phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cở sở lý luận về quản lý, sử dụng đất trồng lúa và chính sách của Nhà nƣớc về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách quản lý, sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh việc thực hiện chính sách quản lý, sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk. 6 Chƣơng 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA VÀ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƢỚC VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đất, đất đai, đất trồng lúa Khái niệm đất: Theo Đô-cu-trai-ép thì đất là một thể tự nhiên đƣợc hình thành do tác động của 5 yếu tố là khí hậu, sinh vật, đá mẹ và tuổi địa phƣơng. Còn theo William thì đất là mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng. Từ điển Tiếng việt định nghĩa: “Đất là phần rắn nổi lên ở mặt địa cầu, trái với biển” [71].
Thông tƣ số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng định nghĩa: “Đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cây trồng” [5]. Từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu, đất là phần tới xốp nằm trên bề mặt của trái đất, không phải là biển. Đất đƣợc hình thành do kết quả của nhiều yếu tố nhƣ địa hình, thời gian, khí hậu, đá mẹ, động thực vật… Giá trị tài nguyên của đất đƣợc đánh giá bằng diện tích và độ màu mỡ của đất. Khái niệm đất đai: Theo Brinkman và Smuth (1973) và FAO định nghĩa đất đai là: “Một vạt đất xác định về mặt địa lý là diện tích của bề mặt trái đất với các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chu kỳ có thể dự đoán được của lớp đệm bên trên, bên trong và bên dưới nó” [31].
Hội nghị quốc tế về Môi trƣờng tổ chức tại Rio De Janero, Brazil (2003) đƣa ra định nghĩa về đất đai nhƣ sau: “Đất đai được hiểu là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó” [39]. Theo Thông tƣ số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng định nghĩa: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, 7 diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người” [5]. Nhƣ vậy, có thể hiểu, đất đai có thể đƣợc nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hƣởng nhất định đếm tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian.
Khái niệm đất trồng lúa: Hiện nay, chƣa có khái niệm chính thức về đất trồng lúa. Đã có nhiều tài liệu trình bày các quan điểm và khái niệm khác nhau về đất trồng lúa. Vấn đề quy định đất nhƣ thế nào thì đƣợc gọi là đất trồng lúa thì vẫn còn tùy thuộc vào mỗi quốc gia và cách đánh giá để đƣợc gọi là đất trồng lúa. Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa định nghĩa: “Đất trồng lúa là đất có các điều kiện phù hợp để trồng lúa, bao gồm đất chuyên trồng lúa nước và đất trồng lúa khác” [12].
Cũng theo Nghị định số 35/2015/NĐ-CP thì đất trồng lúa đƣợc chia làm hai loại, cụ thể gồm: Đất chuyên trồng lúa nƣớc, là đất trồng đƣợc hai vụ lúa nƣớc trở lên trong năm và đất trồng lúa khác bao gồm đất trồng lúa nƣớc còn lại và đất trồng lúa nƣơng. Vậy, đất trồng lúa có thể đƣợc hiểu là loại đất chuyên dùng để trồng lúa mà không dùng để trồng bất kỳ một loại cây nào khác. Đất trồng lúa là loại đất khá màu mỡ, đƣợc canh tác theo một khu vực nhất định. Khái niệm quản lý, sử dụng đất Khái niệm quản lý: Khái niệm quản lý đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội cũng nhƣ trong các lĩnh vực khoa học.
Tùy theo mỗi cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau để đƣa ra những khái niệm khác nhau về quản lý. Tuy nhiên, chung nhất hiện nay, khái niệm về quản lý vẫn đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận hơn cả đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Quản lý là sự tác động định 8 hướng lên bất kỳ một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định” [54]. Định nghĩa nêu trên không chỉ phù hợp với một hệ thống máy móc hay một cơ thể sống mà nó còn phù hợp với một tập thể, một cơ quan hay một tổ chức nào đó nhất định. Có thể hiểu, quản lý là sự tác động liên tục, có kế hoạch, có mục đích, có định hƣớng lên đối tƣợng quản lý để chỉ huy, điều khiển nhằm liên kết các yếu tố tham gia vào quá trình hoạt động với mục đích tạo thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đƣợc những mục tiêu xác định.
