Chương 1. Mét số van để lý luân thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm. nghèo đối với đồng bảo dân tộc thiểu số. Thực trạng thực hiện pháp luật vé xóa đói, giảm nghèo đổi với đẳng bảo dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay.
Quan điểm, yêu cau, giải pháp đây mạnh việc thực hiện pháp uật về xóa đói, giăm nghèo đổi với đồng bao dân tộc thiểu sé thời gian tới 10 CHUONG1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHAP LUẬT VE XÓA BOI, GIAM NGHEO BOI VỚI DONG BAO DAN TOC THIẾU SÓ. Đồng bao dân tộc thiểu số và pháp luật về xóa đói, giảm nghèo đối. với đẳng bào dân tộc 1. Đông bào dan tộc thiểu số và pháp luật ‘6a đối, giảm nghèo dong bào dan tộc thiêu số a) Đẳng bào đân tộc thiểu số Dân tộc là quốc gia theo nghĩa rông, gồm cộng ding người dân cing nhau sinh sông trên một lãnh thé rồng lớn, được vận hành bởi sư quản lý của 'bộ máy nhà nước, trong một dân tộc thi có thé gồm nhiễu tộc người, mỗi tộc người lại có những nét văn hóa và ngôn ngữ khác nhau tao ra nét phong phú, độc đáo Ngoài ra dân tộc còn được hiểu 1a những nhóm người cùng sinh sông với nhau trên một khu vực địa lý nhất định trong lãnh thổ, mang những đặc điểm tiêng biết như về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán.
Dân tộc thiêu số là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân sé cả nước, đa số các dan tộc thiểu số đều tập trung sinh sông ở những khu vực giáp biển giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiên kinh tế khó khăn, van để giáo duc, chăm sóc sức khöe người dân còn nhiều hạn chế ‘Khai niệm “dân tộc thiểu sổ” (tộc người thiểu số hay dan tộc ít người) lả thể hiện mỗi tương quan về số lượng dân số giữa các nhom dan tộc trong một quốc gia. Néu như dân tộc đa sổ là dân tộc chiếm sé lượng đồng nhất, trên 50% dân số trong một quốc gia thì ngược lại, “dân tộc thiểu sé” la các dan tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tôc đông nhất, tức là các dân tộc côn lại Tại khoản 2 và khoản 3 Điễu 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ul ngày 14/1/2011 vẻ công tac dân tộc như sau: “Diên tộc tiiễu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Công hòa xã hội chủ ngiữa Việt Nam” va “Dân tộc da số là dain tộc cỏ số dân chiém trên S0% téng dân số của cả nước theo điều tra dân số quốc gia”. Việt Nam la quốc gia da dân tôc với người Kinh la dan tộc đa số chiếm gén 86% dân số cả nước, 53 dân tộc còn lại là các dân tộc thiểu s6 chỉ chiếm hơn 14% dân số ‘Trén thực tế hiện nay, có quan niệm thường hiểu “dân tộc thiểu số” va “dan tộc ít người” là đồng ngiĩa với nhau trong sự sơ sảnh với dân tộc da số Tuy nhiên, khái niệm “dân tộc thiểu số” là chính xác hơn và được dung phổ. biển hơn Dưới góc độ khoa học, "dân tộc thiểu số” là khái niêm sét trên tương quan vé số lương với một dân tộc có dân số đông nhất, chiếm áp đão.
in tộc ít người” ngoài khía canh định tính là thiểu số, còn bao ham cả can nội dung vẻ số lương tuyệt đối, tức là có dân tô it (ấy tiêu chi đưới 10000 người) b) Xba đôi, giảm nghèo đối với đẳng bào dân tộc thiéu số Hồi nghị Thương đính thé giới về Phát triển xã hội Copenhaghen, Đan. ‘Mach năm 1905 đã đưa ra khái niêm “Người nghèo là tắt cả những ai có thú thập thấp hơn dưới 1 đô la Mỹ (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiên đó được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yêu để tồn tại”. Khai niệm trên hoặc chưa đưa ra các tiêu chí và chuẩn mực cụ thể về đánh giá nghèo hoặc các tiêu chí mới chỉ zoay quanh vẫn dé thu nhập, hay côn gọi là nghèo đơn chiều. Trong khi đó, nhiễu hoc giã cho rằng dé tổn tai, con người cần có những nhu câu vật chat va tinh than tối thiểu, dưới mức tôi thiểu nảy, con người sé bị coi là đang sống trong nghèo nản.
Các học gia đều. đẳng tình cho ring, nghèo la một hiện tương đa chiều, tỉnh trạng nghèo cần được nhịn nhận lả sự thiểu hụt khả năng đạt được một mức đô phúc lợi tối thiểu của con người. Mọi người cần được tiếp cận với giáo duc cơ sở vả các. dich vu chăm sóc sức khoé cơ ban.
Tuyên bổ của Liên hiếp quốc vào tháng 6 năm 2008, được lãnh đạo tắt các các nước trong tỗ chức thông qua, nêu rõ “Nghéo là thiếu năng lực tối thiểu dé tham gia hiệu quả vào các hoạt đông x8 hội. Nghéo cỏ nghĩa là không có đủ ăn, di mặc, không được di học, không đươc đi khám, không có đất đai để trằng trọt hoặc không có nghề nghiệp muối sống bản thân, không được. tiếp cân tín dung. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và tị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và công ding Nghéo có nghĩa là dé bị bạo hành, phải sng ngoài 1é xã hội hoặc trong các điều kiện ri ro, không được tiếp cận nước sach vả công trình vệ sinh an toàn") "Như vay, cần thiết phải phát triển và hoàn thiện khái niệm nghèo đói lả một đòi hỏi tat yêu và khách quan.
Ngày nay, van để nghèo cẩn phải được xem xét và nhìn nhận theo nhiễu góc độ khác nhau. Khái niệm "nghèo đa chiêu" đã ra đời trong đó xác định rõ nghèo đói không hẳn chỉ là đối ăn, thiểu trống, hoc thiếu các điều kiên sống, sinh hoat khác ma nghèo đói còn được. tây ra bõi sự hạn chế trong tiếp cân một cách đồng thời các dich vụ cơ ban như giáo duc, y tế, dinh đưỡng, Tóm lại, sử nghèo khó không chỉ đơn thuần la nghéo về lương thực, thiêu các diéu kiện sinh hoạt mã nó bao gồm các yêu tổ skim hãm cả thé đó không tiếp cân được đền các nguôn lực hoặc không biết vả không thé tim ra các giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện. Do vậy, dé giãi quyết vẫn dé giảm nghèo, không chỉ dững lai ở việc cung, cắp lương thực, thực phẩm, tạo việc làm cho người lao động ma con phải tạo.
ương tên Phát tiễn của Lên hợp quốc - UNDP 2012, SingSiễn quân Ý vỀ gớivi chi sich hi ở Châuvà ThisBi Dương Già doing, Đúng tần Ving Châu Á~ This Bah Dương 13 cơ hội cho người nghèo tiếp cén các dich vụ cơ bản vả đặc biết là tao cho người nghèo các cơ hội để có thể tự vươn lên thoát nghèo một cách bên vững, “Đối được hiểu là tình trang một bộ phận dân cư nghéo có mức sống dưới mức tôi thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cau và vật chất để duy trì cuộc sống, Đỏ là các hộ dân cư hàng năm thiêu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng va thiểu khã năng chỉ tả. Giá ti đỗ dùng trong nhà không đảng kể, nha ỡ đột nát, con thất học, bình quân thu nhập đưới 13kg gaoingườitháng (tương đương 45.000 VNĐ) Như vay, chúng ta có thể hiểu đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân. ca không có những diéu kiên về cuộc sông như ăn, mắc, ỡ, về sinh, y tế, gián đục, đi lại, quyển được tham gia vao các quyết định của công đồng. od đôi là làm cho bô phân dân cur nghèo sống dưới mức tối thiểu va thunhập không đủ dim bão nhu cầu vẻ vật chất để duy trì mức sống, từng.
‘bude nâng cao mức sông đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu. cầu vẻ vật chất để duy trì cuộc sống. Giảm nghèo được hiéu lả bên cạnh việc giãm tình trạng dân cư chỉ có thể thöa mãn một phan nhu câu cơ bản của cuộc sống, thi việc tăng cơ hội tiếp cân các dich vu xã hội, tăng cơ hội tham gia và hưỡng lợi từ các thảnh quả phat triển kinh tế -xã hội cn được quan tâm. Cho đến nay, chưa có mét quan niệm thống nhất vẻ giảm nghèo bên vững, Tuy nhiên, van để giãm nghèo luôn được dé cập khi nói đến phát triển ‘bén vững và giảm nghèo bên vững là nhân tổ quan trong tạo nên sự phát triển ‘vén vững.
Ngược lại, khi kinh tế phát triển bên vững lại tạo điều kiện để giảm. nghèo biên vững Giảm nghèo bén ving là việc thực hiên và duy tri các biện pháp giềm nghéo, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hô nghèo có tư liệu vả phương tiện sản xuất để họ phát triển kinh tế 4 gia đình, nâng cao thu nhập, tự vượt qua đói nghèo, tạo cơ hội để người nghèo. được tiếp cân đẩy đủ các dich vụ xã hội cơ bản. Đảm bão người dân thoát nghèo và không tái nghèo trong bat ky tinh huồng nao.
Giảm nghèo bên viững ở vùng DITS&MN bên cạnh nhằm théa mấn các nhu cdu cơ bản, tăng thu nhập và duy trì ở mức cao, thoát nghèo và không tải nghéo ở vùng DTTS&MN. Giêm nghèo bên vững cân chú trong đến các khía canh tăng cường khả năng ứng phó với các rủi ro, các củ sốc, tăng cường sự tình đẳng về cơ hội tiếp cận các dich vụ x8 hội, tăng cường khả năng tham. ia, hưởng lợi tir các thành qua cia quả trình phát triển, tăng cường vị thể của người nghèo trong cộng đỏng xã hội nhưng gắn với các đặc thù vé các đặc điểm của vùng DTTS (đặc điểm vẻ kinh tế-xã hội, văn hóa của vùng, đặc điểm của các dân tộc thiểu số sinh sống trong vùng,. Giảm nghèo không chỉ đáp ứng nhu céu vẻ bao đảm an sinh xã hội của người dân ma còn phải đáp ứng nhu cầu được bảo vệ, nhu cẩu được tôn trong, nhu câu được thể hiên ‘va phát triển của người dan, bình đẳng về cơ hội va vị thể xã hội trong qua trình tham gia phát triển cộng đông vùng DITTS&MN.
Trước tinh hình nghèo đối của đồng bào dân tộc thiểu số Đăng, Nha nước Việt Nam luôn quan tôm đến việc đưa ra những chính sách xóa đối, giảm nghèo để đồng bảo từng bước có mức sống cao hơn củng với sự phát triển của đất nước.