Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên" do sinh viên Nguyễn Thị Yến thực hiện năm 2019, thuộc ngành Khoa học môi trường, Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của TS. Dư Ngọc Thành.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả trình bày môi trường là không gian sinh tồn cung cấp tài nguyên thiết yếu và tiếp nhận chất thải từ hoạt động sống cũng như sản xuất của con người. Tại Việt Nam, tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang gia tăng áp lực gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, trong đó sự thiếu hụt nhận thức và ý thức của cộng đồng là một trong những căn nguyên chủ yếu. Địa bàn nghiên cứu là xã Sơn Cẩm, nằm ở phía Bắc thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 6 km. Đây là khu vực bán sơn địa có hệ thống giao thông quan trọng đi qua (Quốc lộ 3 cũ, Quốc lộ 3 mới, tuyến nối Quốc lộ 1B, đường sắt Quán Triều - Núi Hồng) cùng hai hệ thống sông Cầu và sông Đu. Trước tác động của quá trình chuyển dịch kinh tế từ thuần nông sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự gia tăng dân số, môi trường đất, nước, không khí tại xã đối mặt với nguy cơ suy giảm. Dù môi trường sống biến động từng ngày, hiểu biết của người dân địa phương về bảo vệ môi trường vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến các hành vi tiêu cực tác động xấu đến cảnh quan và hệ sinh thái.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Đánh giá nhận thức của người dân về các vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
  2. Đánh giá sự hiểu biết của người dân về Luật Môi trường của Việt Nam.
  3. Đánh giá ý thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn xã.

Để đạt được các mục tiêu trên, khóa luận đặt ra năm yêu cầu nghiên cứu:

  1. Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác.
  2. Phản ánh đúng hiện trạng môi trường và nhận thức của người dân.
  3. Mẫu nghiên cứu phải mang tính đại diện cho khu vực lấy mẫu.
  4. Đảm bảo những kiến nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp điều kiện địa phương.
  5. Những giải pháp đề ra phải có tính thực tế với điều kiện xã Sơn Cẩm.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hiểu biết và nhận thức của người dân về môi trường.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và điều tra thực địa từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên khung pháp lý quốc gia và các khái niệm chuyên ngành khoa học môi trường:

  • Cơ sở pháp lý: Tác giả hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu gồm: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 (lệnh công bố số 09/2014/L-CTN ngày 26/06/2014); các Nghị định hướng dẫn như Nghị định số 179/2013/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường), Nghị định số 08/2014/NĐ-CP (thoát nước và xử lý nước thải), Nghị định số 127/2014/NĐ-CP (hoạt động quan trắc môi trường), Nghị định số 03/2015/NĐ-CP (xác định thiệt hại môi trường), Nghị định số 18/2015/NĐ-CP (quy hoạch bảo vệ môi trường, ĐMC, ĐTM), Nghị định số 19/2015/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường), Nghị định số 38/2015/NĐ-CP (quản lý chất thải và phế liệu); Chỉ thị số 26/CT-TTg; các Quyết định số 1788/QĐ-TTg, 73/2014/QĐ-TTg, 16/2015/QĐ-TTg; cùng hệ thống Thông tư chuyên ngành của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Thông tư số 11/2015/TT-BTNMT, 12/2015/TT-BTNMT, 13/2015/TT-BTNMT, 19/2015/TT-BTNMT, 22/2015/TT-BTNMT, 26/2015/TT-BTNMT, 27/2015/TT-BTNMT, 35/2015/TT-BTNMT, 36/2015/TT-BTNMT, 38/2015/TT-BTNMT, 41/2015/TT-BTNMT).
  • Khái niệm công cụ: Tác giả dẫn xuất các định nghĩa chuẩn hóa về môi trường, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, sự cố môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, quản lý môi trường, thông tin môi trường, chất thải, rác thải, quản lý chất thải, chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ và bản chất của nhận thức (quá trình phản ánh thế giới khách quan vào tư duy con người).
  • Tổng quan tài liệu tiền đề: Tác giả dẫn chứng các công trình nghiên cứu xã hội học môi trường trước đó để đối sánh:
    • Chương trình SEMLA (Bộ Tài nguyên và Môi trường) tại 3 tỉnh Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu về mức độ hiểu biết luật đất đai và môi trường của cán bộ và cộng đồng.
    • Đề tài khảo sát nhận thức về biến đổi khí hậu của TS. Lê Văn Khoa tại Thành phố Hồ Chí Minh (khảo sát 400 doanh nghiệp, 501 người dân, 300 học sinh).
    • Nghiên cứu của Khoa Xã hội học - Đại học Bình Dương về nhận thức phân loại, thu gom rác thải tại phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một (khảo sát N = 49 hộ).
    • Nghiên cứu KAP (Kiến thức - Thái độ - Thực hành) về vệ sinh môi trường của Hoàng Thái Sơn (Đại học Y Dược Thái Nguyên) tại huyện Phổ Yên (N = 400 người); cùng mô hình truyền thông vệ sinh môi trường nông thôn tại xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Tiếp cận và tổng hợp tài liệu khoa học từ sách báo, Internet, các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường lưu trữ tại UBND xã Sơn Cẩm và Phòng Tài nguyên và Môi trường.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa, xây dựng phiếu điều tra in sẵn kết hợp phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình tại 12 xóm trên địa bàn xã Sơn Cẩm (Đồng Xe, Xóm 6, Xóm 7, Xóm 8, Cao Sơn 1, Cao Sơn 2, Cao Sơn, Đồng Danh, Bến Giềng, Táo 1, Táo 2, Hiệp Lực). Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ phụ trách địa chính - môi trường của xã và nhân viên thu gom rác thải.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật bốc thăm ngẫu nhiên hộ gia đình tham gia điều tra.
  • Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê để tổng hợp dữ liệu, lập bảng biểu số liệu định lượng, so sánh tỷ lệ phần trăm và vẽ biểu đồ minh họa.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh xã Sơn Cẩm đang đô thị hóa nhanh chóng làm phát sinh chất thải sinh hoạt và nước thải sản xuất. Tác giả khẳng định công tác bảo vệ môi trường không thể chỉ dựa vào giải pháp công nghệ kỹ thuật hay chế tài pháp lý đơn thuần, mà giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng là biện pháp nền tảng. Nội dung chương đồng thời công bố mục tiêu, yêu cầu, đối tượng nghiên cứu và phân tích ý nghĩa khoa học (rèn luyện kỹ năng điều tra xã hội học môi trường) cùng ý nghĩa thực tiễn (đề xuất căn cứ cho chính quyền địa phương ban hành chính sách quản lý).

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa toàn diện các vấn đề môi trường cấp bách toàn cầu dựa trên phân tích của GS.TS. Võ Quý và các báo cáo của IPCC: suy thoái diện tích rừng (mất 40% diện tích rừng trong 300 năm, phát thải 6 tỷ tấn CO2 hàng năm do mất rừng), suy giảm đa dạng sinh học (tổn thất giá trị dịch vụ hệ sinh thái ước tính 21-72 tỷ USD/năm), cạn kiệt tài nguyên nước ngọt (nguồn nước sử dụng chỉ chiếm 0,01% tổng lượng nước Trái đất), khai thác quá mức năng lượng hóa thạch và hiện tượng nóng lên toàn cầu (nhiệt độ bề mặt tăng 0,7°C).

Ở phạm vi quốc gia, chương làm rõ các áp lực môi trường của Việt Nam: độ che phủ rừng dù phục hồi diện tích (đạt trên 37% tổng diện tích tự nhiên) nhưng chất lượng giảm sút khi rừng nguyên sinh chỉ còn 7%; bình quân đất canh tác trên đầu người đứng thứ 159/200 quốc gia và suy thoái do lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật; khoảng 1.450 làng nghề truyền thống gây ô nhiễm nghiêm trọng khu vực nông thôn; tỷ lệ hộ nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh chỉ đạt 28-30%.

Tại tỉnh Thái Nguyên, tác giả phân tích thực trạng suy giảm chất lượng nước mặt trung lưu sông Cầu, sông Công, Hồ Núi Cốc; nước thải công nghiệp từ Khu công nghiệp Yên Bình (tổ hợp Samsung), KCN Sông Công, KCN Luyện kim Lưu Xá và Bệnh viện Đa khoa Trung ương chứa hợp chất hữu cơ và kim loại nặng; hoạt động canh tác chè lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật từ 3-5 lần/vụ với lượng dùng từ 3-3,5 kg/ha đất nông nghiệp.

Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Chương trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu xã hội học môi trường tại xã Sơn Cẩm từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018. Tác giả phân định bốn nội dung nghiên cứu chính: điều kiện cơ bản xã Sơn Cẩm; hiện trạng môi trường địa phương (nước sinh hoạt, nước thải, rác thải, vệ sinh môi trường, sức khỏe); khảo sát nhận thức người dân (về khái niệm, về Luật Bảo vệ môi trường, về phân loại rác); và đánh giá đề xuất giải pháp. Quy trình điều tra mẫu ngẫu nhiên 60 hộ gia đình trên 12 xóm dân cư được chuẩn hóa bằng bảng hỏi có cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý chuyên trách.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực tế tại xã Sơn Cẩm:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Diện tích tự nhiên toàn xã là 1.662,89 ha, gồm 19 xóm. Tổng dân số đạt 14.154 nhân khẩu với 3.798 hộ gia đình; cơ cấu dân tộc gồm 8 thành phần, trong đó người Kinh chiếm 60%, các dân tộc thiểu số chiếm 40% (Tày, Nùng, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, H'Mông, Sán Chí, Mường). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch với doanh thu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ ước đạt 370 tỷ đồng. Sản xuất nông nghiệp duy trì 170 ha lúa vụ chiêm xuân (sản lượng 935,12 tấn, năng suất 55 tạ/ha), 257 ha lúa vụ mùa (năng suất 51,17 tạ/ha), 17 ha ngô (70 tấn), 90 ha chè (65 ha kinh doanh, sản lượng 600 tấn búp tươi), 233 ha rừng (trồng mới 13,25 ha), đàn lợn 5.470 con, đàn gia cầm 105 nghìn con.
  • Cơ cấu nhân khẩu học mẫu khảo sát 60 hộ:
Đặc điểm Phân nhóm Số lượng (N = 60) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 23 38,3
Nữ 37 61,7
Độ tuổi Trong độ tuổi lao động 54 90,0
Trên 60 tuổi 6 10,0
Trình độ học vấn Tiểu học 3 5,0
Trung học cơ sở 15 25,0
Trung học phổ thông 13 22,0
Trung cấp / Cao đẳng 17 28,0
Đại học / Sau đại học 12 20,0
Nghề nghiệp Buôn bán, dịch vụ 17 28,3
Cán bộ, công viên chức nhà nước 13 21,7
Nông nghiệp 9 15,0
Học sinh, sinh viên 9 15,0
Nghề tự do 8 13,3
Hưu trí, già yếu 4 6,7
  • Hiện trạng môi trường và nhận thức cộng đồng:
    • Nguồn nước sinh hoạt: Kết quả điều tra ghi nhận 93,3% số hộ sử dụng nước máy (56 hộ), 6,7% sử dụng nước giếng khoan (4 hộ), hoàn toàn không có hộ nào sử dụng trực tiếp nước giếng đào hoặc nguồn nước ao hồ, sông suối tự nhiên.
    • Hệ thống danh mục bảng biểu và kết quả của khóa luận phản ánh chi tiết các khía cạnh: đánh giá chất lượng nước sinh hoạt; tỷ lệ sử dụng các loại cống thoát nước và nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt; tỷ lệ phát sinh các loại rác thải trung bình hàng ngày và hình thức đổ rác; tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh và nguồn tiếp nhận nước thải từ công trình phụ; tỷ lệ hiểu biết về các khía cạnh môi trường và thành phần chất thải rắn; mức độ nhận thức về tác hại của ô nhiễm môi trường phân theo trình độ học vấn; đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải chia theo giới tính; đánh giá tầm quan trọng của việc thu gom và xử lý rác theo nhóm nghề nghiệp; mức độ hiểu biết Luật Bảo vệ môi trường phân theo nhóm công việc; và các kênh tiếp cận chương trình truyền thông bảo vệ môi trường theo giới tính.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận rút ra các kết quả cụ thể phản ánh thực trạng môi trường và mức độ nhận thức của người dân xã Sơn Cẩm:

  • Về điều kiện hạ tầng cấp nước: Khu vực nghiên cứu đạt tỷ lệ sử dụng nước sạch tập trung rất cao, với 56/60 hộ (93,3%) được cấp nước máy, chỉ còn 4/60 hộ (6,7%) dùng nước giếng khoan.
Nguồn nước sinh hoạt Số lượng hộ Tỷ lệ (%)
Nước máy 56 93,3
Giếng khoan 4 6,7
Giếng đào 0 0,0
Nguồn khác (ao, sông, suối) 0 0,0
Tổng cộng 60 100,0
  • Về tương quan nhân khẩu học với nhận thức: Đa số đối tượng tham gia khảo sát có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên (chiếm 95,0%), trong đó tỷ lệ có trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học chiếm tới 48,0%. Tác giả chỉ ra rằng trình độ học vấn và tính chất nghề nghiệp (cán bộ, công chức, buôn bán dịch vụ) có mối liên hệ trực tiếp với sự quan tâm và khả năng nắm bắt thông tin về Luật Bảo vệ môi trường cũng như ý thức thực hiện phân loại chất thải sinh hoạt.
  • Về giải pháp tác giả đề xuất:
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật môi trường (trọng tâm là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) thông qua các buổi sinh hoạt thôn xóm, đoàn thể và hệ thống truyền thanh xã.
    • Hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức mô hình phân loại rác thải tại nguồn (tách biệt rác hữu cơ dễ phân hủy và rác vô cơ tái chế) trước khi chuyển giao cho đơn vị thu gom.
    • Đầu tư, nâng cấp hệ thống cống rãnh tiêu thoát nước thải sinh hoạt kiên cố tại các khu dân cư tập trung, hạn chế việc xả thải trực tiếp chưa qua xử lý ra sông Cầu và sông Đu.
    • Nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng và cán bộ phụ trách địa chính - môi trường tại cơ sở.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận đóng góp bộ dữ liệu điều tra thực chứng cập nhật năm 2018 tại một địa bàn nông thôn ven đô đang chuyển mình thành đô thị của thành phố Thái Nguyên. Công trình phản ánh khách quan khoảng cách giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tế của người dân đối với vấn đề vệ sinh môi trường, cung cấp cơ sở thực tiễn để chính quyền xã Sơn Cẩm xây dựng kế hoạch quản lý môi trường phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thể hiện các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ điều kiện thực hiện:

  • Giới hạn về quy mô mẫu: Đề tài khảo sát mẫu 60 hộ gia đình phân bố tại 12/19 xóm của xã Sơn Cẩm. Dù phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng, cỡ mẫu này còn tương đối khiêm tốn so với quy mô toàn xã (3.798 hộ), chưa bao quát hết đặc thù sinh hoạt của toàn bộ 7 xóm còn lại.
  • Giới hạn về phương pháp thu thập dữ liệu: Các số liệu về nhận thức, hành vi xả thải và đánh giá chất lượng nguồn nước chủ yếu dựa trên thông tin tự kê khai của người dân qua bảng hỏi phỏng vấn, chưa được đối chiếu chéo bằng các phương pháp đo đạc, lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu hóa lý thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.
  • Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành trong khoảng thời gian 5 tháng (tháng 8/2018 - 12/2018) trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học nên chưa theo dõi được biến động nhận thức và hành vi của người dân theo chu kỳ mùa vụ trong năm.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng cỡ mẫu khảo sát đại diện trên toàn bộ 19 xóm; kết hợp điều tra nhận thức xã hội học (KAP) với hoạt động lấy mẫu quan trắc môi trường thực địa (nước mặt sông Đu, sông Cầu, nước thải sinh hoạt) nhằm đánh giá định lượng tác động của nhận thức đối với chất lượng môi trường thực tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên và môi trường, Xã hội học môi trường trong việc tham khảo phương pháp luận thiết kế một nghiên cứu điều tra nhận thức cộng đồng (KAP) cấp cơ sở.
  • Cán bộ quản lý môi trường xã Sơn Cẩm, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Nguyên sử dụng làm tài liệu tham khảo thực tế về hiện trạng cấp nước, xả rác và mức độ hiểu biết pháp luật của nhân dân địa phương.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình phân tổ dữ liệu nhận thức môi trường theo các biến nhân khẩu học (giới tính, học vấn, ngành nghề) tại vùng nông thôn - bán sơn địa phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát của khóa luận được tiến hành trên cỡ mẫu bao nhiêu hộ và tại các xóm nào của xã Sơn Cẩm?
Khóa luận tiến hành khảo sát ngẫu nhiên trên 60 hộ gia đình đại diện tại 12 xóm thuộc xã Sơn Cẩm, bao gồm: Đồng Xe, Xóm 6, Xóm 7, Xóm 8, Cao Sơn 1, Cao Sơn 2, Cao Sơn, Đồng Danh, Bến Giềng, Táo 1, Táo 2 và Hiệp Lực. Bên cạnh đó, tác giả phỏng vấn sâu cán bộ địa chính - môi trường và nhân viên thu gom rác.

