Chương 1: Tổng quan về đất nghĩa trang và nghĩa địa và pháp luật về khai thác và sử dụng đất nghĩa trang và nghĩa địa Chương 2: Thực trạng pháp luật về khai thác khai thác và sử dụng đất nghĩa trang và nghĩa địa và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về khai thác và sử dụng đất nghĩa trang và nghĩa địa và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc khai thác và sử dụng đất nghĩa trang và nghĩa địa. TONG QUAN VE DAT NGHĨA TRANG VÀ NGHĨA DIA VA PHAP LUAT VE KHAI THAC VA SU DUNG DAT NGHIA TRANG VA NGHIA DIA 1. Những van đề chung về đất nghĩa trang và nghĩa dia 1. Khái niệm về đất nghĩa trang và nghĩa địa Theo đó khái niệm về nghĩa trang và nghĩa địa là hai khái niệm tưởng như đồng nhất tuy nhiên nó là hai khái niệm khác nhau.
Tuy cả hai được xem là nơi đề thực hiện chôn cất và mai táng những người đã khuất và phục vụ cho mục dich tâm linh của một cộng đồng xã hội, tuy nhiên nó vẫn có những cách hiểu khác nhau. Theo quan niệm của phương tây, thì khái niệm nghĩa trang được hiểu là nơi mà thi thể người chết hoặc di hài sau hỏa táng được chôn cất. Ở phương tây, nghĩa trang là nơi mà các hoạt động tưởng nhớ người đã khuất được tiến hành. Các nghi lễ này được thực hiện tùy theo phong tục tập quán hay tôn giáo.
Cùng mục đích với nghĩa trang là nơi dé dùng cho mục đích chôn cất xác người hoặc di hài sau khi hỏa táng là nghĩa địa. Theo quan niệm của người phương tây mà cụ thê là những người theo đạo công giáo thì nghĩa địa là vùng đất gắn với nhà thờ phục vụ cho mục đích tôn giáo. Theo quan niệm của người phương đông thì khái niệm nghĩa trang được xuất phat từ Trung Quốc. Trong tiếng Việt, nghia trang là từ mượn gốc Hán $Š #£, vốn di để gọi các tô chức từ thiện do người dân duy trì để giúp đỡ người nghèo.
Nghĩa trang đầu tiên là do Phạm Trọng Yêm thành lập vào thời Bắc Tống với tên gọi Pham Thị Nghĩa Trang GERSE - "nhà làm việc nghĩa của họ Phạm"). Nghĩa trang đóng vai trò chăm sóc trẻ em và người già, tổ chức hiếu, hỉ, cứu trợ lương thực và thiên tai, giúp đỡ nho sinh có hoàn cảnh khó khăn,. Các tổ chức nghĩa trang trở nên phô biến ở vùng Giang Nam vào thời nhà Minh và Thanh, đặc biệt là ở Đài Loan và Hồng Kông. Trong thời loạn lạc, nhiều người dân đi tản cư mong muốn được đưa về chôn cất ở quê nhà nhưng không kịp sẽ được các nghĩa trang hỗ trợ nơi đặt tạm thời quan tài, và những người chết vô thừa nhận cũng được các nghĩa trang an táng tạm thời về sau từ nghĩa trang được hiéu 1a địa điểm chôn cất người đã mat, có người hoặc tổ chức đứng ra quản lý.
Từ nghĩa địa cũng có nguồn gốc tương tự, bắt nguồn từ tiếng Hán #š#h, vốn dé chỉ khoảnh đất được dùng làm nơi chôn cất những người nghèo khổ, gia đình không có nơi riêng dé an táng [20]. Tại Việt Nam thì phần lớn đại đa số người dân đều đánh đồng hai khái niệm nghĩa trang và nghĩa địa là một là vùng đất dùng đề chôn cắt thi thê hoặc hài cốt sau khi hỏa táng và phục vụ các vấn đề tâm linh của một cộng đồng xã hội nhất định mà không nhận ra được điểm khác biệt giữa hai khái niệm trên. Theo đó nghĩa trang là khu đất được dùng cho mục đích chôn cắt thi thể hoặc hài cốt sau khi hỏa táng của những người đã khuất có quy hoạch rõ ràng, được pháp luật quy định và quản lý chặt chẽ, còn nghĩa địa cũng là khu đất dùng dé chôn cat thi thé hoặc hài cốt sau khi hỏa táng của những người đã khuất tuy nhiên không được quy hoạch rõ ràng, manh mún và mang tính tự phát, chủ yếu xuất hiện tại các làng quê. Khái niệm nghĩa trang được đề cập và điều chỉnh tại khoản 1, điều 2 Nghị định số 23 /2016/NĐ-CP ngày 5/6/20016 của Chính phủ về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng (gọi tắt là Nghị định 23 /2016/NĐ-CP) được hiểu như sau “Nghia trang là nơi táng người chết tập trung theo các hình thức tang khác nhau va được quản lý, xây dựng theo quy hoạch ”.
Ngoài ra nghị định trên còn quy định về các khái niệm khác liên quan đến nghĩa trang và nghĩa địa như sau; - Phần mộ cá nhân là nơi táng thi hài, hài cốt của người chết. - Các hình thức táng người chết bao gồm: Mai táng, hỏa táng và các hình thức táng khác. - Táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết. 10 - Mai táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết ở một địa điểm dưới mặt đất.
- Chôn cất một lần là hình thức mai táng thi hài vĩnh viễn. - Hung táng là hình thức mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định sau đó sẽ được cải táng. - Cải táng là việc chuyên xương cốt từ mộ hung táng sang hình thức táng khác. - Cát táng là hình thức mai táng hài cốt sau khi cải táng hoặc lưu tro cốt sau khi hỏa táng.
- Hỏa táng (bao gồm cả điện táng) là thực hiện việc thiêu thi hài hoặc hài cốt ở nhiệt độ cao. Nhìn chung tuy khái niệm nghĩa trang và nghĩa địa có những cách hiểu khác nhau và điểm khác biệt nhau, tuy nhiên nó đều là khu đất dùng dé chôn cất thi thể hoặc hài cốt của những người sau khi đã khuất và phục vụ các mục đích tâm linh của một cộng đồng dân cư nhất định. Căn cứ theo phương thức quản lý, quy mô, đối tượng và phương pháp táng, nghĩa trang được phân loại như sau; Thứ nhất, căn cứ theo đối tượng tạng gồm có ba loại; (1) nghĩa trang nhân dân (ii) nghĩa trang liệt sĩ (iii) nghĩa trang dành cho người nước ngoài. Thứ hai, căn cứ theo phân cấp quản lý gồm có; nghĩa trang cấp quốc gia, nghĩa trang cấp tỉnh, nghĩa trang cấp huyện, nghĩa trang cấp xã.
Thứ ba, căn cứ theo mô hình quản lý, tổ chức gồm có; nghĩa trang do nhà nước quản lý và nghĩa trang do doanh nghiệp quản lý. Thứ tư, căn cứ theo phương thức táng gồm có; nghĩa trang hung táng, nghĩa trang hỏa táng, nghĩa trang cát táng. Vai trò của dat nghĩa trang và nghĩa địa Đất nghĩa trang và nghĩa địa thuộc loại đất phi nông nghiệp trong tong thể các loại đất ở Việt Nam. Ngoài các vai trò chung như các loại đất khác thì đất 11 nghĩa trang và nghĩa địa còn có các vai trò phục vụ nhu cầu táng và văn hóa tâm linh của người dân.
Theo đó nhu cầu táng của người dân ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là một nhu cầu rất cấp thiết. Ngoài ra ở Việt Nam thì đất nghĩa trang và nghĩa địa còn phục vụ cho đời sống tâm linh của người dân. Tại các khu nghĩa trang và nghĩa địa dùng dé táng người thân sau khi đã khuất thì nó còn là nơi để người dân thực hiện phong tục thờ cúng, tâm linh và tưởng nhớ đến người thân sau khi đã khuất. Đây là một vai trò đặc biệt và riêng có đối với loại đất nghĩa trang và nghĩa địa.
Vấn đề khai thác và sử dụng đất nghĩa trang và nghĩa địa Theo quy định của Hiến pháp 2013, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật, và ngoài ra theo quy định về nguyên tac sử dung đất theo LĐĐ 2013 thì nguyên tắc sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả là một nguyên tắc quan trọng trong việc sử dụng đất nói chung. Từ đó có thé thay đất đai là một nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia và tài nguyên thì luôn có hạn nên vấn đề khai thác và sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả là vấn đề vô cùng quan trọng. Vấn đề xem đất đai là một nguồn tài nguyên đặc biệt và sử dụng dat đai tiết kiệm và hiệu qua đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và cụ thé hóa tại Hiến pháp. luật, và các văn bản hướng dẫn liên quan khác.
Theo đó đất nghĩa trang và nghĩa địa cũng là một loại đất cấu thành nên tổng thể tài nguyên đất được quy định cụ thé trong LĐĐ 2013 là một loại đất thuộc nhóm dat phi nông nghiệp. Vì vậy van đề khai thác và sử dụng đất nghĩa trang và nghĩa địa ngoài tuân thủ các nguyên tắc và yêu cầu của việc sử dụng đất nói chung thì nó còn có một số van đề đặc thù trong việc khai thác và sử dụng như sau: Thứ nhất: Về vấn dé, tâm linh, tôn giáo và tính xã hội Đây là van đề mang tính đặc thù cao nhất và riêng có ở đất nghĩa trang và nghĩa địa. Theo đó đất nghĩa trang và nghĩa địa là vùng đất dùng dé chôn cất các thi thê hoặc hài cốt của người đã khuất. Xuất phát từ tập tục và tín ngưỡng 12 phương đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng thì vùng đất này mang tính đặc thù, đặc thù trong khai thác và sử dụng vì ngoài các mục đích kinh tế như các loại đất khác thì khu đất này này ngoài ra còn phục vụ vấn đề tâm linh và tôn giáo.
Vậy nên việc quản lý, khai thác và sử dụng nó sẽ mang tính đặc thù hơn các loại đất khác là về mặt đời sông xã hội mà cụ thể là vấn đề tâm linh. Ngoài ra đối với những khu đất dành cho một số tôn giáo như thiên chúa giáo thì vấn đề quản lý, khai thác và sử dụng nó còn mang tính đặc thù hơn. Cụ thể van đề thu hồi, giải tỏa các khu đất nghĩa trang và nghĩa địa nói chung dé phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội ngoài các vấn đề khó khăn như đối với các loại đất khác thì vấn đề thu hồi, giải tỏa với đất nghĩa trang và nghĩa địa còn khó khăn hơn vì nó mang tính tâm linh, tính ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội rất lớn, đặc biệt là đối với các nghĩa trang công giáo thì đây là vấn đề rất khó khăn và mang tính nhạy cảm về mặt tôn giáo.