Chương 1: Cơ sở lý luận về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo pháp luật đất đai. 12 Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay và những kiến nghị hoàn thiện. 13 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HỒI ĐẤT CỦA DOANH NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI 1. Cơ sở lý luận về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 1.
Khái niệm và đặc điểm của người sử dụng đất là doanh nghiệp 1. Khái niệm người sử dụng đất là doanh nghiệp Người SDĐ là một thuật ngữ pháp lý không xa lạ, xuất hiện thường xuyên trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về đất đai. Việc lựa chọn sử dụng thuật ngữ “người sử dụng đất” trong pháp luật Việt Nam, chính là hệ quả của nguyên tắc “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” được quy định tại Điều 4, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Đây là nguyên tắc chủ đạo, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách thực thi chế độ sở hữu đất đai toàn dân tại Việt nam, đồng thời mang ý nghĩa quyết định việc quản lý đất đai của Nhà nước và sử dụng đất đai của các chủ thể.
Theo nguyên tắc nêu trên, chỉ có Nhà nước được đại diện chủ sở hữu, thay mặt chủ sở hữu thực hiện các quyền sở hữu về đất đai, còn các chủ thể khác chỉ có quyền SDĐ. Chủ thể có quyền SDĐ được gọi là người SDĐ, người SDĐ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền SDĐ để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn. Mặc dù, chỉ nắm giữ quyền SDĐ, nhưng người SDĐ vẫn có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền SDĐ thông qua các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền SDĐ và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tuỳ từng loại đất và nguồn gốc SDĐ theo quy định của pháp luật. Như vậy, muốn trở thành người SDĐ, “xét về hình thức, phải có một hoặc nhiều thửa đất thuộc quyền sử dụng đất của mình, xét về nội dung, chủ thể đó phải có những quyền và nghĩa vụ của một chủ thể SDĐ trong mối quan hệ trực tiếp với Nhà nước theo quy định của pháp luật.”1 1 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Đất đai (Tái bản lần thứ nhất), NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 53.
14 Khái niệm về người SDĐ đã được một số nghiên cứu khoa học về pháp lý đề cập tới, với các quan điểm cơ bản. Quan điểm thứ nhất, “Người sử dụng đất là tổ chức (tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội), hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng.”2 Quan điểm thứ hai, “Người sử dụng đất là người được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, là người trực tiếp thực hiện ý đồ sử dụng đất của Nhà nước nhằm khai thác các thuộc tính có ích của đất phục vụ cho việc phát triển kinh tế. Người sử dụng đất có thể là tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân.”3 Các khái niệm trên mặc dù có cách biểu đạt khác nhau, nhưng chung quy, các khái niệm này đều thống nhất với nhau về cơ sở để xác định một chủ thể là người SDĐ, dựa vào việc Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, hay công nhận quyền SDĐ, cho phép nhận chuyển quyền SDĐ, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của chủ thể SDĐ trong mối quan hệ với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 không đưa ra khái niệm cụ thể về người SDĐ mà thông qua hình thức liệt kê các chủ thể được xem là người SDĐ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền SDĐ, nhận chuyển quyền SDĐ.
Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 đã phân loại các chủ thể SDĐ bao gồm 07 nhóm đối tượng sau: “Tổ chức trong nước; Hộ gia đình, cá nhân trong nước; Cộng đồng dân cư; Cơ sở tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.”4 Dựa vào các quan điểm về người SDĐ và quy định của Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 về người SDĐ, có thể đưa ra khái niệm về người SDĐ như sau: “Người sử dụng đất là Tổ chức trong nước; Hộ gia đình, cá nhân trong nước; Cộng đồng dân cư; Cơ sở tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho 2 Nguyễn Duy Lãm (1996), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, NXB. Giáo dục, Hà Nội, tr 253. 3 Nguyễn Ngọc Diệp (1999), 1.200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr135.
4 Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. 15 thuê đất hoặc công nhận quyền người sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền người sử dụng đất.” Doanh nghiệp là một trong các chủ thể SDĐ, được chia thành hai nhóm đối tượng SDĐ là “tổ chức trong nước” và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được xác định là một trong các chủ thể SDĐ thông qua quy định khá rõ ràng tại Khoản 7, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Theo đó, chủ thể SDĐ là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm: “Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.”5 Việc pháp luật Việt Nam ghi nhận đối tượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là người SDĐ mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
Trái ngược với đó, doanh nghiệp trong nước không được liệt kê cụ thể như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mà phải thông qua chủ thể “tổ chức trong nước” và chủ thể “tổ chức kinh tế”. Căn cứ Khoản 1, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, tổ chức trong nước bao gồm: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự.”6 Trong đó, tổ chức kinh tế bao gồm “doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.”7 Như vậy, thông qua quy định pháp luật về hai chủ thể nêu trên, có thể khẳng định rằng, doanh nghiệp trong nước là người SDĐ theo quy định tại Khoản 1, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Với mục đích sử dụng đất đai phục vụ cho hoạt động kinh doanh, sản xuất, thương mại, dịch vụ để thu lợi nhuận, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận doanh nghiệp là một chủ thể SDĐ quan trọng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không thống nhất một loại chủ thể SDĐ là doanh nghiệp mà chia ra thành hai loại hình, đó là doanh nghiệp 5 Khoản 7, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018.
6 Khoản 1, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. 7 Khoản 27, Điều 3, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. 16 có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Việc phân chia người SDĐ là doanh nghiệp thành hai loại như trên, cho thấy việc tiếp cận quyền SDĐ giữa các loại hình doanh nghiệp là khác nhau.
Tương tự như khái niệm người SDĐ, khái niệm người SDĐ là doanh nghiệp được xây dựng thông qua các tiêu chí về căn cứ pháp lý làm phát sinh quyền SDĐ của chủ thể là doanh nghiệp. Tác giả xin đưa ra khái niệm về người SDĐ là doanh nghiệp như sau: Người sử dụng đất là doanh nghiệp là các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước trao quyền sử dụng đất thông qua các hình thức như Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, hay cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định trong thời hạn sử dụng đất. Đặc điểm người sử dụng đất là doanh nghiệp Người SDĐ là doanh nghiệp được chia thành hai thành phần cơ bản, đó chính là doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phạm vi về hình thức SDĐ của mỗi thành phần là khác nhau. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ bị pháp luật hạn chế về hình thức SDĐ so với các doanh nghiệp trong nước, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước phát triển.
Do đó, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có những đặc điểm khác nhau cơ bản về quyền và nghĩa vụ trong quá trình SDĐ. Bên cạnh những quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn được Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của mình. - Đối với doanh nghiệp trong nước bao gồm các quyền và nghĩa vụ sau: + Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. + Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước SDĐ thuê trả tiền hàng năm.
+ Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước nhận chuyển nhượng quyền SDĐ, chuyển mục đích quyền SDĐ. 17 + Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước nhận góp vốn bằng quyền SDĐ; quyền SDĐ của doanh nghiệp trong nước khi giải thể, phá sản. + Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước được thuê đất để xây dựng công trình ngầm.