CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu hiện có và khoảng trống nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Các nghiên cứu liên quan đến DVCTXH tại cộng đồng với NKT Tại Úc, Pim Kuipers, Elizabeth Kendall và Therese Hancock (2001) đã xây dựng khung đánh giá DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực trợ giúp xã hội.
Tám bước, gồm (1) Chuẩn bị (Gain entry): Lựa chọn và đào tạo cán bộ đầu mối ở cộng đồng với tư cách cán bộ hỗ trợ NKT tại cộng đồng; (2) Khảo sát, phỏng vấn NKT và thành viên trong gia đình (xác định các nhu cầu và mức độ cam kết của cộng đồng); (3) Thu thập và phân tích thông tin thứ cấp; (4) Xây dựng khung ý tưởng sơ bộ; (5) Trình phê duyệt trước cuộc họp cộng đồng về các vấn đề của NKT; (6) Tổ chức họp cộng đồng, với sự tham gia của các thành viên liên quan tại cộng đồng; (7) Chia sẻ kết quả cuộc họp với các biên liên quan/có quan tâm; (8) Đề xuất mô hình hành động và Thúc đẩy thực hiện hành đồng, xác định các thành viên quan trọng tại cộng đồng quản lý cung cấp hỗ trợ. Tác giả nhấn mạnh những ưu việt của mô hình DVCTXH với NKT ở cộng đồng. Nó không chỉ giúp NKT tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản khác, đặc biệt với dịch vụ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, mà ‘mức độ hài lòng’ của NKT với DVCTXH tại cộng đồng cũng cao hơn rõ rệt khi họ được chăm sóc và sống trong môi trường quen thuộc của mình. Ngoài ra, nhóm tác giả nhấn mạnh: nội dung và quy trình thực hiện mô hình cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT cần có sự kết nối với hệ thống các dịch vụ liên quan khác để bảo đảm tính kịp thời và đầy đủ của hệ thống chăm sóc NKT.
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ rõ vai trò và chức năng của nhân viên CTXH trong quy trình kết nối với các dịch vụ hỗ trợ gián tiếp khác, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến mạng lưới cung cấp dịch vụ để bảo đảm NKT tiếp cận được các dịch vụ theo nhu cầu tại cộng đồng một cách kịp thời và toàn diện. Pardeck (1988) trong nghiên cứu về Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong thực hành CTXH trên tạp trí The Journal of Sociology & Social Welfare đã mô tả về thuyết sinh thái trong thực hành CTXH. Thuyết sinh thái do Germain Bailey Carel - một giáo sư CTXH thuộc Trường đại học Columbia, Mỹ, xây dựng vào năm 1973 (Barker, 1973; Grinnell, 1973; Hartman, 1976). Với mục đích ban đầu lý thuyết này chỉ phục vụ cho CTXH cá nhân, nhưng sau đó cùng với đồng nghiệp của mình là Alex Gitterman đã phát triển và áp dụng lý thuyết này trong CTXH với nhóm và cộng đồng.
Điểm đáng lưu ý của lý thuyết này cho chúng ta một lăng kính chiếu vào mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh dựa trên nền tảng sinh thái học. Lý thuyết này chú trọng đến việc kết nối các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh để giải quyết vấn đề mà con người đang gặp phải. Với những đặc trưng như vậy, lý thuyết này rất phù hợp trong cung cấp DVCTXH tại cộng đồng cho nhóm yếu thế, trong đó có NKT. 9 David Tobis (2011) đã nghiên cứu và xây dựng chiến lược chuyển đổi sáu bước từ mô hình cung cấp DVCTXH tại trung tâm TGXH sang cung cấp DVCTXH tại cộng đồng, gồm: (1) Thay đổi nhận thức và huy động sự ủng hộ của cộng đồng; (2) Tăng cường/cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho cung cấp dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng; (3) Thực hiện các dự án/hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng; (4) Sử dụng các kết quả dự án/hoạt động để chuyển dịch vụ hỗ trợ tại trung tâm sang cộng đồng; (5) Tổng kết, báo cáo và khuyến nghị chính sách và (6) Tạo hệ thống cung cấp dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng cấp quốc gia.
Từ nghiên cứu này cho thấy các bước và nội dung hoạt động cần triển khai khi chuyển đổi từ mô hình cung cấp DVCTXH tại các trung tâm TGXH sang cung cấp DVCTXH tại cộng đồng. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra các giải pháp kết nối giữa DVCTXH tại trung tâm với mạng lưới DVCTXH tại cộng đồng đồng; cơ chế phối hợp liên ngành giữa dịch vụ trực tiếp và dịch vụ gián tiếp hỗ trợ NKT tại cộng đồng. Với mục tiêu “Không để ai bị bỏ lại phía sau” của Liên hợp quốc, trong Chương trình Nghị sự 2030 (2011), Liên hợp quốc đặt phát triển con người làm trung tâm, đặc biệt chú trọng hỗ trợ NKT và các nhóm yếu thế khác để bảo đảm họ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và các dịch vụ hỗ trợ chuyên biệt với NKT. Để đạt mục tiêu trên, Liên hợp quốc khuyến nghị cần vận hành các mô hình kết hợp đa ngành, đa lĩnh vực (đặc biệt các dịch vụ trợ giúp xã hội, y tế, giáo dục, nhà ở và hòa nhập xã hội), tiếp cận hỗ trợ theo quyền, theo vòng đời và thích ứng với những cú sốc của con người trong vòng đời.
Tuy nhiên Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc chưa cụ thể hóa cơ chế phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực và ngành nào đóng vai trò chủ đạo, các ngành nào đóng vai trò phối hợp trong cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT. Hiệp hội Nhân viên CTXH của Úc (Australian Association of Social Workers - Stephen Brand, 2016) quy định 09 nhóm DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực y tế, gồm (1) Xây dựng năng lực cho đội ngũ cung cấp DVCTXH trong lĩnh vực y tế; (2) Đánh giá lâm sàng NKT, người chăm sóc; (3) Lập kế hoạch hỗ trợ NKT; (4) Quản lý trường hợp và điều phối dịch vụ; (5) Truyền thông vận động; (6) Tư vấn và chỉ định liều pháp điều trị tâm lý cho NKT; (7) Hòa nhập cộng đồng cho NKT; (8) Nghiên cứu thiết kế chính sách và chương trình và (9) Các dịch vụ chuyên biệt giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội. Qua nghiên cứu 09 loại hình DVCTXH của Úc với NKT tại cộng đồng cho thấy DVCTXH trong lĩnh vực y tế được chia thành hai nhóm chính. Nhóm 1: gồm các dịch vụ nhân viên CTXH thực hiện trực tiếp với NKT tại các cơ sở y tế, và nhóm 2: gồm các hoạt động nhân viên CTXH là người điều phối, kết nối với các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ khác (đặc biệt là các dịch vụ chuyên biệt) tại cộng đồng để hỗ trợ cho NKT một cách toàn diện trong các cơ sở y tế và tại cộng đồng.
Tuy nhiên, tài liệu mô hình này chưa phân tích các lợi ích, tính ưu việt của DVCTXH trong lĩnh vực y tế khi được cung cấp tại cộng đồng, cũng như sự kết nối giữa DVCTXH trực tiếp với các dịch vụ gián tiếp liên quan khác. 10 Nhìn từ góc độ hiệu quả chi phí khi lựa chọn mô hình DVCTXH cho NKT, Peter Saunders (2006) đưa ra các tính toán chi phí của DVCTXH với NKT. Kết quả tính toán chứng minh chi phí cho DVCTXH với NKT trong chăm sóc y tế rẻ hơn khi dịch vụ được thực hiện ở cộng đồng. Ngoài ra, nghiên cứu của Dinah McLeod (2003) cũng cho thấy mức chi phí cho dịch vụ chăm sóc xã hội tại cộng đồng rẻ hơn nhiều so với dịch vụ chăm sóc tương tự tại trung tâm.
Giá cụ thể từ 10$ đến 1.000$ cho một dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng so với mức từ 50.000$ cho một dịch vụ chăm sóc tại trung tâm/bệnh viện. Tổng kết của MIND1 (2018) cho thấy chi phí của MIND cho chăm sóc một bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng ‘Sub-accute’ ở Bang Victoria của Úc chỉ bằng một nửa chi phí của chính phủ chăm sóc NKT ở bệnh viện, trong khi tốc độ phục hồi chức năng, khỏi bệnh nhanh hơn khi được chăm sóc tại cộng đồng. Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy chúng ta cần quan tâm phát triển hệ thống hỗ trợ NKT tại cộng đồng. Việc chăm sóc NKT tại các trung tâm chỉ là giải pháp cấp bách, tạm thời, sau đó cần sớm đưa NKT trợ lại cộng đồng.
Tuy nhiên, ngoài lợi ích về giá cả, các nghiên cứu trên chưa đưa ra các minh chứng, lý do tại sao NKT thường mong muốn được chăm sóc tại cộng đồng hơn vào các trung tâm. Chapal Khasnabis và Karen (2010) đã xây dựng hướng dẫn quy trình cung cấp DVCTXH với NKT trong lĩnh vực y tế nhằm phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho NKT, gồm các dịch vụ (i) hướng dẫn phương thức xây dựng các chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; (ii) thúc đẩy dịch vụ hỗ trợ phục hồi chức năng cho NKT dựa vào cộng đồng; (iii) hỗ trợ các bên liên quan tại cộng đồng để cùng chung tay hỗ trợ NKT tại cộng đồng; (iv) thúc đẩy trao quyền cho NKT và thành viên gia đình, người chăm sóc NKT. Ngoài ra, tác giả còn nhận định, hiện có một số mô hình hỗ trợ NKT phục hồi chức năng ở các trung tâm y tế, nhưng điều kiện cơ sở vật chất và giá thành không phù hợp với NKT, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Từ nghiên cứu này cho thấy, nhóm tác giả khuyến khích phát triển mạng lưới cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT.
Do vậy, nhiều nội dung trong cuốn sách này có thể nghiên cứu ứng dụng cho phát triển DVCTXH tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần có nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt ở nhóm dịch vụ số (iii) ‘hỗ trợ các bên liên quan tại cộng đồng để cùng chung tay hỗ trợ NKT tại cộng đồng’. Nội dung này hàm ý sự tham gia và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan (cơ chế phối hợp đa ngành) trong cung cấp DVCTXH trực tiếp và DVCTXH gián tiếp tại cộng đồng với NKT phù hợp với bối cảnh của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mannan và các cộng sự (2012) trong nghiên cứu ‘Thách thức về nguồn lực trong phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng’ (Đại học Trinity Dublin, Ai Len) đã rà soát 235 nghiên cứu khác nhau, trong đó lựa chọn được 6 nghiên cứu tập trung giải quyết (address) các vấn đề liên quan đến phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR), đặc 1 MIND là một công ty được Chính phủ Úc ký hợp đồng cung cấp DVCTXH tại cộng đồng cho đối tượng yếu thế.