chương 2 của luận án. Tuy nhiên, công trình này còn sơ sài khi nói về sự biến đổi trong gia đình, dòng họ cũng như lý giải những nguyên nhân của sự biến đổi ấy. Đặc biệt về phương diện số liệu thống kê minh chứng cho sự biến đổi về kinh tế, xã hội của người Hmông còn khá hạn chế. Ngoài ra, tác giả Vương Duy Quang còn có bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành về vấn đề này như: Sự cải đạo theo Ki tô giáo của một bộ phận người Hmông ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á từ cuối thế kỷ XIX đến nay [65].
Bài viết đã phân tích quá trình cải đạo từ truyền thống sang đạo Ki-tô giáo của người Hmông ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Vấn đề người Mông theo Kitô giáo hiện nay [63]… luan an 13 Bên cạnh những công trình nói chung về đời sống xã hội của người Hmông ở Việt Nam thì còn một số các công trình nghiên cứu về đời sống của người Hmông trên những vấn đề hẹp hơn (văn học, dân ca, âm nhạc…) hay ở những địa bàn cư trú cụ thể (Thanh Hoá, Nghệ An,…). Có thể kể đến như: Văn hóa người Hmông ở Nghệ An, của Hoàng Xuân Lương [48]. Tác giả làm sáng tỏ nguồn gốc lịch sử, các đặc trưng văn hóa của tộc người Hmông tại Nghệ An. Nội dung gồm ba chương: chương một và chương hai đề cập đến điều kiện tự nhiên, lịch sử và sinh hoạt vật chất, văn hóa của người Hmông ở Nghệ An; chương ba những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Hmông ở Nghệ An.
Tác giả đã đề cập vấn đề truyền đạo Tin Lành gắn với khối đại đoàn kết dân tộc, tiếp cận Tin Lành ở góc độ chính trị, nêu lên hệ quả mà Tin Lành - Vàng Chứ gây ra đó là Vàng Chứ phát triển tới đâu, cộng đồng người Hmông bị chia cắt tới đó; Đời sống văn hoá dân tộc Hmông của Phạm Hổ Đấu, Trần Thị Liên [23]. Công trình này đã giới thiệu tổng quan về đời sống kinh tế - vật chất, đời sống văn hoá - tinh thần, đời sống văn hoá tâm linh của người Hmông trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá; Những bài khèn Hmông ở Hà Giang của Hùng Đình Quý [68]. Đây là tác phẩm song ngữ Hmông - Việt, được trình bày công phu 270 trang, gồm 13 bài ca, 42 bài khèn trong tang lễ và một số bài giới thiệu về lễ Ma bò của người Hmông; Những đỉnh núi du ca, một lối tìm về cá tính Hmông của tác giả Nguyễn Mạnh Tiến [83]. Tác giả đã trình bày khá phong phú, công phu về người Hmông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, tác giả tập trung nghiên cứu qua điền dã người Hmông ở cao nguyên Đồng Văn.
Tác giả đã phân tích các dữ kiện dân tộc học về người Hmông từ nhiều phương diện, nhưng chủ yếu dưới góc độ văn học nhằm lý giải các đặc điểm bản chất trong tâm thức Hmông, tộc người sinh sống ở những đỉnh núi cao. Qua đó tác giả có lý giải đến nhận định về bức tranh quyền lực tộc người trong các dân tộc ở miền núi phía Bắc. Tác luan an 14 giả nhận định về sứ mạnh quyền lực của người Hmông, được gọi là quyền lực đỉnh núi; Dân tộc Hmông Sơn La với việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo hiện nay, do Thào Xuân Sùng chủ biên [75]. Tác giả nhìn vấn đề người Hmông và tôn giáo từ góc độ của nhà quản lý, đề cập đến thực tế người Hmông ở Sơn La và đưa ra nguyên nhân của việc đạo Công giáo và Tin Lành thâm nhập và phát triển trong đời sống của người Hmông tại địa phương này, từ đó đã nêu ra những kinh nghiệm, giải pháp và phương hướng giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong dân tộc Hmông ở Sơn La; Về động thái ứng xử với bệnh tật của người Hmông của Nguyễn Văn Thắng [78].