2. Cơ cấu trình độ học vấn của những người tham gia phỏng vấn tại địa bàn có đặc điểm gì?
Trình độ học vấn của người dân trong mẫu khảo sát khá cao: 95,0% người được hỏi có trình độ từ trung học cơ sở trở lên. Cụ thể: trình độ tiểu học chiếm 5,0% (3 người); trung học cơ sở chiếm 25,0% (15 người); trung học phổ thông chiếm 22,0% (13 người); trung cấp/cao đẳng chiếm 28,0% (17 người); và đại học/sau đại học chiếm 20,0% (12 người). Không có đối tượng chỉ biết đọc, biết viết đơn thuần.

3. Hiện trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt của các hộ dân khảo sát tại xã Sơn Cẩm năm 2018 ra sao?
Trong số 60 hộ gia đình điều tra, có 56 hộ sử dụng nguồn nước máy (chiếm tỷ lệ 93,3%) và 4 hộ sử dụng nước giếng khoan (chiếm 6,7%). Địa phương không còn hộ dân nào sử dụng giếng đào hay lấy trực tiếp từ ao, hồ, sông, suối cho mục đích ăn uống sinh hoạt.

4. Khóa luận sử dụng các căn cứ pháp lý chủ yếu nào làm cơ sở đánh giá?
Khóa luận căn cứ trên Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (số 55/2014/QH13, lệnh số 09/2014/L-CTN); Nghị định 179/2013/NĐ-CP; Nghị định 08/2014/NĐ-CP; Nghị định 127/2014/NĐ-CP; Nghị định 03/2015/NĐ-CP; Nghị định 18/2015/NĐ-CP; Nghị định 19/2015/NĐ-CP; Nghị định 38/2015/NĐ-CP; cùng các Thông tư hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành năm 2015.

5. Những đặc điểm tự nhiên và kinh tế nào của xã Sơn Cẩm tác động trực tiếp đến môi trường sống theo tác giả?
Xã Sơn Cẩm có hai dòng sông chảy qua là sông Đu và sông Cầu, mạng lưới giao thông dày đặc (Quốc lộ 3 cũ, Quốc lộ 3 mới, tuyến nối Quốc lộ 1B, đường sắt Quán Triều - Núi Hồng). Kinh tế địa phương đang chuyển dịch mạnh sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại (doanh thu 370 tỷ đồng), nông nghiệp thâm canh chè (600 tấn búp tươi/năm) và chăn nuôi tập trung (5.470 con lợn, 105 nghìn gia cầm). Sự phát triển này tạo áp lực lớn lên nguồn nước tiếp nhận và phát sinh khối lượng lớn chất thải rắn sinh hoạt.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Yến đã phản ánh bức tranh thực trạng về điều kiện vệ sinh môi trường và nhận thức cộng đồng tại xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn chuyển dịch kinh tế năm 2018. Thông qua phương pháp điều tra xã hội học ngẫu nhiên trên 60 hộ dân tại 12 xóm, nghiên cứu xác lập được mối liên hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học như học vấn, nghề nghiệp với mức độ am hiểu Luật Bảo vệ môi trường và ý thức phân loại rác thải. Các số liệu và giải pháp do tác giả đề xuất cung cấp căn cứ thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý tài nguyên và giáo dục môi trường tại địa phương.