Đặt vấn đề Tại các đô thị Việt Nam với mật độ dân số ngày càng tăng, vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt ngày càng trở nên bức xúc do đây là một trong các nguồn gây ô nhiễm môi trường chính, tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người, gây mất cảnh quan đô thị. Tỉnh Bình Định đang trên đà tăng trưởng kinh tế nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn 2010 – 2015 đạt 10,9%, (Báo cáo văn kiện Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XIX) thì vấ n đề ô nhiễm môi trường cũng ngày càng gia tăng, đă ̣c biê ̣t là ô nhiễm môi trường do chấ t thải rắ n. Thành phố Quy Nhơn là đơn vị trung tâm hành chính của tỉnh Bình Định, sự phát triển kinh tế làm gia tăng lượng người đến cư trú, kéo theo lượng rác thải ra cũng tăng qua các năm. Hiện nay, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh khoảng hơn 200 tấn/ngày, dự báo khối lượng chất thải sinh hoạt (RTSH) phát sinh đến năm 2020 là 400 tấn/ngày (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định, 2015) sẽ tạo áp lực lớn cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý, hiện tại RTSH chỉ mới được thu gom trong khu vực nội thị của thành phố và một số chợ.
Việc thu gom rác thải của khu vực dân cư chưa tốt, vẫn còn tình trạng vứt rác bừa bãi dọc hai bên đường, chợ, bãi biển hoặc đốt, chưa đáp ứng được yêu cầu vệ sinh môi trường đô thị. Kinh phí do nhân dân đóng góp không đủ bù đắp cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác, hằng năm ngân sách nhà nước phải cấp bổ sung chỉ riêng cho công tác thu gom vận chuyển RTSH là hơn 15 tỷ đồng. Khu vực nhà nước hiện không có đủ nguồn lực để có thể cung ứng đầy đủ và thỏa đáng các dịch vụ công bao gồm cả dịch vụ thu gom và vận chuyển rác thải, nhất là đối với khu vực dân cư sống thưa thớt. Hiện tại tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại thành phố Quy Nhơn mới đạt khoảng 85%.
Để từng bước cải thiện môi trường trong khu vực dân cư do RTSH gây ra, vận động người dân cùng tham gia, tiến tới xã hội hóa dịch vụ thu gom RTSH hộ gia đình trên cơ sở xác định phí dịch vụ một cách thỏa đáng, tác giả chọn đề tài: 123doc 2 “Xác định mức sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu đo lường mức sẵn lòng chi trả và những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình đối với dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt và các giải pháp phù hợp nhằm mở rộng mạng lưới thu gom RTSH tại thành phố Quy Nhơn, tiến tới việc xã hội hóa ngành dịch vụ này. Mục tiêu cụ thể: Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của HGĐ đối với dịch vụ thu gom RTSH tại thành phố Quy Nhơn.
Mục tiêu 2: Đo lường mức sẵn lòng trả của hộ gia đình đối với dịch vụ thu gom rác RTSH tại thành phố Quy Nhơn. Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm mở rộng mạng lưới thu gom RTSH tại thành phố Quy Nhơn, tiến tới việc xã hội hóa ngành dịch vụ này. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, đề tài cần tìm câu trả lời cho 3 câu hỏi sau đây: Câu hỏi 1: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến sự sẵn lòng trả (WTP) của các hộ gia đình (HGĐ) đối với dịch vụ thu gom RTSH ? Câu hỏi 2: Giá sẵn lòng trả của HGĐ đối với dịch vụ thu gom rác RTSH là bao nhiêu? Câu hỏi 3: Những giải pháp nào có thể áp dụng trong tình hình thực tế tại địa phương nhằm mở rộng mạng lưới thu gom RTSH tại thành phố Quy Nhơn? 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là mức sẵn lòng chi trả và những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình riêng rẽ trong phạm vi các phường, xã của thành phố (không bao gồm: các hộ trong chung cư, các hộ cho thuê căn 123doc 3 hộ/phòng trọ, và các cơ sở kinh doanh dịch vụ, thương mại) đối với dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt. Phạm vi nghiên cứu Đề tài là tập trung nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả và những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình riêng rẽ trong phạm vi các phường, xã của thành phố Quy Nhơn đối với dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt không bao gồm: CTR y tế, CTR nguy hại và CTR công nghiệp. Đề tài chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016. Phương pháp nghiên cứu 5.