Bài viết phân tích sự biến đổi trong cách ứng xử truyền thống với bệnh tật của người Hmông ít nhiều có liên quan đến tôn giáo, biến thể theo các nhóm tôn giáo, như Công giáo, Tin Lành (Vàng chứ); Kiều Trung Sơn với bài viết “Biến đổi tín ngưỡng Hmông- thực tế và trăn trở” [70] phân tích sự biến đổi hay thay đổi tín ngưỡng truyền thống của người Hmông không chỉ vì nguyên nhân từ việc ảnh hưởng truyền bá của tôn giáo mới là Công giáo hay Tin Lành, mà sự chuyển biến này xuất phát từ nội tại của tín ngưỡng người Hmông. Nhìn chung, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về nhiều mặt, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau của đời sống xã hội người Hmông ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mang tính tổng thể đời sống xã hội của người Hmông theo đạo Tin Lành ở địa bàn miền núi phía Bắc dưới góc độ tôn giáo học thì chưa có công trình nào đề cập đến. Thông qua những công trình này, tác giả luận án đã bước đầu nhận diện được những nét chung nhất về đời sống xã hội của người Hmông truyền thống (được trình bày trong phần 2.1) như: nguồn gốc lịch sử di cư, tên gọi, ngôn ngữ, địa vực cư trú và việc phân loại các nhóm Hmông ở Việt Nam nói chung, ở Miền núi phía Bắc nói riêng.
Đời sống kinh tế với các phương thức kinh tế truyền thống như: Trồng lúa, cây công nghiệp và cây dược liệu; Kinh luan an 15 tế chăn nuôi với một số gia súc, gia cầm chủ yếu như: trâu, bò, lợn, gà,…; Kinh tế tiểu thủ công nghiệp với các nghề như dệt, rèn, mộc, đan lát,… Đời sống tôn giáo tín ngưỡng, tôn giáo; các quan hệ trong xã hội cổ truyền trong gia đình, dòng họ,… Không thể không kể đến những học giả người nước ngoài nghiên cứu về đời sống xã hội của người Hmông. Một trong những công trình nghiên cứu người Hmông sớm nhất là F. Savina, Histoire des Ueao [124]. Francis Savina vốn là một thừa sai đi truyền đạo Công giáo lên vùng miền núi phía Bắc.
Ông đã rất yêu vùng đất này và có một thời gian dài sống cùng người Hmông nên ông hiểu khá rõ về ngôn ngữ, lịch sử, văn hoá, phong tục, tập quán, suy nghĩ, thói quen, tính cách và những khát vọng của họthông qua những ghi chép của ông hàng ngày về người Hmông cũng như cộng đồng của họ. Ông cũng chính là người đã dịch Kinh thánh sang tiếng Hmông để phục vụ cho công việc truyền đạo, khéo léo gắn kết một số điểm tương đồng giữa các tích trong Kinh thánh như con thuyền No-e, nạn hồng thủy, tháp Babel, giáo lý Kitô với những tích truyện của người Hmông. Qua đó, ông muốn chứng minh nguồn gốc của người Hmông là từ phương Tây tới. Theo đó, sau sự việc về tháp Babel và sự lẫn lộn ngôn ngữ, người Hmông tiến lên cư trú trên một quả đồi cao, trọc, phủ đầy băng tuyết, ở đó bóng tối kéo dài 6 tháng và ánh sáng cũng kéo dài 6 tháng.
Truyền thuyết về vũ trụ của người Hmông hầu như giống hệt của người Chaldee. Chỉ có người Chaldee, người Ámênia và người Hmông là còn nhớ truyền thuyết về tháp Babel. Từ đó, ông đưa ra giả thuyết thời nguyên thuỷ người Hmông sống ở vùng Lưỡng Hà, từ đó họ đi về phía Bắc, hoặc qua miền Capca hoặc qua Turkestan vào thời kỳ không xác định được.