Khái niệm sử dụng: Hiện nay, chƣa có khái niệm cụ thể về sử dụng, tuy nhiên sử dụng đƣợc hiểu là: “Việc dùng vật (tài sản) đó nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định của chủ sở hữu hoặc của người đang trực tiếp chiếm hữu, chi phối tài sản”. Sử dụng có thể đƣợc xem là việc khai thác công dụng của vật (tài sản) nhằm hƣởng hoa lợi, lợi tức từ vật (tài sản) đó. Khái niệm quản lý, sử dụng đất: Quan điểm của Verheye (2010) cho rằng: “Quản lý sử dụng đất tập trung vào đất và cách đất được sử dụng cho mục đích sản xuất, bảo tồn và thẩm mỹ”. Theo Preu and Ferber (2008) và Ferber (2009) “Quản lý sử dụng đất yêu cầu ra quyết định và được xác định bởi mục đích sử dụng nó… và được xác định bởi bản chất và giá trị của đất” [70].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm quản lý, sử dụng đất đƣợc hiểu là quá trình kết hợp tất cả các công cụ và kỹ thuật đƣợc sử dụng để quản lý cách mà đất đƣợc sử dụng và phát triển. Trong đó bao gồm: Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý, sử dụng đất. Khái niệm quản lý, sử dụng đất trồng lúa Quản lý, sử dụng đất trồng lúa có thể hiểu là quá trình Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc vào việc quản lý, sử dụng đất trồng lúa theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đồng thời Nhà nƣớc sử dụng các chính sách và các biện pháp đƣợc luật pháp quy định về quản lý đất đai nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ đảm bảo an ninh 9 lƣơng thực. Khái niệm chính sách công và chính sách quản lý, sử dụng đất trồng lúa 1.
Khái niệm chính sách Theo James Anderson “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” [19]. Theo tác giả Lê Chi Mai “Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình” [40]. Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trên những lĩnh vực cụ thể nào đó và trong một thời gian nhất định.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” [56]. Từ những định nghĩa nêu trên có thể hiểu, chính sách là tập hợp các biện pháp hoặc là chủ trƣơng hoặc là chƣơng trình hành động của một cá nhân hoặc một chủ thể quản lý để giải quyết một vấn đề phát sinh thuộc phạm vi, thẩm quyền của mình nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển chung của toàn hệ thống. Khái niệm chính sách công Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách công, bởi vì, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận và cách hiểu về chính sách công khác nhau. Có thể kể đến một số định nghĩa sau: Theo Thomas Dye định nghĩa: “Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không làm” [35].
Cochran và Eloise F. Malone thì định nghĩa: “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội” [20]. Tác giả Hồ Việt Hạnh, thì cho rằng: “Chính sách công là những quyết định 10 của chủ thể được trao quyền lực công để giải quyết vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [34]. Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu chính sách công đƣợc làm ra bởi Nhà nƣớc, nghĩa là Nhà nƣớc là chủ thể có thẩm quyền quyết định ban hành để giải quyết một hoặc nhiều vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định nhằm định hƣớng cho xã hội phát triển một cách thống nhất theo mong muốn của Nhà nƣớc.
Khái niệm chính sách quản lý, sử dụng đất trồng lúa Từ những khái niệm về chính sách và chính sách công nêu trên, có thể định nghĩa chính sách quản lý, sử dụng đất trồng lúa nhƣ sau: Chính sách quản lý, sử dụng đất trồng lúa là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, quyết định do Nhà nước ban hành và có liên quan với nhau, nhằm lựa chọn các mục tiêu, giải pháp để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vào việc quản lý, sử dụng đất trồng lúa theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như đảm bảo an ninh lương thực. Chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về quản lý, sử dụng đất trồng lúa 1.