Chính sách dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng cho người khuyết tật ở Việt Nam

Chuyên đề nghiên cứu Chính sách dịch vụ công tác xã hội cho người khuyết tật tại cộng đồng Việt Nam, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

246
12
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nghiên cứu hiện có và khoảng trống nghiên cứu

1.2. Các nghiên cứu nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu trong nước

1.4. Đánh giá tổng quan nghiên cứu

1.5. Khung lý thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Khung lý thuyết nghiên cứu

1.5.2. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

2.1. Người khuyết tật (NKT)

2.1.1. Khái niệm NKT

2.1.2. Đặc điểm và nhu cầu của NKT

2.1.3. Phân loại NKT

2.2. DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.2.1. Khái niệm DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.2.2. Đặc điểm của DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.2.3. Phân loại và các chức năng của DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.3. Chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.3.1. Khái niệm chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.3.2. Mục tiêu của chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.3.3. Chủ thể và đối tượng của chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.3.4. Các bộ phận của chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.3.5. Tiêu chí đánh giá chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT

2.4. Kinh nghiệm về chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT của một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam

2.4.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

2.4.2. Bài học rút ra cho Việt Nam

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng NKT và DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam

3.1.1. Thực trạng NKT

3.1.2. Thực trạng DVCTXH tại cộng đồng với NKT

3.1.3. Thực trạng chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam

3.1.4. Thực trạng chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực TGXH

3.1.5. Thực trạng chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực y tế

3.1.6. Thực trạng chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực giáo dục

3.1.7. Thực trạng chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực tư pháp

3.2. Tiểu kết chương 3

4. ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

4.1. Sự phù hợp, tính hiệu lực và tính hiệu quả của chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam

4.1.1. Sự phù hợp

4.1.2. Tính hiệu lực

4.1.3. Tính hiệu quả

4.2. Kết quả thực hiện chính sách theo các yếu tố ảnh hưởng

4.2.1. Tổ chức cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT

4.2.2. Đội ngũ nhân viên cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT

4.2.3. Tổ chức, cá nhân liên quan đến DVCTXH tại cộng đồng với NKT

4.2.4. Quản lý chất lượng và giá cả dịch vụ

4.3. Tiểu kết chương 4

5. CHƯƠNG 5: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH DVCTXH TẠI CỘNG ĐỒNG VỚI NKT Ở VIỆT NAM

5.1. Quan điểm và định hướng hoàn thiện chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030

5.1.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030

5.1.2. Định hướng chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam đến năm 2025

5.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam

5.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT ở Việt Nam trong từng lĩnh vực

5.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách DVCTXH tại cộng đồng với NKT đối với đơn vị, cá nhân cung cấp

5.2.3. Nhóm giải pháp đối với các đơn vị, cá nhân quản lý và thụ hưởng

5.3. Tiểu kết chương 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chính sách dịch vụ công tác xã hội cho người khuyết tật tại cộng đồng Việt Nam

Chính sách dịch vụ công tác xã hội (DVCTXH) cho người khuyết tật (NKT) tại cộng đồng Việt Nam đang ngày càng được chú trọng nhằm đảm bảo quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm đối tượng này. DVCTXH không chỉ là một dịch vụ hỗ trợ mà còn là một phương tiện để người khuyết tật có thể hòa nhập vào cộng đồng, phát triển bản thân và khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, chính sách này hướng tới việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng, giúp NKT tiếp cận các nguồn lực cần thiết để cải thiện đời sống. Chính sách này còn nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền lợi của NKT, từ đó tạo ra một môi trường sống tích cực hơn cho họ.

1.1. Tầm quan trọng của chính sách

Chính sách DVCTXH cho NKT có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi và sự công bằng xã hội. Theo đó, chính sách này không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản của NKT mà còn tạo điều kiện cho họ tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. Một nghiên cứu cho thấy, việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng giúp NKT cải thiện tình hình sức khỏe, nâng cao khả năng tự lập và giảm thiểu sự phụ thuộc vào gia đình và xã hội. Điều này không chỉ có lợi cho bản thân NKT mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

II. Thực trạng chính sách dịch vụ công tác xã hội cho người khuyết tật tại cộng đồng

Thực trạng chính sách DVCTXH cho NKT tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều điểm tích cực nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Theo Tổng cục Thống kê, khoảng 6,2 triệu NKT đang sinh sống tại Việt Nam, trong đó 99,6% sống tại cộng đồng. Tuy nhiên, chỉ dưới 25% NKT tiếp cận được các dịch vụ hỗ trợ từ nhà nước. Điều này cho thấy một khoảng cách lớn giữa nhu cầu và thực tế cung cấp dịch vụ. Nhiều chính sách hiện hành còn thiếu đồng bộ và chưa hoàn thiện, dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc triển khai thực hiện. Hệ thống các trung tâm cung cấp DVCTXH tại cộng đồng còn hạn chế về mặt số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của NKT.

2.1. Các lĩnh vực dịch vụ công tác xã hội

Chính sách DVCTXH cho NKT hiện nay được triển khai chủ yếu trong bốn lĩnh vực: trợ giúp xã hội, y tế, giáo dục và tư pháp. Mỗi lĩnh vực có những đặc thù riêng, nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là nâng cao chất lượng cuộc sống cho NKT. Trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, các trung tâm đã cung cấp nhiều dịch vụ thiết yếu, nhưng vẫn còn thiếu sót trong việc tiếp cận và hỗ trợ cho NKT. Lĩnh vực y tế cũng đang dần cải thiện, với sự tham gia của các nhân viên công tác xã hội trong các bệnh viện. Tuy nhiên, sự phát triển của DVCTXH trong lĩnh vực giáo dục và tư pháp vẫn còn chậm, cần được thúc đẩy hơn nữa.

III. Đánh giá hiệu quả của chính sách dịch vụ công tác xã hội

Đánh giá hiệu quả của chính sách DVCTXH cho NKT cho thấy một số thành tựu nhất định nhưng cũng chỉ ra nhiều hạn chế cần khắc phục. Chính sách đã giúp nhiều NKT tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tuy nhiên, tỷ lệ NKT được hưởng lợi từ các dịch vụ này vẫn còn thấp. Một nghiên cứu chỉ ra rằng, NKT thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và dịch vụ, dẫn đến việc họ không thể tận dụng các hỗ trợ từ chính sách. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện hệ thống thông tin và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của NKT.

3.1. Những thách thức trong việc thực hiện chính sách

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc thực hiện chính sách DVCTXH cho NKT là sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật và chính sách. Nhiều quy định còn chồng chéo, gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên công tác xã hội còn thiếu về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ. Đặc biệt, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này cần được chú trọng hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của NKT.

IV. Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách

Để hoàn thiện chính sách DVCTXH cho NKT tại cộng đồng, cần có một chiến lược rõ ràng và đồng bộ từ cấp quốc gia đến địa phương. Định hướng phát triển chính sách nên tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ tại cộng đồng và tăng cường sự tham gia của NKT trong quá trình xây dựng chính sách. Đồng thời, cần cải thiện các quy định pháp luật liên quan để tạo ra một khung pháp lý thuận lợi hơn cho việc triển khai DVCTXH. Các giải pháp cụ thể như tăng cường đào tạo nhân viên công tác xã hội, phát triển các chương trình hỗ trợ tại cộng đồng và nâng cao nhận thức của xã hội về quyền lợi của NKT là rất cần thiết.

4.1. Các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện chính sách DVCTXH cho NKT bao gồm việc xây dựng một hệ thống thông tin hiệu quả để NKT có thể dễ dàng tiếp cận dịch vụ, đồng thời tổ chức các chương trình đào tạo cho nhân viên công tác xã hội nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức. Cần thiết lập các cơ chế giám sát và đánh giá thường xuyên để theo dõi hiệu quả của chính sách, từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Hơn nữa, việc khuyến khích sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng trong việc cung cấp dịch vụ cũng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu hiện có và khoảng trống nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Các nghiên cứu liên quan đến DVCTXH tại cộng đồng với NKT Tại Úc, Pim Kuipers, Elizabeth Kendall và Therese Hancock (2001) đã xây dựng khung đánh giá DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực trợ giúp xã hội.

Tám bước, gồm (1) Chuẩn bị (Gain entry): Lựa chọn và đào tạo cán bộ đầu mối ở cộng đồng với tư cách cán bộ hỗ trợ NKT tại cộng đồng; (2) Khảo sát, phỏng vấn NKT và thành viên trong gia đình (xác định các nhu cầu và mức độ cam kết của cộng đồng); (3) Thu thập và phân tích thông tin thứ cấp; (4) Xây dựng khung ý tưởng sơ bộ; (5) Trình phê duyệt trước cuộc họp cộng đồng về các vấn đề của NKT; (6) Tổ chức họp cộng đồng, với sự tham gia của các thành viên liên quan tại cộng đồng; (7) Chia sẻ kết quả cuộc họp với các biên liên quan/có quan tâm; (8) Đề xuất mô hình hành động và Thúc đẩy thực hiện hành đồng, xác định các thành viên quan trọng tại cộng đồng quản lý cung cấp hỗ trợ. Tác giả nhấn mạnh những ưu việt của mô hình DVCTXH với NKT ở cộng đồng. Nó không chỉ giúp NKT tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản khác, đặc biệt với dịch vụ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, mà ‘mức độ hài lòng’ của NKT với DVCTXH tại cộng đồng cũng cao hơn rõ rệt khi họ được chăm sóc và sống trong môi trường quen thuộc của mình. Ngoài ra, nhóm tác giả nhấn mạnh: nội dung và quy trình thực hiện mô hình cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT cần có sự kết nối với hệ thống các dịch vụ liên quan khác để bảo đảm tính kịp thời và đầy đủ của hệ thống chăm sóc NKT.

Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ rõ vai trò và chức năng của nhân viên CTXH trong quy trình kết nối với các dịch vụ hỗ trợ gián tiếp khác, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến mạng lưới cung cấp dịch vụ để bảo đảm NKT tiếp cận được các dịch vụ theo nhu cầu tại cộng đồng một cách kịp thời và toàn diện. Pardeck (1988) trong nghiên cứu về Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong thực hành CTXH trên tạp trí The Journal of Sociology & Social Welfare đã mô tả về thuyết sinh thái trong thực hành CTXH. Thuyết sinh thái do Germain Bailey Carel - một giáo sư CTXH thuộc Trường đại học Columbia, Mỹ, xây dựng vào năm 1973 (Barker, 1973; Grinnell, 1973; Hartman, 1976). Với mục đích ban đầu lý thuyết này chỉ phục vụ cho CTXH cá nhân, nhưng sau đó cùng với đồng nghiệp của mình là Alex Gitterman đã phát triển và áp dụng lý thuyết này trong CTXH với nhóm và cộng đồng.

Điểm đáng lưu ý của lý thuyết này cho chúng ta một lăng kính chiếu vào mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh dựa trên nền tảng sinh thái học. Lý thuyết này chú trọng đến việc kết nối các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh để giải quyết vấn đề mà con người đang gặp phải. Với những đặc trưng như vậy, lý thuyết này rất phù hợp trong cung cấp DVCTXH tại cộng đồng cho nhóm yếu thế, trong đó có NKT. 9 David Tobis (2011) đã nghiên cứu và xây dựng chiến lược chuyển đổi sáu bước từ mô hình cung cấp DVCTXH tại trung tâm TGXH sang cung cấp DVCTXH tại cộng đồng, gồm: (1) Thay đổi nhận thức và huy động sự ủng hộ của cộng đồng; (2) Tăng cường/cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho cung cấp dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng; (3) Thực hiện các dự án/hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng; (4) Sử dụng các kết quả dự án/hoạt động để chuyển dịch vụ hỗ trợ tại trung tâm sang cộng đồng; (5) Tổng kết, báo cáo và khuyến nghị chính sách và (6) Tạo hệ thống cung cấp dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng cấp quốc gia.

Từ nghiên cứu này cho thấy các bước và nội dung hoạt động cần triển khai khi chuyển đổi từ mô hình cung cấp DVCTXH tại các trung tâm TGXH sang cung cấp DVCTXH tại cộng đồng. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra các giải pháp kết nối giữa DVCTXH tại trung tâm với mạng lưới DVCTXH tại cộng đồng đồng; cơ chế phối hợp liên ngành giữa dịch vụ trực tiếp và dịch vụ gián tiếp hỗ trợ NKT tại cộng đồng. Với mục tiêu “Không để ai bị bỏ lại phía sau” của Liên hợp quốc, trong Chương trình Nghị sự 2030 (2011), Liên hợp quốc đặt phát triển con người làm trung tâm, đặc biệt chú trọng hỗ trợ NKT và các nhóm yếu thế khác để bảo đảm họ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và các dịch vụ hỗ trợ chuyên biệt với NKT. Để đạt mục tiêu trên, Liên hợp quốc khuyến nghị cần vận hành các mô hình kết hợp đa ngành, đa lĩnh vực (đặc biệt các dịch vụ trợ giúp xã hội, y tế, giáo dục, nhà ở và hòa nhập xã hội), tiếp cận hỗ trợ theo quyền, theo vòng đời và thích ứng với những cú sốc của con người trong vòng đời.

Tuy nhiên Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc chưa cụ thể hóa cơ chế phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực và ngành nào đóng vai trò chủ đạo, các ngành nào đóng vai trò phối hợp trong cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT. Hiệp hội Nhân viên CTXH của Úc (Australian Association of Social Workers - Stephen Brand, 2016) quy định 09 nhóm DVCTXH tại cộng đồng với NKT trong lĩnh vực y tế, gồm (1) Xây dựng năng lực cho đội ngũ cung cấp DVCTXH trong lĩnh vực y tế; (2) Đánh giá lâm sàng NKT, người chăm sóc; (3) Lập kế hoạch hỗ trợ NKT; (4) Quản lý trường hợp và điều phối dịch vụ; (5) Truyền thông vận động; (6) Tư vấn và chỉ định liều pháp điều trị tâm lý cho NKT; (7) Hòa nhập cộng đồng cho NKT; (8) Nghiên cứu thiết kế chính sách và chương trình và (9) Các dịch vụ chuyên biệt giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội. Qua nghiên cứu 09 loại hình DVCTXH của Úc với NKT tại cộng đồng cho thấy DVCTXH trong lĩnh vực y tế được chia thành hai nhóm chính. Nhóm 1: gồm các dịch vụ nhân viên CTXH thực hiện trực tiếp với NKT tại các cơ sở y tế, và nhóm 2: gồm các hoạt động nhân viên CTXH là người điều phối, kết nối với các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ khác (đặc biệt là các dịch vụ chuyên biệt) tại cộng đồng để hỗ trợ cho NKT một cách toàn diện trong các cơ sở y tế và tại cộng đồng.

Tuy nhiên, tài liệu mô hình này chưa phân tích các lợi ích, tính ưu việt của DVCTXH trong lĩnh vực y tế khi được cung cấp tại cộng đồng, cũng như sự kết nối giữa DVCTXH trực tiếp với các dịch vụ gián tiếp liên quan khác. 10 Nhìn từ góc độ hiệu quả chi phí khi lựa chọn mô hình DVCTXH cho NKT, Peter Saunders (2006) đưa ra các tính toán chi phí của DVCTXH với NKT. Kết quả tính toán chứng minh chi phí cho DVCTXH với NKT trong chăm sóc y tế rẻ hơn khi dịch vụ được thực hiện ở cộng đồng. Ngoài ra, nghiên cứu của Dinah McLeod (2003) cũng cho thấy mức chi phí cho dịch vụ chăm sóc xã hội tại cộng đồng rẻ hơn nhiều so với dịch vụ chăm sóc tương tự tại trung tâm.

Giá cụ thể từ 10$ đến 1.000$ cho một dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng so với mức từ 50.000$ cho một dịch vụ chăm sóc tại trung tâm/bệnh viện. Tổng kết của MIND1 (2018) cho thấy chi phí của MIND cho chăm sóc một bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng ‘Sub-accute’ ở Bang Victoria của Úc chỉ bằng một nửa chi phí của chính phủ chăm sóc NKT ở bệnh viện, trong khi tốc độ phục hồi chức năng, khỏi bệnh nhanh hơn khi được chăm sóc tại cộng đồng. Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy chúng ta cần quan tâm phát triển hệ thống hỗ trợ NKT tại cộng đồng. Việc chăm sóc NKT tại các trung tâm chỉ là giải pháp cấp bách, tạm thời, sau đó cần sớm đưa NKT trợ lại cộng đồng.

Tuy nhiên, ngoài lợi ích về giá cả, các nghiên cứu trên chưa đưa ra các minh chứng, lý do tại sao NKT thường mong muốn được chăm sóc tại cộng đồng hơn vào các trung tâm. Chapal Khasnabis và Karen (2010) đã xây dựng hướng dẫn quy trình cung cấp DVCTXH với NKT trong lĩnh vực y tế nhằm phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho NKT, gồm các dịch vụ (i) hướng dẫn phương thức xây dựng các chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; (ii) thúc đẩy dịch vụ hỗ trợ phục hồi chức năng cho NKT dựa vào cộng đồng; (iii) hỗ trợ các bên liên quan tại cộng đồng để cùng chung tay hỗ trợ NKT tại cộng đồng; (iv) thúc đẩy trao quyền cho NKT và thành viên gia đình, người chăm sóc NKT. Ngoài ra, tác giả còn nhận định, hiện có một số mô hình hỗ trợ NKT phục hồi chức năng ở các trung tâm y tế, nhưng điều kiện cơ sở vật chất và giá thành không phù hợp với NKT, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Từ nghiên cứu này cho thấy, nhóm tác giả khuyến khích phát triển mạng lưới cung cấp DVCTXH tại cộng đồng với NKT.

Do vậy, nhiều nội dung trong cuốn sách này có thể nghiên cứu ứng dụng cho phát triển DVCTXH tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần có nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt ở nhóm dịch vụ số (iii) ‘hỗ trợ các bên liên quan tại cộng đồng để cùng chung tay hỗ trợ NKT tại cộng đồng’. Nội dung này hàm ý sự tham gia và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan (cơ chế phối hợp đa ngành) trong cung cấp DVCTXH trực tiếp và DVCTXH gián tiếp tại cộng đồng với NKT phù hợp với bối cảnh của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mannan và các cộng sự (2012) trong nghiên cứu ‘Thách thức về nguồn lực trong phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng’ (Đại học Trinity Dublin, Ai Len) đã rà soát 235 nghiên cứu khác nhau, trong đó lựa chọn được 6 nghiên cứu tập trung giải quyết (address) các vấn đề liên quan đến phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR), đặc 1 MIND là một công ty được Chính phủ Úc ký hợp đồng cung cấp DVCTXH tại cộng đồng cho đối tượng yếu thế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Chính sách dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng cho người khuyết tật ở Việt Nam" của tác giả Đoàn Hữu Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Thị Anh Vân tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2023, tập trung vào việc phân tích các chính sách và dịch vụ hỗ trợ cho người khuyết tật trong cộng đồng. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt, mà còn đưa ra những đề xuất nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ công tác xã hội. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách các chính sách có thể được điều chỉnh để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người khuyết tật, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh pháp lý liên quan đến dịch vụ công và chính sách xã hội, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình". Bài viết này phân tích về quy trình giải quyết khiếu nại, một phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân, bao gồm cả người khuyết tật.

Ngoài ra, "Pháp luật về tuyển dụng lao động và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần hợp tác giáo dục Việt Nam (EDUCO)" cũng là một tài liệu thú vị, cung cấp cái nhìn về các chính sách liên quan đến việc làm và quyền lợi của người lao động, trong đó có người khuyết tật.

Cuối cùng, bài viết "Pháp luật đất quốc phòng và an ninh ở Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất, một vấn đề có liên quan mật thiết đến chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật trong việc tiếp cận và sử dụng tài nguyên đất đai.

Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các chính sách và pháp luật liên quan đến người khuyết tật và dịch vụ công xã hội tại Việt Nam.