Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái quát về đất nông nghiệp Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành như trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản, lâm nghiệp, thủy sản.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước trong đó có Việt Nam và các nước đang phát triển, bởi vì các nước này đa số người dân sống dựa vào nghề nông. Theo thông cáo báo chí của cục thống kê 6 tháng đầu năm 2016, do các yếu tố bất lợi về thời tiết, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2016 giảm so với cùng kì năm trước chủ yếu do ngành nông nghiệp (chiếm 75% giá trị tăng thêm khu vực I ) giảm 0,78% do sản lượng lúa đông xuân năm nay chỉ đạt 19,4 triệu tấn, giảm 1,3 triệu tấn ( giảm 6,4%) so với vụ đông xuân 2015 nhưng giá trị tăng thêm ngành lâm nghiệp vẫn tăng 5,75%, ngành thủy sản tăng 1,25%. Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới, có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, miền.
Những đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó là sức ép sử dụng đất của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá. Do vậy, cần phải sử dụng đất tiết kiệm thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Việc sử dụng đất phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý, phù hợp với từng vùng lãnh thổ để đem lại hiệu quả cao nhất. Ở Việt Nam, đất đai được phân loại theo mục đích sử dụng.
Theo Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Điều 9 chỉ tiểu thống kê, kiểm kê đất đai về loại đất)[3], nhóm đất nông nghiệp bao gồm: 5 Đất sản xuất nông Nghiệp gồm đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây hàng năm.Trong đất trồng cây hàng năm gồm các loại: đất trồng lúa (đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại và đất trồng lúa nương); đất trồng cây hàng năm khác (gồm đất trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác) Xét cho cùng, đất chỉ có giá trị thông qua quá trình sử dụng của con người. Giá trị đó tuỳ thuộc vào sự đầu tư trí tuệ và các yếu tố đầu vào khác trong sản xuất. Hiệu quả của việc đầu tư này sẽ phụ thuộc rất lớn vào những lợi thế của quỹ đất đai hiện có và các điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể. Nhận thức đúng đắn được vấn đề này sẽ giúp người sử dụng đất có các định hướng sử dụng tốt hơn đối với đất nông nghiệp, khai thác có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sinh thái.
Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Điều 6 Luật Đất đai 2013 quy định các nguyên tắc sử dụng đất như sau: - Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất. - Tiết kiệm có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh - Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi nhu cầu của con người đối với đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp, hướng tới xuất khẩu và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là việc làm hết sức cần thiết.
Để thực hiện được mục tiêu này thì đất nông nghiệp cần được sử dụng theo những nguyên tắc cơ bản (Hà Thị Thanh Bình, 2000)[1] đó là: - Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cây trồng vật nuôi phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất, đồng thời gìn giữ, bảo vệ và nâng cao độ phì của đất. 6 - Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau như năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu.
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường vì vậy các phương thức sử dụng đất phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài. Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng.
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu. Trong Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam [theo QĐ số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 về phê duyệt chiến lược phát triển bền vững Việt Nam năm 2011-2020], chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất là lĩnh vực sử dụng tài nguyên được ưu tiên hàng đầu để phát triển bền vững. Theo quan điểm và nguyên tắc của FAO, sử dụng đất bền vững áp dụng vào điều kiện ở Việt Nam phải thể hiện trên cả ba mặt: - Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận. - Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên. 7 Để đạt được những mục tiêu đó, chúng ta phải có chiến lược sử dụng đất (Lê Thái Bạt, 2007)[28]: - Sử dụng đất trên cơ sở quy hoạch bảo đảm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của người sử dụng đất và cộng đồng. Khi phân bố sử dụng đất cho các ngành kinh tế quốc dân cần sử dụng bản đồ, tài liệu đất và đánh giá phân hạng đất đai mới xây dựng, nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo sử dụng lâu dài. - Ưu tiên sử dụng đất tốt cho nông nghiệp, dành đất xấu (có khả năng sản xuất thấp) cho các mục đích phi nông nghiệp.
Điều hòa giữa áp lực tăng dân số và tăng trưởng về kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất bền vững. - Quản lý hệ thống nông nghiệp nhằm đảm bảo có sản phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất. Bảo đảm phát triển tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương mại, chất đốt, xây dựng và dân dụng mà không làm mất nguồn nước và thoái hóa đất. - Áp dụng quy trình và công nghệ canh tác thích hợp theo từng vùng, tiểu vùng, đơn vị sinh thái và hệ thống cây trồng.
Quản lý lưu vực để bảo vệ đất và nước, phát triển thủy lợi, giữ vững cân bằng sinh thái nhằm duy trì sự tác động hỗ trợ lẫn nhau giữa đồng bằng và vùng đồi núi. - Trong canh tác nông nghiệp, cần quan tâm thâm canh ngay từ đầu, thâm canh liên tục và theo chiều sâu. Thực hiện chiến lược phát triển đa dạng, khai thác tổng hợp đa mục tiêu: nông - lâm kết hợp, chăn nuôi dưới rừng, nông - lâm và chăn nuôi kết hợp, nông - lâm - ngư kết hợp, nông lâm ngư mục kết hợp, nông ngư kết hợp. Phát triển các cây lâu năm có giá trị kinh tế, thương mại cao và góp phần bảo vệ đất trên vùng đất dốc như chè, cà phê, cao su, cây ăn quả.
- Phát triển ngành công nghiệp phân bón và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón thông qua việc phối hợp tốt giữa phân bón hữu cơ, vô cơ, phân sinh học, vi lượng, trên cơ sở kết quả nghiên cứu phân tích đất, đặc điểm đất đai và nhu cầu dinh dưỡng của cây. - Hoàn thiện hê thống pháp luật, chính sách quản lý và bảo tồn tài nguyên đất. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, giao đất, giao rừng, cho dân vay vốn phát triển sản xuất, thâm canh nhằm xóa đói, giảm nghèo và bảo đảm an toàn lương thực. 8 - Phát động quần chúng làm công tác bảo vệ đất.
Đẩy mạnh hợp tác giữa các tổ chức trong nước, khu vực và quốc tế trong việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án và kế hoạch hành động bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững. Vấn đề hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới.