phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu 13 Ở chƣơng này, tác giả đƣa ra các khái niệm công cụ, một số quan điểm tiếp cận nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống tộc ngƣời M’Nông. Nhìn chung về điều kiện tự nhiên, đặc trƣng về đời sống kinh tế, sinh hoạt văn hoá tinh thần là cơ sở để chúng ta tìm hiểu về giá trị văn hóa truyền truyền thống của tộc ngƣời M’Nông nhằm hiểu rõ hơn về tộc ngƣời này. Chƣơng 2: Thực trạng việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của tộc ngƣời M’Nông ở xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông Ở chƣơng 2, tác giả đề cập đến thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của tộc ngƣời M’Nông ở xã Đăk Nia, đồng thời phân tích các yếu tố văn hóa vốn có và sự thay đổi của các yếu tố đó.
Đánh giá việc nhận thức của tộc ngƣời M’Nông về vấn đề này ra sao, việc thực hiện công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tộc ngƣời. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của tộc ngƣời M’Nông ở xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Ở đây, tác giả đƣa ra những quan điểm định hƣớng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc ngƣời. Đồng thời, dự báo xu hƣớng thay đổi các giá trị văn hóa truyền thống của tộc ngƣời M’Nông.
Từ đó đƣa ra một số giải pháp, khuyến nghị tăng cƣờng quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống đó. 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm thao tác - Văn hóa và văn hóa truyền thống Từ văn hóa có nội hàm ý nghĩa hết sức phong phú và phức tạp. Kể từ khi văn hóa trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, định nghĩa về văn hóa ngày càng trở nên phong phú đa dạng.
Theo UNESCO (1982): Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng [56]. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [24, tr. Còn theo Phan Ngọc: “Văn hóa là mối quan hệ. Nó là quan hệ giữa thế giới biểu tƣợng và thế giới thực tại. Mối quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc ngƣời, một cá nhân so với một tộc ngƣời khác, một cá nhân khác” [54, tr.
Có thể thấy văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, có sức ảnh hƣởng trong mọi hoạt động của đời sống con ngƣời. Mỗi góc tiếp cận khác nhau sẽ cho cách nhìn nhận và đƣa ra khái niệm khác nhau. Nhƣng chúng ta có thể hiểu: “Văn hóa là sự 15 tổng hòa của các giá trị vật chất và tinh thần đƣợc con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình lao động và sản xuất, gắn liền với tiến trình lịch sử loài ngƣời”. Văn hóa truyền thống là các giá trị do lịch sử để lại đƣợc thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa các dân tộc.
Khi đã đƣợc hình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hƣớng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng. Tuy nhiên, văn hóa không phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể. Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại. Truyền thống cũng không phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từ bên ngoài đƣợc tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc.
- Giá trị và giá trị văn hóa Nhƣ chúng ta đều biết, khái niệm giá trị (Value) là khái niệm không đại diện một lĩnh vực riêng mà nó đại diện cho nhiều bộ lĩnh vực khác nhau nhƣ: toán học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hóa học… nó mang nhiều hàm nghĩa khác nhau nên giá trị có thể hiểu theo những nghĩa nhƣ sau: Giá trị là những niềm tin bền vững và lâu dài về những điều đƣợc coi là quan trọng trong các tình huống khác nhau, niềm tin này định hƣớng các quyết định và hành động của chúng ta [46, tr. Có thể hiểu, giá trị thể hiện sự nhận thức khác nhau về những điều tốt hay xấu, đúng hay sai ở một xã hội nhất định. Bản thân giá trị không chỉ đại diện cho những điều ta muốn mà còn là những điều ta phải làm để đáp ứng ở một xã hội mong muốn. Cho nên nó sẽ ảnh hƣởng đến việc lựa chọn mục tiêu cụ thể và sử dụng các phƣơng tiện phù hợp để đạt đƣợc mục tiêu đó.
Ví dụ: ở Việt Nam, những giá trị của đất nƣớc đƣợc đề cao là dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Các mục tiêu đƣợc sắp xếp theo những giá trị theo thứ tự ƣu tiên. Sự sắp xếp này tạo ra hệ thống giá trị. Ví dụ hệ thống giá trị của chúng ta là: sự dân chủ, đƣợc tôn trọng, trung thực, đƣợc đối xử công bằng, hài lòng.
Tất cả đều hƣớng con ngƣời đến một xã hội văn minh. 16 Nhƣ nói ở trên, giá trị là một khái niệm rộng cho nên khó có một khái niệm nào diễn tả trọn vẹn nội hàm của thuật ngữ giá trị. Trong Từ điển tiếng Việt của Ban biên soạn chuyên Từ điển New Eva xuất bản năm 2005 cho rằng “1- Giá ƣớc lƣợng của một đồ vật hay của một món hàng, tùy theo lợi ích hay khan hiếm: vàng có giá trị hơn bạc; 2- Phẩm cách của con ngƣời. Tƣ cách tốt hay xấu của con ngƣời.
Các giá trị tinh thần hay các giá trị đạo đức còn cần thiết cho con ngƣời hơn là cuộc sống vật chất” [2, tr. Theo tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1999 thì giá trị là “1- Cái đƣợc xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần: quyển sách này rất có giá trị; 2- Xác định hiệu lực của một việc làm: giấy giới thiệu này có giá trị trong 3 ngày” [59, tr. Giá trị văn hoá (Cultural Value): Trong mỗi xã hội nhất định, trải qua quá trình lịch sử thì con ngƣời luôn sáng tạo, hình thành các hệ giá trị. Nó đƣợc sản sinh từ các mối quan hệ con ngƣời với tự nhiên, với xã hội.
Một khi hệ giá trị văn hoá hình thành thì nó có vai trò định hƣớng cho các mục tiêu, phƣơng thức và hành động của con ngƣời trong xã hội ấy. Có thể nói khi bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hƣớng, chi phối, điều tiết của hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con ngƣời. Giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng (tộc ngƣời, quốc gia.) bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, tồn tại trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau. Chúng ta nói hệ giá trị (Value System) hay bảng giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng thì thƣờng hàm hai ý nghĩa : 1) Các giá trị riêng lẻ liên kết nhau tạo nên một hệ thống các giá trị, 2) Có sự sắp đặt trƣớc sau, độ nhấn về tầm quan trọng của từng nhân tố giá trị trong một bảng giá trị.
Thí dụ, với ngƣời Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nƣớc là nhân tố hàng đầu trong bảng (hệ) giá trị dân tộc, nhƣng với ngƣời Nhật Bản hay một số dân tộc khác thì có thể chủ nghĩa yêu nƣớc lại đƣợc xếp ở các vị trí khác.Thƣờng thì nhiều dân tộc đều có điểm chung những giá trị nhƣ yêu nƣớc, cần cù, tính cộng đồng., tuy nhiên, trong từng hệ giá trị của mỗi dân tộc thì việc xếp đặt thứ tự ƣu tiên, độ nhấn của từng yếu tố giá trị ấy trong bảng giá trị thì có thể khác nhau. Đối với mỗi dân tộc trong những hoàn cảnh lịch sử và xã hội cụ thể đều tồn tại hệ giá trị tổng quát và những hệ giá trị bộ phận. Hệ giá trị tổng quát bao gồm 17 những giá trị chung nhất, mang tính phổ quát, có vai trò định hƣớng đối với tƣ duy và hành động của cả cộng đồng. Thí dụ, GS.
Trần Văn Giàu đã nêu 7 giá trị mang tính tổng quát nhất của dân tộc Việt Nam, đó là : yêu nƣớc, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thƣơng ngƣời, vì nghĩa. Nghị quyết TW 5 nêu những đức tính nổi bật của bản sắc Việt Nam, cũng có thể hiểu đó là các giá trị của con ngƣời Việt Nam: “Lòng yêu nƣớc nồng nàn, ý chí tự cƣờng dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. Những thập niên vừa qua ngƣời ta còn nêu hệ giá trị chung của Châu Á: Hiếu học, cộng đồng, cần cù, huyết thống. Bên cạnh những giá trị tổng quát nhƣ vậy, trong từng lĩnh vực của đời sống, hoạt động của con ngƣời thì ngƣời ta lại đúc kết nên các giá trị, có vai trò định hƣớng trong từng lĩnh vực riêng lẻ ấy.