Nguồn thu thập số liệu Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu về tình hình quản lý CTR sinh hoạt; quy hoạch quản lý và xử lý CTR trên địa bàn tỉnh Bình Định ở Công ty Cổ phần môi trường đô thị Quy Nhơn, UBND thành phố Quy Nhơn, Sở TN&MT tỉnh Bình Định. Nguồn số liệu sơ cấp: thu thập thông tin từ 210 hộ gia đình thuộc 21 phường, xã của thành phố Quy Nhơn. Phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu phi xác suất theo hạn ngạch (quota sampling), cụ thể trong 21 phường, xã ở thành phố Quy nhơn sẽ chọn ra 210 hộ để phỏng vấn. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu sau khi được thu thập sẽ kiểm tra tính phù hợp, đơn vị tính, tính đồng nhất, mức độ chính xác.
Sau đó sẽ được mã hóa, nhập dữ liệu, làm sạch dữ liệu trước khi tiến hành phân tích thông qua phần mềm SPSS 22. Các phương pháp phân tích như mô hình hồi quy tuyến tính không thể áp dụng được cho các loại biến phụ thuộc định tính. Theo Ramu Ramanathan (2000), đối với loại biến này, thì mô hình Logit sẽ rất phù hợp.Để tìm hiểu mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được đưa vào mô hình nên tác giả đã sử dụng mô hình Binary Logistic để đưa vào nghiên cứu. Đóng góp khoa học của đề tài Đề tài: “Xác định mức sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ công, dịch vụ thu gom rác thải, giá cả thu gom rác thải, các lý thuyết cơ sở tính giá dịch vụ và các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài.
Thông tin cụ thể về thực trạng thu gom rác thải trên địa bàn TP Quy Nhơn và thực trạng về giá dịch vụ thu gom rác. Xây dựng mô hình đo lường mức sẵn lòng trả của hộ gia đình đối với dịch vụ thu gom rác RTSH tại thành phố Quy Nhơn. Hiểu được mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của hộ gia đình đối với dịch vụ thu gom rác RTSH tại thành phố Quy Nhơn. Trong đó quan trọng là xác định mức giá thực tế mà HGĐ sẵn lòng chi trả.
Đề xuất giải pháp nào có thể áp dụng trong tình hình thực tế tại địa phương nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng mạng lưới thu gom RTSH tại thành phố Quy Nhơn. Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học tham khảo đối với các chuyên gia hoạch định chính sách trong lĩnh vực kinh tế môi trường, quản lý nhà nước và các nghiên cứu viên trong lĩnh vực quản lý công tại địa phương nói riêng và các tỉnh thành trong khu vực nói chung. Cấu trúc đề tài Đề tài được kết cấu gồm 5 chương. Giới thiệu đề tài, trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận: Tác giả trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, xây dựng mô hình nghiên cứu. 123doc 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Tác giả giới thiệu quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu, xác định kích thước mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập được tiến hành như thế nào và các kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Tác giả phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu thập được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết quả kiểm định độ tin cậy và độ phù và các kết quả thống kê. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tác giả tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài, đặc biệt là mô hình nghiên cứu. Từ đó có khuyến nghị những giải pháp nhằm làm gia tăng sự hiểu biết của người dân về những tác hại ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt gây ra đến sức khỏe cộng đồng, vẻ mỹ quan đô thị, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Qua đó, góp sức cùng nhà nước giải quyết vấn đề môi trường thông qua việc đóng góp kinh phí, giảm bớt phần nào gánh nặng cho ngân sách nhà nước. 123doc 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương 2 trình bày các khái niệm về rác thải; dịch vụ công; hành vi, mô hình lý thuyết hành vi người tiêu dùng; phương pháp định giá tiền tệ của hàng hóa và dịch vụ phi thị trường; phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và cách đo lường WTP. Ngoài ra, để có cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả cũng đã tìm hiểu một số nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Rác thải sinh hoạt 2.
Khái niệm rác thải sinh hoạt Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống, không một hoạt động nào của cuộc sống không sinh ra rác. Xã hội ngày càng phát triển, hiện đại thì lượng rác ngày càng nhiều và dần trở thành mối đe dọa thực sự đối với cuộc sống. Chất thải được định nghĩa là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác.