đặt vấn đề về năng lực thực tiễn, điều kiện rất căn bản là chất lượng, hiệu quả sử dụng lực lượng, công cụ, phương tiện nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc. Thứ ba, năng lực được thể hiện ở khả năng giải quyết những mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn. Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại có những mặt, đặc điểm, thuộc tính, tính quy định mang khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại khách quan trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, xung đột lẫn nhau tạo nên động lực của sự phát triển, trên cơ sở đó, giúp cho con người có những giải pháp cụ thể trong xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đúng kế hoạch, đồng thời tạo ra động lực to lớn thúc đẩy con người nhiệt huyết, phấn khởi, tích cực phấn đấu học tập, rèn luyện, công tác,v. Thứ tư, năng lực được thể hiện ở khả năng tổng kết thực tiễn cải tạo hiện thực, do vậy, hiệu quả mỗi nhiệm vụ cụ thể của con người là thước đo đánh giá năng lực thực tiễn của họ.
Mỗi công việc, nhiệm vụ trong kế hoạch hoạt động, đều gắn với kinh nghiệm, nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành cụ thể để đạt được mục tiêu. Thứ năm, năng lực được thể hiện ở kỹ năng, kỹ xảo gắn với kinh nghiệm trong hoạt động của chủ thể. Kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể là quá trình phản ánh kết quả của nhận thức và tái hiện trong tư duy về sự vật, hiện tượng nào đó, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan, là khả năng vận dụng những tri thức vào thực tiễn. Khái niệm năng lực tổ chức thực tiễn Khi nghiên cứu năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ lãnh đạo, quản lý chúng ta đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với phẩm chất của họ.
Phẩm chất và năng lực (đức và tài) là hai bộ phận cấu thành nên nhân cách người cán bộ. 17 Nhân cách người cán bộ phải thống nhất giữa cái “cái bên trong” và “cái bên ngoài”. Sự thống nhất này hình thành nên bản lĩnh chính trị, văn hóa chính trị của người cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đức và tài là hai mặt thống nhất quyện vào nhau tạo nên nhân cách người cán bộ cách mạng.
Đức ở đây là đạo đức, là đạo đức cách mạng, là đạo đức mới, không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. Tài ở đây là năng lực của người cán bộ, bao gồm sự hiểu biết và kỹ năng lãnh đạo nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong mối quan hệ giữa đức và tài, đức là cái gốc, Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[8, tr. Quan điểm này là nền tảng tư tưởng cho việc nghiên cứu về phẩm chất và năng lực của người cán bộ. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý thì năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của chủ thể nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động đó, chúng được hình thành, phát triển trong quá trình sống và hoạt động của cá nhân. Hoạt động thực tiễn của cán bộ lãnh đạo, quản lý là con đường, phương tiện hình thành và hoàn thiện năng lực tổ chức thực tiễn ở họ.
Năng lực không chỉ là thuộc tính riêng lẻ nào đó của cá nhân mà là sự tổng hợp những thuộc tính cá nhân đáp ứng những yêu cầu nhất định trong việc cải tạo hiện thực. Đồng thời, cũng có nghĩa khi nói đến năng lực là sự tổng hợp của trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,v.v…Để thực hiện đạt kết quả một hoạt động nào đó. Sự tổng hợp không phải là những số cộng giản đơn các thuộc tính cá nhân mà là sự liên hệ biện chứng, sự tác động lẫn nhau giữa các thuộc tính đó trong một hệ thống hoàn chỉnh, do đó cấu trúc của năng lực phải phù hợp với cấu trúc của hoạt động tương ứng. Hoạt động thực tiễn còn là con đường, là phương tiện hình thành, hoàn thiện năng lực tổ chức thực tiễn của người cán bộ lãnh đạo, quản lý.
18 Do vậy, để tổ chức thực tiễn đạt hiệu quả, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần có năng lực tổ chức thực tiễn. Như chúng ta đã biết, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo giới tự nhiên và xã hội. Tổ chức thực tiễn là sự liên kết, phối hợp các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, các yếu tố vật chất và tinh thần, truyền thống và thời đại tạo thành một chỉnh thể nhằm cải tạo tự nhiên, cải biến xã hội theo mục tiêu đã xác định, kiểm tra và tổng kết. Cán bộ lãnh đạo, quản lý muốn tổ chức thực tiễn tốt cần phải có năng lực tổ chức thực tiễn, là việc triển khai nghị quyết, tổ chức bộ máy và con người để thực hiện quyết định, kiểm tra việc thực hiện và tổng kết kinh nghiệm.
