CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN NGÀY 1. Tổng quan về các vấn đề cơ bản liên quan đến đề án 1. Đất đai và đánh giá đất đai Trên thế giới, để chỉ về đất người ta dùng hai thuật ngữ có ý nghĩa khác nhau, cùng mô tả về đất đó là đất (soil) và đất đai (land). Đối với các các nước tiên tiến, người ta thường có sự phân biệt rất rõ ràng về hai phạm trù đó.
Còn ở nước ta hai thuật ngữ trên thường phân biệt không rõ ràng và chỉ được gọi chung một cách không đầy đủ là đất. Nói về đất (soil), theo nghĩa Hán Việt là thổ nhưỡng đã được V. Đôcutraev, người đặt nền móng cho khoa học thổ nhưỡng hiện thời định nghĩa như sau: “Đất là một thể tự nhiên có lịch sử riêng biệt và độc lập, có quy luật phát sinh và phát triển rõ ràng, được hình thành do tác động tương hỗ của các nhân tố: đá mẹ, khí hậu, chất hữu cơ (động, thực vật) địa hình và tuổi địa phương”. Như vậy, đất liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và phát triển của lớp vỏ phong hóa.
Theo FAO (1985) đất tồn tại trong tự nhiên một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người và những thuộc tính của đất trong nghiên cứu đánh giá đất đai chung ta có thể đo lường hay ước lượng được.[4] Đất đai (land) được hiểu là một vùng đất mà đặc tính của nó bao gồm những đặc trưng cả về tự nhiên và kinh tế - xã hội, quyết định đến khả năng và mức độ khai thác của vùng đất đó. Đặc tính của đất đai gồm có khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, giới động vật, thực vật và những tác động quá khứ cũng như hiện tại của con người. Theo Brinkman và Smith (1973), đất đai có thể được định nghĩa như sau: “Một vạt đất xác định về mặt địa lý là một phần diện tích của bề mặt trái đất với các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong, bên dưới nó như là : không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, điều kiện thủy 11 văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người”.[25] Như vậy, đất chỉ là một phần, một bộ phận quan trọng của đất đai và một vùng đất mặc dù có tầng dày lớn, có độ phì cao… nhưng yếu tố khí hậu, thủy văn, kinh tế - xã hội không thuận tiện thì không thể được coi là đất đai có giá trị. Để xác định giá trị hay đánh giá tiềm năng đất đai của một khu vực, người ta phải có ít nhất ba nguồn tư liệu thống kê ban đầu đó là: tư liệu về khí hậu, tư liệu về thổ nhưỡng, tư liệu về kinh tế - xã hội.
Đánh giá đất đai là so sánh đánh giá khả năng của đất theo từng khoanh đất dựa vào độ màu mỡ và khả năng sản xuất của đất. Theo Sôbôlev: Đánh giá đất đai là học thuyết về sự đánh giá các tính chất so sánh chất lượng đất của các vùng đất khác nhau mà ở đó thực vật sinh trưởng và phát triển. Đánh giá đất đai là sự phân chia các tính chất chuyên canh về hiệu suất của đất do những dấu hiệu khách quan (khí hậu, thời tiết, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, hệ động vật tự nhiên…) và thuộc tiính của chính đất đai tạo nên. Đánh giá đất đai chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực một vùng có điều kiện tự nhiên (trừ yếu tố đất), điều kiện kinh tế - xã hội như nhau.
Theo FAO (1976): Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất/ khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu. Trong sản xuất nông nghiệp, việc đánh giá đất nông nghiệp đựơc dựa theo các yếu tố đánh giá đất với những mức độ khác nhau. Mức độ khác nhau của các yếu tố đánh giá đất được tính toán dựa trên những cơ sở khách quan, phản ánh các thuộc tính của đất và mối tương quan giữa chúng với năng suất cây trồng trong nhiều năm. Nói cách khác, đánh giá đất đai trong sản xuất nông nghiệp thường dựa vào chất lượng (độ phì tự nhiên và độ phì hữu hiệu) của đất và lượng sản phẩm mà độ phì tạo nên.
12 Ngày nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện ở nhiều quốc gia, trở thành khâu trọng yếu của hoạt động đánh giá tài nguyên phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai. Đơn vị đất đai (Land Units) Trong đánh giá đất, ĐVĐĐ là thuật ngữ dùng để chỉ một vạt đất, một khoanh vi đất trên thực tế mà thông thường được xác định trên bản đồ có ranh giới vao quanh với những đặc tính và tính chất riêng biệt (đồng nhất tương đối về các chỉ tiêu, tính chất và đặc điểm của đất đai như: Loại đất, tầng dày, thành phần cơ giới, độ dốc, hàm lượng mùn, chế độ nước tưới, độ phì…) để tạo nên sự khác biệt với ĐVĐĐ khác nhằm đảm bảo sự thích hợp của chúng với LHSDĐ khác nha. Các ĐVĐĐ khác nhau được phân biệt bởi một hay nhiều yếu tố, tạo nên sự khác nhau về chỉ tiêu trong đánh giá sử dụng đất. Việc xác định ĐVĐĐ, khoanh bao các vùng có chung điều kiện hoặc có tính chất gần giống nhau được càng nhiều càng tốt.
Các ĐVĐĐ có đặc tính tương tự xếp thành từng nhóm gọi là nhóm ĐVĐĐ. Nhóm các ĐVĐĐ và ĐVĐĐ là cơ sở để tiến hành đánh giá, phân hạnh thích hợp đối với từng LHSDĐ [19]. Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Units) Là những khoanh đất/ vạt đất được xác định trên bản đồ với những tính chất riêng biệt như chế độ nhiệt, độ dốc, loại đất, địa hình, chế độ nước, tầng dày… Việc đánh giá đất đai được thực hiên dể dàng nếu đơn vị bản đồ đất đai đựợc xác định sử dụng các tư liệu có một số lựợng lớn về các đặc tính của đất. Trong việc xác định đơn vị bản đồ đất đai khoanh bao các vùng có chung các điều kiện hoặc có tính chất gần giống nhau được càng nhiều càng tốt.
Đơn vị bản đồ đất đai là những vùng có những đặc tính và chất lượng đủ để tạo nên sự khác biệt với đơn vị đất đai khác nhằm đảm bảo sự thích hợp của chúng với các loại hình sử dụng đất khác nhau. Trong thực tế các đơn vị 13 đất đai được xác định trên các bản đồ chồng lên nhau thể hiện các mặt khác nhau (khí hậu, đất, thực vật, địa hình…) và sau đó vẽ ranh giới những cái phản ánh rõ nhất những nội dung quan trọng nhất được xác định trên những bản đồ riêng biệt. Tùy theo tỷ lệ bản đồ mà quyết định chọn nhân tố vạch ranh giới. Loại hình sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT) Những kiểu sử dụng đất đai được phân chia chi tiết từ kiểu sử dụng đất chính.
Loại sử dụng đất đai có liên quan tới mùa vụ, kết hợp mùa vụ hoặc hệ thống cây trồng với các phương pháp quản lý và tưới xác định trong môi trường kỹ thuật và kinh tế xã hội nhất định. Nói cách khác: loại sử dụng đất đai được phân định và mô tả bởi các thuộc tính kỹ thuật và kinh tế - xã hội như: loại cây trồng, kỹ thuật canh tác, loại và khối lượng sản phẩm, lao động, chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được,… Tùy theo mức độ đánh giá đất đai, có thể phân loại sử dụng đất đai theo các cấp như: loại sử dụng đất đai tổng quát, loại sử dụng đất đai,…[20] 1. Hiện trạng sử dụng đất Căn cứ Luật đất đai 2013 giải thích thuật ngữ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất: là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác định, được lập theo từng đơn vị hành chính. Hiện trạng sử dụng đất là kết quả của quá trình sử dụng đất đến thời điểm xác định thể hiện qua phân bố các loại đất được lập theo từng đơn vị hành chính.
Hiện trạng sử dụng đất đai là tiền đề cho định hướng phát và phát triển sử dụng đất đai theo Quy hoạch sử dụng đất. Quan điểm phát triển bền vững - Phát triển: Là một quá trình xã hội đạt đến thoả mãn các nhu cầu mà xã hội ấy coi là cơ bản. Phát triển chỉ sự đạt được những đòi hỏi về chất, trước hết là phúc lợi của con người và với nghĩa rộng hơn, còn bao gồm các đòi hỏi về chính trị. 14 Đối với một quốc gia, quá trình phát triển trong một giai đoạn cụ thể nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định về mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng như sức mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự của quốc gia đó.
Các mục tiêu này thường được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và được thực hiện bằng các hoạt động phát triển. - Phát triển bền vững: Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra vào năm 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”. Và Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững (2002) tổ chức tại Johannesbug đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và môi trường”.[39] - Chiến lược của sự phát triển bền vững: Việc khai thác, sử dụng các nguồn tự nhiên lãnh thổ một cách hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các thế hệ và phát triển lâu bền là nhiệm vụ rất quan trọng và vô cùng bức thiết hiện nay. Con người phải biết sử dụng các dạng tài nguyên trong giới hạn và khả năng mà các tài nguyên đó có được, đồng thời phải xây dựng một xã hội phát triển bền vững dựa trên các cơ sở sau đây: + Bảo vệ sự trong sạch, ổn định của môi trường; nâng cao nhận thức và chất lượng cuộc sống của con người.
+ Bảo tồn đa dạng sinh học trong mọi khía cạnh, mọi mức độ trên cơ sở quản lý và sử dụng hợp lý; duy trì các hệ sinh thái thiết yếu và các hệ hỗ trợ, đảm bảo cho cuộc sống lâu dài của cộng đồng. Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loại người, không có ngành nào có thể thay thế được.