Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kiến trúc của tác giả Đặng Xuân Tiến với đề tài "Tổ chức không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum" (Mã ngành: 9 58 01 01) được thực hiện tại Viện Kiến trúc Quốc gia dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trương Văn Quảng và PGS. Hoàng Vĩnh Hưng, bảo vệ năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Vùng Tây Nguyên chiếm 16,5% diện tích cả nước, là địa bàn chiến lược về chính trị, kinh tế và là nơi cộng cư của 44 tộc người. Tỉnh Kon Tum nằm ở cực bắc Tây Nguyên, có vị trí địa - chính trị trên ngã ba Đông Dương với 28 dân tộc cùng sinh sống. Dân tộc Xơ Đăng (hay Xê Đăng) có số dân khoảng gần 127.000 người tại Kon Tum, chiếm tỷ lệ đông thứ hai sau người Kinh.

Trước tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch Nông thôn mới và các chương trình tái định cư, các làng người Xơ Đăng đang có xu hướng dịch chuyển về phía các trục tỉnh lộ và khu vực trung tâm. Quá trình này tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong cấu trúc không gian cư trú và hình thái kiến trúc truyền thống (nhà Rông, nhà ở, nhà mồ). Các cấu kiện, vật liệu tự nhiên (gỗ, tranh, tre nứa) dần bị thay thế bằng bê tông, tôn, ngói và tấm lợp fibro-ximăng. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về quy luật biến đổi, nguyên nhân chuyển hóa hình thái làng và cấu trúc kiến trúc truyền thống người Xơ Đăng nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản văn hóa bản địa với yêu cầu hiện đại hóa hạ tầng nông thôn mới.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Phát hiện đặc điểm của sự biến đổi và sự tương tác giữa các yếu tố vật thể và phi vật thể trong cấu trúc không gian làng và kiến trúc truyền thống của dân tộc Xơ Đăng theo từng giai đoạn phát triển.
  2. Đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức không gian mang tính thích ứng, kết hợp giữa việc bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống với việc đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hiện đại và tiêu chí xây dựng Nông thôn mới tại tỉnh Kon Tum.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc không gian làng và các thể loại kiến trúc truyền thống (nhà Rông, nhà sàn dài, nhà sàn ngắn, khu nghĩa địa) của dân tộc Xơ Đăng tại tỉnh Kon Tum.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Kon Tum, trong đó tập trung khảo sát điển hình và áp dụng khảo thí tại địa bàn huyện Tu Mơ Rông (khu vực có 98 làng người Xơ Đăng thuần nhất, ít bị xáo trộn bởi sự cộng cư của các dân tộc khác) và nghiên cứu thực nghiệm tại xã Đăk Na.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích tiến trình biến đổi không gian truyền thống từ các giai đoạn lịch sử trước năm 1975, giai đoạn sau năm 1975 đến nay; đề xuất giải pháp quy hoạch và kiến trúc định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo các chiến lược phát triển văn hóa của Nhà nước.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo hai mốc thời gian chính:

  1. Giai đoạn trước năm 1975:

    • Các công trình khảo cứu dân tộc học, địa chí của các học giả, nhà truyền giáo và nhà nghiên cứu người Pháp như J. Kemlin, P. Guilleminet, G. Condominas. Các tài liệu này tập trung ghi chép mô tả phong tục, tập quán, tổ chức xã hội truyền thống và mô tả hình thái bên ngoài của buôn làng, nhà Rông, nhà dài của các nhóm tộc người Tây Nguyên.
  2. Giai đoạn sau năm 1975:

    • Hướng nghiên cứu dân tộc học và nhân học văn hóa: Các công trình của Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Khắc Tụng, Lưu Hùng, Ngô Đức Thịnh, Rơ Đăm Bích Ngọc nghiên cứu về cơ cấu buôn làng cổ truyền, văn hóa mẫu hệ/phụ hệ, không gian văn hóa cồng chiêng, hình thái nhà Rông và nhà sàn truyền thống.
    • Hướng nghiên cứu kiến trúc và quy hoạch nông thôn miền núi: Các nghiên cứu của các viện chuyên ngành kiến trúc, quy hoạch của Bộ Xây dựng, các trường đại học về kiến trúc dân gian truyền thống các dân tộc thiểu số, nhà ở nông thôn thích ứng với thiên tai và quy chuẩn quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu dân tộc học trước đây đã mô tả chi tiết về văn hóa và hình thái kiến trúc đơn lẻ, các công trình này chủ yếu dừng lại ở góc độ khảo tả tĩnh, chưa đặt không gian làng và kiến trúc Xơ Đăng trong mối quan hệ động học của quy hoạch xây dựng hiện đại. Các nghiên cứu kiến trúc trước đây thường xem xét chung cho toàn vùng Tây Nguyên (với đại diện điển hình là người Gia Rai, Ba Na, Ê Đê), thiếu các phân tích định lượng và định tính chuyên sâu về sự phân hóa hình thái cấu trúc làng và biến đổi kiến trúc của riêng tộc người Xơ Đăng tại Bắc Tây Nguyên. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung lý thuyết chuyển hóa, thiết lập bộ tiêu chí đánh giá và đề xuất mô hình phân loại làng gắn liền với giải pháp quy hoạch nông thôn mới tại địa phương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng ba nhóm lý thuyết quy hoạch và kiến trúc làm nền tảng phân tích:

  • Lý thuyết về tổ chức không gian làng và điểm dân cư nông thôn: Nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa địa hình tự nhiên, cấu trúc cư trú và không gian sản xuất (nương rẫy, ruộng nước, rừng săn bắn, bến nước).
  • Lý thuyết chuyển hóa trong quy hoạch và kiến trúc (Transformation theory): Nhận diện các quy luật biến đổi về hình thái hình học của mạng lưới giao thông, vị trí trung tâm làng và sự biến đổi công năng, vật liệu cấu trúc của công trình kiến trúc qua các thời kỳ.
  • Lý thuyết về khả năng phục hồi và thích ứng (Resilience and Adaptation theory): Xác định khả năng tự điều chỉnh, chống chịu của cấu trúc không gian truyền thống trước các áp lực của biến đổi khí hậu, thiên tai và các can thiệp quy hoạch hành chính.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp khảo sát thực địa và điều tra xã hội học: Thu thập tư liệu hiện trạng thông qua đo vẽ kiến trúc, chụp ảnh không gian, phỏng vấn sâu già làng, trưởng bản, cán bộ quản lý địa phương và phát phiếu điều tra quy mô buôn làng tại 98 làng thuộc huyện Tu Mơ Rông.
  2. Phương pháp phân tích hình thái không gian (Spatial Morphology Analysis): Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh (Google Earth) kết hợp bản đồ địa hình và bản đồ quy hoạch qua các năm (2004, 2016, 2018, 2020) để trích xuất, đối chiếu cấu trúc mặt bằng mạng lưới giao thông, mật độ xây dựng và hình thái phân bố điểm ở.
  3. Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Đối chiếu kinh nghiệm quy hoạch điểm dân cư nông thôn quốc tế (mô hình làng Kremmi Trunka tại Bulgaria, làng Apel tại Hà Lan) và các mô hình trong nước (làng Đhơ Rôồng, làng Anh Nhoi tại Quảng Nam) với điều kiện cụ thể của Kon Tum.
  4. Phương pháp thực nghiệm và kiểm chứng: Áp dụng hệ thống tiêu chí và giải pháp đề xuất vào đồ án quy hoạch xây dựng Nông thôn mới tại xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Cơ sở dữ liệu bản đồ địa hình, bản đồ hành chính tỉnh Kon Tum, huyện Tu Mơ Rông và xã Đăk Na.
  • Dữ liệu thống kê dân số, diện tích, độ che phủ rừng giai đoạn 1943–2017 từ Cục Thống kê và Sở Xây dựng Kon Tum.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, các quyết định tái định cư thủy điện và đề án hỗ trợ nhà ở 167.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum

Chương I trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu, các đặc điểm tự nhiên, văn hóa - xã hội và xác lập diện mạo truyền thống của làng cùng kiến trúc của người Xơ Đăng.

1. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm tộc người

Người Xơ Đăng cư trú chủ yếu tại các sườn núi cao thuộc khối núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum, với các nhóm địa phương chính như Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Ha Lăng, Ca Dong. Điều kiện địa hình chia cắt mạnh hình thành lối sống gắn liền với rừng núi, canh tác nương rẫy kết hợp ruộng bậc thang và vườn rừng.

2. Cấu trúc không gian làng truyền thống

Làng truyền thống của người Xơ Đăng là một đơn vị cư trú độc lập, khép kín, được bao bọc bởi hàng rào tre gỗ kiên cố, có hệ thống hào sâu, cạm bẫy, chông để phòng thủ trước thú dữ và xung đột bộ tộc. Cổng chính là lối tiếp cận được kiểm soát nghiêm ngặt. Các thành phần chức năng của làng bao gồm:

  • Nhà Rông: Đặt tại vị trí trung tâm, thế đất cao ráo nhất làng.
  • Khu nhà ở: Sắp xếp theo các dạng bố cục: hình tròn khép kín quanh nhà Rông, hình bầu dục, hình móng ngựa (nương theo đường đồng mức sườn đồi) hoặc hình dạng tự do phân tán theo các "nóc" (mô hình làng Nước Min, Măng Tó).
  • Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và không gian phụ trợ: Bến nước/máng nước ăn, khu kho thóc đặt riêng biệt để phòng hỏa hoạn, khu sản xuất nương rẫy và khu nghĩa địa (rừng ma).

3. Các thể loại kiến trúc truyền thống

  • Nhà Rông: Ngôi nhà chung của buôn làng, đóng vai trò trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa, hội họp và tiếp khách. Tùy theo nhóm địa phương, nhà Rông có các tên gọi khác nhau: nhóm Tơ Đrá và Mơ Nâm gọi là giông, nhóm Xơ Teng gọi là cượt, nhóm Ha Lăng và Ca Dong gọi là mnao. Về hình thái, nhà Rông có mái vút cao thanh thoát, hai đầu nóc uốn cong hình sừng thú hoặc chim chèo bẻo. Kết cấu gồm cột gỗ lớn, dầm chịu lực, sàn lát thân tre/lồ ô đập dập và vách ván gỗ mỏng dựng đứng bao quanh chu vi cột.
  • Nhà ở truyền thống:
    • Nhà sàn dài: Chiều dài từ 20 đến 50m, chiều rộng từ 4 đến 5m, là nơi cư trú của đại gia đình nhiều thế hệ. Nhà được dựng kiên cố một lần, không cơi nới nối thêm gian. Kết cấu khung từ 18–20 cột chôn sâu, hệ dầm xà chằng buộc bằng dây mây, lạt tre. Bố trí 3 cửa: 1 cửa chính ở vách trước nhìn ra nguồn nước/hướng mặt trời mọc; 2 cửa phụ ở hai đầu hồi (cửa hướng Đông gắn với khu nấu nướng/máng nước, cửa hướng Tây dùng khi đón khách đông hoặc có lễ hội).
    • Nhà sàn ngắn: Xuất hiện khi gia đình hạt nhân tách hộ. Không gian gồm gian thờ ở hướng Đông hồi cuối, khu vực ngủ của các thành viên ở hai bên hiên, không gian giữa sinh hoạt chung và bếp nấu đặt liền kề.
  • Khu nghĩa địa (Rừng ma): Người Xơ Đăng không có lễ bỏ mả và không làm tượng nhà mồ như các tộc người Ba Na, Gia Rai. Khu nghĩa địa được bố trí ở vùng đất thấp hơn làng người sống, ẩn sâu trong rừng già. Nơi đây được quan niệm là "ngôi nhà Rông vĩnh cửu" của các linh hồn. Khi vào khu nghĩa địa, người dân phải đứng ngoài cổng hú vang 6 tiếng để xin phép các linh hồn.
  • Vật liệu và trang trí: Công trình sử dụng hoàn toàn vật liệu thảo mộc bản địa (gỗ, lồ ô, tranh, mây tre). Nghệ thuật điêu khắc trang trí sử dụng các hoa văn kỷ hà, biểu tượng chim kling klang, cây rau dớn, mặt trời, mặt trăng trên mặt vì kèo, đầu cột và đỉnh mái.

Chương II: Cơ sở khoa học về tổ chức không gian và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum

Chương II tập trung phân tích hệ thống văn bản pháp lý, các cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và xác định bốn nhóm nhân tố chính chi phối quá trình chuyển hóa không gian cư trú của người Xơ Đăng.

