Nghiên cứu chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Luận văn thạc sĩ phân tích chính sách ưu đãi người có công tại huyện Chư Sê, Gia Lai, góp phần nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện chính sách.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

105
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và nội dung của chính sách ưu đãi người có công với cách mạng

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một phần quan trọng trong chính sách xã hội của Nhà nước Việt Nam, nhằm ghi nhận và tôn vinh những đóng góp của những người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo Pháp lệnh số 36-PL/CTN, người có công bao gồm thương binh, liệt sĩ, và những người hoạt động cách mạng. Nội dung chính sách bao gồm các chế độ trợ cấp, bảo hiểm y tế, và hỗ trợ về nhà ở. Chính sách này không chỉ thể hiện lòng biết ơn của xã hội mà còn góp phần nâng cao đời sống của những người có công và gia đình họ. Đặc biệt, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đang quản lý 1.243 người có công, cho thấy sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với vấn đề này.

1.1 Các khái niệm cơ bản

Khái niệm người có công với cách mạng không chỉ giới hạn ở những cá nhân đã tham gia chiến đấu mà còn mở rộng đến những người có đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Theo nghĩa rộng, người có công là những người đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Điều này được thể hiện qua các văn bản pháp luật như Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 1994 và các sửa đổi, bổ sung sau này. Đối tượng được công nhận là những người có đóng góp xuất sắc trong các cuộc kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc, từ đó được hưởng các chế độ ưu đãi về kinh tế và xã hội.

II. Thực tiễn thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở huyện Chư Sê

Việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công tại huyện Chư Sê đã có những bước tiến đáng kể trong những năm qua. Hệ thống chính trị của huyện đã triển khai đồng bộ các chính sách, tạo ra phong trào đền ơn đáp nghĩa sâu rộng trong cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong quá trình thực hiện. Một số cán bộ làm công tác chính sách chưa nắm rõ quy trình và nguyên tắc, dẫn đến sai sót trong việc giải quyết hồ sơ. Đánh giá tổng thể cho thấy, mặc dù chính sách đã được triển khai hiệu quả, nhưng cần có sự cải thiện trong việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp lãnh đạo.

2.1 Quy trình và kết quả thực hiện

Quy trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công ở huyện Chư Sê được thực hiện qua nhiều bước, từ việc tiếp nhận hồ sơ đến việc chi trả các chế độ trợ cấp. Kết quả cho thấy, số lượng người có công được hưởng chính sách ngày càng tăng, với mức trợ cấp cũng được nâng cao hàng năm. Tuy nhiên, một số vấn đề như việc chậm trễ trong giải quyết hồ sơ và thiếu sót trong công tác kiểm tra vẫn tồn tại, cần được khắc phục để đảm bảo quyền lợi cho người có công.

III. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công, huyện Chư Sê cần xác định rõ những định hướng và giải pháp cụ thể. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về chính sách này. Đồng thời, cần cải thiện quy trình giải quyết hồ sơ, đảm bảo tính chính xác và kịp thời. Việc đào tạo cán bộ làm công tác chính sách cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng phục vụ và đáp ứng nhu cầu của người có công.

3.1 Những định hướng

Huyện Chư Sê cần xây dựng những định hướng rõ ràng trong việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công, bao gồm việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo quyền lợi cho người có công. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc thực hiện chính sách, từ đó tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho việc chăm sóc người có công. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của họ mà còn thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với những người đã hy sinh vì đất nước.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Chương 2. Thực tiễn thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.

Khái niệm và nội dung của chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng 1. Các khái niệm cơ bản 1. Người có công với cách mạng Người có công là người dân bình thường, làm những việc có ích cho xã hội, cộng đồng, có công lao đóng góp cho đất nước. Mặc dù Pháp lệnh số 36- PL/CTN ngày 29/08/1994 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng, được thực hiện từ ngày 01/01/1995, nhưng cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào nêu cụ thể khái niệm người có công với cách mạng.

Có thể khái quát người có công với cách mạng theo các ý nghĩa như sau: Theo nghĩa rộng, người có công với cách mạng là người đã tự nguyện cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng, chiến đấu giành độc lập tự do cho dân tộc, cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là những người đã có những đóng góp, cống hiến cho lợi ích của đất nước, của dân tộc, được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật và đảm bảo cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, chính trị, xã hội. Theo nghĩa hẹp, người có công với cách mạng là những cá nhân có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến của dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Như vậy, khái niệm người có công với cách mạng có thể được hiểu là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác 10 có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật.

Tiêu chí cơ bản để xác định người có công với cách mạng là phải có đóng góp, cống hiến cho lợi ích của dân tộc trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay. Từ hệ thống văn bản pháp luật như Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 1994, Pháp lệnh năm 2005, Pháp lệnh năm 2012 và gần đây nhất là Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ta có thể hiểu rõ hơn về khái niệm người có công với cách mạng theo các nhóm đối tượng là: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945: là người hoạt động cách mạng được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận khi có một trong các điều kiện, tiêu chuẩn: (1) Đã tham gia một tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; (2) Được kết nạp hoặc kết nạp lại vào Đảng Cộng sản Đông Dương trước ngày 19/8/1945. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945: là người hoạt động cách mạng được cơ quan có thẩm quyền xem xét công khi có một trong các điều kiện, tiêu chuẩn: (1) Đã tham gia tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc tương đương trở lên trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa phương và sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến; (2) Đã hoạt động ở cơ sở trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa phương sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến và khi hoạt động ở cơ sở trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa của địa phương là Bí thư, Chủ tịch, Chủ 11 nhiệm Việt Minh, Bí thư Nông dân cứu quốc, Bí thư Thanh niên cứu quốc, Bí thư Phụ nữ cứu quốc cấp xã hoặc tương đương; đội trưởng, tổ trưởng, nhóm trưởng của đội, tổ, nhóm Tự vệ chiến đấu, Tuyên truyền giải phóng, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thiếu nhi cứu quốc ở địa phương chưa hình thành tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã; người được kết nạp vào tổ chức Việt Minh sau đó được giao nhiệm vụ ở lại địa phương hoạt động phát triển cơ sở cách mạng; (3) Người tham gia hoạt động cách mạng tháng Tám năm 1945 và sau ngày khởi nghĩa đến ngày 31/8/1945 giữ một trong các chức vụ ngươi đứng đầu quy định tại điểm này hoặc tham gia tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc tương đương trở lên; Liệt sĩ: là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận. Bà mẹ Việt Nam anh hùng: là người được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo quy định tại Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” theo quy định của pháp luật. Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến: là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến. Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31/12/ 1993; người hưởng chính sách như thương binh: (1) Là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Công an nhân dân bị thương có tỷ lệ tổn 12 thương cơ thể từ 21% trở lên được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét công nhận là thương binh, cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh”; (2) Là người không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Công an nhân dân bị thương có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét công nhận là người hưởng chính sách như thương binh và cấp “Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh”; (3) Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31/12/1993;… Bệnh binh: là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Công an nhân dân bị mắc bệnh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên khi làm nhiệm vụ cấp bách, nguy hiểm mà không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” khi thôi phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: là người đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong khoảng thời gian từ ngày 01/8/1961 đến ngày 30/4/1975 tại vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học ở chiến trường B, C, K và một số địa danh thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bị nhiễm chất độc hoá học được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học”.

Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày: là người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày trong thời gian bị tù, đày không khai báo thông tin có hại cho cách mạng, kháng chiến, không làm tay sai cho địch, được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày. 13 Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế: là người tham gia kháng chiến và được Nhà nước khen tặng Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến thắng, Huy chương Kháng chiến, Huy chương Chiến thắng. Người có công giúp đỡ cách mạng: là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước khen tặng thuộc một trong các trường hợp: (1) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; (2) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến; (3) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huy chương Kháng chiến [24]. Cũng theo Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020, đối tượng được hưởng ưu đãi không chỉ là người có công với cách mạng như trên mà còn bao gồm cả thân nhân của họ, đó là những người có có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng người có công với cách mạng.

Ngoài ra, người có công với cách mạng không chỉ là người trực tiếp chiến đấu mà còn bao gồm những người đã giúp đỡ, cống hiến (Bà mẹ Việt Nam anh hùng) cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Đất nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài, đầy gian khổ để giành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế. Vì vậy số lượng người có công với cách mạng ở nước ta rất lớn. Với việc thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, Đảng và Nhà nước đã xây dựng nhiều chính sách để bù đắp, tri ân, biết ơn những người có công với cách mạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai" của tác giả Vũ Thị Hà, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đức Toàn, tập trung vào việc thực hiện các chính sách ưu đãi dành cho những người có công với cách mạng trong khu vực huyện Chư Sê. Nghiên cứu này không chỉ phân tích hiệu quả của chính sách mà còn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của các chính sách này, từ đó góp phần cải thiện đời sống cho những đối tượng được hưởng chính sách.

Đối với những độc giả quan tâm đến các vấn đề chính trị học và chính sách xã hội, bài viết này mở ra cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về các chính sách tương tự. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ về nâng cao năng lực tổ chức cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tại huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định", nơi mà các chính sách tổ chức và quản lý được thảo luận trong bối cảnh địa phương. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ về đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tại thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi", một nghiên cứu liên quan đến sự đổi mới trong hoạt động chính trị và xã hội. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Co ở Quảng Ngãi" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các chính sách bảo tồn văn hóa trong bối cảnh chính trị hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các chủ đề liên quan trong lĩnh vực chính trị học và quản lý xã hội.