Năng lực tổ chức thực tiễn còn là những hiểu biết, những kỹ năng và các phẩm chất tâm - sinh lý của chủ thể quản lý đảm bảo cho việc tổ chức thực tiễn đạt hiệu quả. Do vậy, năng lực tổ chức thực tiễn là năng lực tổng hợp của chủ thể quản lý, được hình thành trong việc tổ chức hoạt động vật chất, lao động sản xuất, hoạt động chính trị, xã hội và thực nghiệm khoa học của cá nhân. Năng lực này còn được biểu hiện ở sự hiểu biết, kỹ năng triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thông qua việc tập hợp quần chúng thành phong trào nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Từ nhận thức như vậy, để muốn hình thành và phát triển năng lực tổ chức thực tiễn thì việc tiên quyết là phải cung cấp tri thức về tổ chức thực tiễn và rèn luyện kỹ năng triển khai hoạt động đó.
Người cán bộ lãnh đạo, quản lý dù ở cấp nào cũng phải có năng lực trí tuệ (tư duy) và năng lực tổ chức thực tiễn. Hai yếu tố này tạo nên tài năng của họ, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, cái này hỗ trợ cho cái kia phát triển. Nếu không có năng lực trí tuệ thì không thể nào có trình độ khái quát cao. Ngược lại chỉ có năng lực trí tuệ mà không có năng lực tổ chức thực tiễn, thì năng lực trí tuệ dần dần sẽ bị phai nhạt, sẽ dừng lại ở tư duy trừu tượng, lý thuyết, thoát ly thực tiễn, thoát ly cuộc sống, dễ rơi vào chủ quan 19 duy ý chí.
Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, cấp huyện nói riêng phải không ngừng trau dồi cả năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn. Ở đây, do giới hạn của vấn đề đặt ra, chúng ta chỉ đề cập tới năng lực tổ chức thực tiễn là chủ yếu: Khi bàn về năng lực tổ chức thực tiễn, V. Lê-nin đã chỉ ra tiêu chuẩn mẫu mực của người cán bộ có năng lực tổ chức thực tiễn, đó là người “có tài tổ chức tuyệt diệu”, “ rèn luyện cho mình một năng khiếu thực tiễn đặc sắc”, là “ tấm gương về sự kết hợp sáng suốt thực tiễn với sự thành thạo thực tiễn”, “ tấm gương về sự liên hệ chặt chẽ với quần chúng gắn liền với năng lực lãnh đạo quần chúng” [9, tr 91-98)].Lê-nin còn nêu ra tư tưởng về người có năng lực tổ chức thực tiễn là người “biết tổng hợp tinh thần dân chủ sôi sục tràn trề tựa như nước lũ mùa xuân của quần chúng lao động trong các cuộc mít - tinh với một kỷ luật sắt trong lao động, với phục tùng tuyệt đối trong lao động, với ý chí của một người duy nhất” [10, tr 249]. Lê-nin cũng chỉ ra những đặc trưng cơ bản của người có năng lực tổ chức thực tiễn khi đưa ra nhận xét: “Bất kỳ công tác quản lý nào cũng đều đòi hỏi phải có những đặc tính riêng biệt, có người có thể là một nhà cách mạng và nhà cổ động cừ nhất nhưng làm một cán bộ quản lý thì lại hoàn toàn không thích hợp” [10, tr 250].
Điều mà Lê-nin gọi là “những đặc tính riêng biệt” đó chính là những đặc trưng cơ bản của một người có năng lực tổ chức thực tiễn. Những đặc trưng đó là: Sự nhạy cảm về tổ chức, sự am hiểu về con người, tính cởi mở, óc sáng suốt, bản tính tháo vát trong thực tiễn, tính kiên nghị, khả năng chan hòa với mọi người và thu hút tập hợp quần chúng,v. Từ những đặc tính trên ta có thể hiểu, năng lực tổ chức thực tiễn là khả năng phát huy và biết kết hợp tối ưu các nhân tố khách quan và chủ quan, yếu tố vật chất và tinh thần thành một hệ thống chỉnh thể hoạt động nhịp nhàng cân đối có hiệu lực nhằm thực hiện hóa những mục tiêu đã được đề ra. 20 Năng lực tổ chức thực tiễn còn là những hiểu biết, kỹ năng và các phẩm chất tâm - sinh lý của chủ thể quản lý bảo đảm cho việc tổ chức thực tiễn đạt hiệu quả.
Như vậy, năng lực tổ chức thực tiễn là năng lực tổng hợp của chủ thể quản lý, được hình thành trong việc tổ chức hoạt động vật chất, lao động sản xuất, hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học của cá nhân. Năng lực này được thể hiện ở sự hiểu biết, kỹ năng triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thông qua việc tập hợp quần chúng thành phong trào rộng lớn nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Như vậy, để hình thành và phát triển năng lực tổ chức thực tiễn thì một trong những việc làm hàng đầu là phải cung cấp tri thức về tổ chức thực tiễn và rèn luyện kỹ năng triển khai hoạt động đó. Thành tố cấu thành và nhân tố tác động đến năng lực tổ chức thực tiễn 1.