Nhóm nhân tố Nội dung và tác động thực tế
Điều kiện tự nhiên và BĐKH Địa hình đồi núi dốc tạo nên các dạng làng theo đường đồng mức; diện tích rừng suy giảm (từ năm 2004 đến 2016) làm cạn kiệt nguồn gỗ lớn, lồ ô, tranh lợp truyền thống; nguy cơ lũ quét, sạt lở đất thúc đẩy di dời làng.
Phương thức sản xuất Chuyển dịch từ phương thức du canh du cư, nương rẫy tự cấp tự túc sang định canh định cư, phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê) và cây dược liệu (sâm Ngọc Linh); hình thành nhu cầu vận chuyển cơ giới hóa và sân phơi nông sản.
Chính sách Nhà nước Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới; dự án di dân giải phóng mặt bằng các công trình thủy điện; đề án hỗ trợ nhà ở 167; quy chuẩn hóa hệ thống giao thông bê tông và nhà văn hóa thôn.
Quan hệ xã hội và Tín ngưỡng Sự tan rã dần của mô hình đại gia đình để chuyển sang gia đình hạt nhân; sự du nhập của các tôn giáo mới làm suy giảm các nghi lễ gắn liền với không gian nhà Rông và bến nước truyền thống.

Từ việc phân tích các dự án quy hoạch tái định cư tại địa phương (như dự án TĐC thủy điện Plei Krông, sắp xếp dân cư phòng chống thiên tai), tác giả chỉ ra các bất cập: quy hoạch áp đặt chia lô bàn cờ dạng đô thị làm phá vỡ cảnh quan tự nhiên, san gạt địa hình gây nguy cơ sạt lở, và áp dụng mẫu nhà xây gạch kiên cố không phù hợp với thói quen sinh hoạt sàn truyền thống.


Chương III: Giải pháp tổ chức không gian và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum

Chương III là trọng tâm của luận án, đề xuất hệ thống nguyên tắc, tiêu chí phân loại và giải pháp quy hoạch - kiến trúc áp dụng thực nghiệm tại xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông.

1. Đánh giá các xu hướng biến đổi không gian và kiến trúc

  • Biến đổi cấu trúc làng:
    • Xu hướng 1: Từ cấu trúc khép kín phân tán chuyển sang phát triển kéo dài dạng hình xương cá hoặc hình rễ cây bám dọc theo các tuyến đường giao thông liên xã, tỉnh lộ.
    • Xu hướng 2: Chuyển đổi thành cấu trúc ô bàn cờ, răng lược tại các điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư hạ tầng.
    • Xu hướng 3: Chuyển dịch trung tâm làng: nhà văn hóa thôn mới hoặc ngã ba giao thông dần thay thế một phần chức năng sinh hoạt hành chính của nhà Rông.
  • Biến đổi kiến trúc công trình:
    • Xuất hiện công trình phụ (bếp xây, nhà vệ sinh tự hoại) xây dựng bằng vật liệu gạch, tôn áp sát vào khối nhà sàn.
    • Nâng cao cốt sàn, tận dụng không gian gầm sàn làm kho chứa nông cụ, phương tiện cơ giới hoặc chuồng trại cách ly.
    • Thay thế kết cấu: Cột gỗ bằng cột bê tông cốt thép; xà gồ thép; mái tranh thay bằng mái tôn màu, ngói hoặc fibro-ximăng.

2. Hệ thống tiêu chí phân loại làng

Luận án xây dựng bảng tiêu chí định tính và định lượng để phân loại các buôn làng người Xơ Đăng thành ba nhóm quản lý quy hoạch:

3. Giải pháp quy hoạch và kiến trúc cụ thể

  • Quy hoạch không gian làng:
    • Đối với làng bảo tồn: Khoanh vùng bảo vệ lõi làng truyền thống bao quanh nhà Rông; quy hoạch khu vực phát triển mới mở rộng ở vành ngoài theo các nhánh xương cá, không san gạt ồ ạt địa hình.
    • Đối với làng tái thiết: Khôi phục không gian mở công cộng trung tâm, cải tạo hệ thống thoát nước tự nhiên, tái lập mối liên kết giữa khu ở với bến nước và rừng cảnh quan.
    • Mô hình kinh tế du lịch: Tích hợp các cụm làng nghề dệt thổ cẩm, chế biến dược liệu kết hợp du lịch sinh thái - trải nghiệm văn hóa bản địa.
  • Giải pháp thiết kế kiến trúc thích ứng:
    • Bảo tồn nhà Rông: Áp dụng giải pháp kết cấu khung gỗ kết hợp móng bê tông ngầm chống mối mọt; duy trì hình thức mái dốc vút cao và các chi tiết trang trí hình chim chèo bẻo.
    • Nhà ở cải tiến: Đề xuất các mẫu nhà sàn hiện đại hóa sử dụng khung bê tông sơn giả gỗ hoặc gỗ tái chế, tường vách lắp ghép tấm đan cách nhiệt, mái lợp ngói sinh thái thay thế tôn; phân chia mặt bằng gồm khối nhà chính sinh hoạt và khối phụ (bếp, vệ sinh) kết nối qua hành lang mở đảm bảo vệ sinh môi trường.

4. Khảo thí tại xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông

Áp dụng phân loại 13 làng tại xã Đăk Na:

  • 5 làng bảo tồn: Định hướng giữ nguyên cấu trúc không gian lõi, hạn chế tối đa mở đường bê tông xuyên tâm phá vỡ cảnh quan.
  • 6 làng tái thiết: Chỉnh trang hạ tầng theo quy hoạch nông thôn mới, bổ sung sân thể thao, bãi đỗ xe và khu sản xuất tập trung.
  • 2 làng chuyển đổi: Kiểm soát cốt xây dựng, mật độ xây dựng và quy chuẩn mẫu nhà dọc tuyến đường liên xã 678 kết nối với trung tâm xã Đăk Riếp 2.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quá trình hình thành, phát triển và chuyển hóa không gian cư trú truyền thống của tộc người Xơ Đăng tại tỉnh Kon Tum trong mối quan hệ với địa hình vùng núi cao Ngọc Linh.
  2. Xây dựng được khung phân tích hình thái học buôn làng và nhận diện ba mô hình biến đổi cấu trúc điển hình (làng xương cá/rễ cây, làng ô bàn cờ/răng lược, làng có lõi bảo tồn kết hợp vùng phát triển mới).
  3. Thiết lập bộ tiêu chí phân loại buôn làng phục vụ công tác quản lý quy hoạch xây dựng Nông thôn mới tại khu vực Bắc Tây Nguyên.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu đo vẽ, khảo sát hiện trạng chi tiết về không gian làng, nhà Rông, nhà sàn dài, nhà sàn ngắn tại huyện Tu Mơ Rông.
  2. Đề xuất các mẫu thiết kế kiến trúc nhà ở thích ứng, kết hợp hài hòa giữa vật liệu hiện đại (bê tông, ngói) với hình thức nhà sàn và hoa văn trang trí truyền thống của người Xơ Đăng.
  3. Đóng góp đồ án khảo thí thực nghiệm quy hoạch không gian xã Đăk Na lồng ghép trong Quy hoạch Nông thôn mới, cung cấp tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương trong việc thẩm định và lập quy hoạch điểm dân cư nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Mẫu khảo nghiệm chuyên sâu của luận án tập trung chủ yếu tại huyện Tu Mơ Rông (địa bàn thuần nhất của người Xơ Đăng), do đó mức độ phản ánh sự giao thoa kiến trúc tại các vùng tiếp giáp có sự cộng cư đan xen giữa người Xơ Đăng với người Ba Na, Gia Rai hoặc người Giẻ Triêng chưa được mở rộng tương đương.
  • Việc kiểm chứng giải pháp thiết kế công trình mới dừng lại ở mô hình thiết kế mẫu và khảo thí trên đồ án quy hoạch xã Đăk Na, chưa có điều kiện theo dõi, đánh giá vòng đời công trình thực tế qua xây dựng mẫu thử nghiệm.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh hình thái kiến trúc của người Xơ Đăng tại Kon Tum với các nhánh Xơ Đăng sinh sống tại các tỉnh lân cận như Quảng Nam và Quảng Ngãi.
  • Nghiên cứu ứng dụng các loại vật liệu xây dựng mới, thân thiện với môi trường có khả năng thay thế triệt để vật liệu thảo mộc bản địa nhưng vẫn duy trì vi khí hậu tiện nghi trong nhà sàn Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương: Cung cấp cơ sở khoa học cho Sở Xây dựng, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, UBND các huyện thuộc tỉnh Kon Tum trong việc lập quy hoạch Nông thôn mới, bảo tồn di sản văn hóa buôn làng và ban hành Quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn.
  • Các đơn vị tư vấn thiết kế và quy hoạch: Sử dụng bộ tiêu chí phân loại và giải pháp mẫu nhà ở thích ứng để áp dụng vào các dự án tái định cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Kiến trúc, Quy hoạch, Dân tộc học: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu hình thái không gian cư trú và tư liệu thực địa về văn hóa vật thể dân tộc Xơ Đăng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao dân tộc Xơ Đăng tại Kon Tum không có tượng nhà mồ và lễ bỏ mả như các dân tộc khác ở Tây Nguyên?

Theo kết quả khảo sát của luận án, người Xơ Đăng có quan niệm không gian tâm linh riêng biệt: khu nghĩa địa (rừng ma) được xem là "ngôi nhà Rông vĩnh cửu" của người đã khuất. Họ chọn các vùng rừng già bằng phẳng nằm ở độ cao thấp hơn làng người sống để làm nơi chôn cất, giữ gìn tách biệt và không chặt phá rừng. Người Xơ Đăng không tổ chức lễ bỏ mả hay đẽo tượng nhà mồ như người Ba Na hay Gia Rai; khi cần vào nghĩa địa, họ đứng ngoài cổng hú vang 6 tiếng để làm thủ tục xin phép các linh hồn.

2. Tên gọi của nhà Rông trong các nhánh địa phương của dân tộc Xơ Đăng có sự khác nhau như thế nào?

Luận án ghi nhận nhà Rông của người Xơ Đăng có các tên gọi bản địa khác nhau tùy theo phân nhóm địa phương:

  • Nhóm Tơ Đrá và Mơ Nâm gọi là: giông
  • Nhóm Xơ Teng gọi là: cượt
  • Nhóm Ha Lăng và Ca Dong (ở khu vực Sa Thầy) gọi là: mnao

3. Cấu trúc mặt bằng và chức năng hệ thống cửa của ngôi nhà sàn dài truyền thống người Xơ Đăng được bố trí ra sao?

Nhà sàn dài có chiều dài 20–50m, rộng 4–5m, gồm hệ khung 18–20 cột chôn đất. Công trình chỉ mở duy nhất 3 cửa ra vào:

  • Cửa chính: Nằm tại trung điểm vách trước, mở hướng về con suối lớn hoặc hướng mặt trời mọc, dùng để đón tiếp khách quý.
  • Cửa phụ hướng Đông: Bố trí ở đầu hồi, kết nối với máng nước dẫn về nhà, chuyên phục vụ nấu nướng và sinh hoạt nội bộ gia đình.
  • Cửa phụ hướng Tây: Bố trí ở đầu hồi đối diện, chỉ mở khi có đông khách hoặc trong các dịp lễ hội lớn của buôn làng.

4. Luận án phân chia buôn làng Xơ Đăng thành những mô hình nào để tổ chức giải pháp quy hoạch?

Luận án xây dựng hệ thống phân loại gồm 3 mô hình làng chính:

  1. Làng bảo tồn: Các làng còn nguyên vẹn cấu trúc lõi quanh nhà Rông, tỷ lệ nhà sàn cao; giải pháp là khoanh vùng bảo vệ lõi và kiểm soát mở rộng vành đai.
  2. Làng tái thiết (phục hồi): Các làng bị biến đổi một phần do mở rộng tự phát; giải pháp là tái lập không gian công cộng trung tâm, chỉnh trang hạ tầng và cải tạo nhà ở thích ứng.
  3. Làng chuyển đổi: Các làng đã biến đổi thành cấu trúc ô bàn cờ hoặc chịu tác động đô thị hóa mạnh dọc các trục lộ; giải pháp là quản lý trật tự xây dựng, mật độ và nâng cao chất lượng hạ tầng kỹ thuật lồng ghép trong chuẩn Nông thôn mới.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Xuân Tiến là một công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện, có giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc về hình thái không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng tại tỉnh Kon Tum. Thông qua việc phân tích quá trình chuyển hóa không gian dưới tác động của điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất và chính sách quy hoạch Nông thôn mới, luận án đã xác lập thành công hệ thống tiêu chí đánh giá và các mô hình giải pháp quy hoạch - kiến trúc mang tính thích ứng cao. Kết quả nghiên cứu đã được khảo thí cụ thể tại xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông, mở ra hướng tiếp cận cân bằng giữa việc bảo tồn bản sắc di sản văn hóa tộc người vùng Bắc Tây Nguyên với yêu cầu hiện đại hóa hạ tầng nông thôn bền vững.