Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bảo tồn và phát triển văn hóa ẩm thực của người Tày tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng" được thực hiện bởi sinh viên Đinh Thị Khánh Đoan dưới sự hướng dẫn của TS. Đặng Thị Hồng Hạnh, thuộc ngành Văn hóa Du lịch, Khoa Quản lý Xã hội, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (khóa học 2018 - 2022).

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 thành phần tộc người, trong đó ẩm thực là một thành tố văn hóa đặc trưng phản ánh tập quán sinh hoạt, tri thức bản địa và môi trường tự nhiên của từng vùng miền. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập và phát triển du lịch, văn hóa ẩm thực truyền thống của người Tày tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng chịu sự giao thoa, tiếp biến với văn hóa ẩm thực miền xuôi và phương Tây, dẫn đến nguy cơ mai một các giá trị cổ truyền. Việc nghiên cứu bảo tồn, gìn giữ tri thức ẩm thực truyền thống gắn với định hướng khai thác thành sản phẩm du lịch đặc thù tại địa phương là yêu cầu thực tiễn cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo tồn, phát triển văn hóa ẩm thực và tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tộc người Tày tại huyện Trùng Khánh.
  2. Khảo sát, nhận diện các món ăn, món uống tiêu biểu, phân tích các giá trị văn hóa, kinh tế, giáo dục, bản sắc tộc người và y học dân gian trong ẩm thực truyền thống của người Tày.
  3. Đánh giá thực trạng bảo tồn, nhận diện ảnh hưởng từ hoạt động phát triển du lịch và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển văn hóa ẩm thực người Tày gắn liền với định hướng phát triển du lịch tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa ẩm thực của người Tày tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi không gian: Huyện Trùng Khánh hiện có 21 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 19 xã và 2 thị trấn). Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tập trung khảo sát thực địa chuyên sâu tại 3 xã có mật độ đồng bào dân tộc Tày cư trú tập trung là: Xã Ngọc Côn, Xã Ngọc Khê và Xã Đình Phong.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu, khảo sát thực địa được thu thập và hoàn thiện trong giai đoạn đào tạo 2018 - 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Nghiên cứu sử dụng hệ thống các khái niệm và cơ sở lý luận văn hóa học, dân tộc học và du lịch:

  • Ẩm thực: Giải nghĩa theo gốc Hán - Việt ("ẩm" là uống, "thực" là ăn) và đối chiếu với Từ điển tiếng Việt (2002) của nhóm tác giả Hùng Thắng, Thanh Hương, Bàng Cẩm, Minh Nhựt; xem xét ẩm thực dưới hai bình diện văn hóa vật chất (các món ăn, đồ uống cụ thể) và văn hóa tinh thần (nghệ thuật chế biến, ứng xử, quy tắc giao tiếp, biểu tượng tâm linh).
  • Văn hóa và Văn hóa ẩm thực: Dẫn dụng quan điểm của GS. Trần Ngọc Thêm ("Ăn uống là văn hóa, chính xác hơn là văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên của con người"), quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa và luận điểm của GS. Trần Quốc Vượng ("Cách ăn uống là cách sống, là bản sắc văn hóa").
  • Bảo tồn và phát triển: Tiếp cận theo nghĩa giữ gìn, bảo lưu các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể không để bị mai một, biến dạng; phát triển theo quy luật vận động nâng cao chất lượng và tạo dựng giá trị mới trong đời sống đương đại.
  • Quan niệm ngôn ngữ tộc người Tày: Trong tiếng Tày, từ "kiin" được dùng chung để chỉ các hoạt động tiêu dùng thực phẩm qua đường miệng (ăn, uống, hút), không phân tách thành các động từ riêng biệt như tiếng phổ thông.
STT Thuật ngữ tiếng Việt Thuật ngữ tiếng Tày Diễn giải nghĩa
1 Ăn cơm Kiin khẩu Nạp lương thực chính
2 Ăn quả Kiin mac Ăn trái cây
3 Ăn trầu Kiin nhá Tập quán nhai trầu
4 Uống nước Kiin nẳm Tiêu thụ nước sinh hoạt/nước uống
5 Uống rượu Kiin lẩu Dùng thức uống có cồn
6 Hút thuốc lá Kiin din Hút thuốc

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Thu thập, phân tích và tổng hợp các nguồn tư liệu lịch sử, báo cáo địa chí, tài liệu dân tộc học và các công trình nghiên cứu đã công bố về văn hóa, phong tục và ẩm thực của người Tày tại tỉnh Cao Bằng.
  • Phương pháp điền dã thực địa: Đây là phương pháp chủ đạo của khóa luận. Tác giả trực tiếp thực địa tại 3 xã Ngọc Côn, Ngọc Khê và Đình Phong; sử dụng kết hợp các kỹ thuật: quan sát trực tiếp, tham gia trải nghiệm chế biến, phỏng vấn sâu các nghệ nhân/người cao tuổi am hiểu ẩm thực bản địa, chụp ảnh tư liệu và ghi chép thực tế.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu điều tra nhân khẩu học (Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, số liệu thống kê huyện Trùng Khánh năm 2019), tư liệu thực tế về quy trình chế biến món ăn và tri thức cây thuốc dân gian thu thập tại hiện trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển văn hóa ẩm thực và tổng quan về người Tày ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

Chương 1 thiết lập khung lý luận và phác thảo bức tranh tổng quan về điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên và địa lý: Huyện Trùng Khánh có diện tích tự nhiên 688,01 km², dân số năm 2019 là 70.424 người (mật độ 102 người/km²), độ cao trung bình 600 - 800 m so với mực nước biển, có đỉnh núi Giang Mũ cao trên 873 m. Địa bàn có đường biên giới giáp Trung Quốc dài 63,15 km qua 8 xã biên giới và cửa khẩu Pò Peo. Hệ thống thủy văn gồm hai dòng sông chính là sông Quây Sơn (dài 76 km, có thác Bản Giốc cao hơn 50 m) và sông Bắc Vọng (dài 77 km, lưu lượng bình quân 25 m³/s), cung cấp nguồn thủy sản đặc trưng như cá trầm hương (vực Lũng Đính), cá trầm xanh, cá chép, cá lăng. Tổng diện tích đất nông nghiệp đạt 38.798,40 ha, diện tích đất lâm nghiệp đạt 29.325,04 ha (chiếm 62,56% diện tích toàn huyện), nổi tiếng với đặc sản hạt dẻ Trùng Khánh.
  • Dân cư và hoạt động kinh tế: Người Tày là tộc người chiếm đa số tại huyện Trùng Khánh (khoảng 60% dân số toàn huyện, chiếm 30% tổng số người Tày của tỉnh Cao Bằng). Hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng lúa nước (canh tác 2 vụ/năm: đông xuân và vụ mùa), làm nương rẫy xen canh ngô, khoai, trồng mía, thanh long, chăn nuôi gia súc gia cầm (lợn đen, trâu, bò, vịt) và nghề thủ công (đan lát, dệt thổ cẩm, nhuộm chàm).
  • Mạng lưới chợ phiên: Hệ thống giao thương truyền thống của huyện Trùng Khánh gồm 6 chợ phiên họp luân phiên theo chu kỳ 6 ngày/lần (tính theo âm lịch):
STT Tên chợ phiên Chu kỳ ngày họp chợ (Âm lịch)
1 Chợ Trung tâm huyện Ngày mùng 5, 10, 15, 20, 25
2 Chợ Pò Tấu Ngày mùng 1, 6, 11, 16, 21, 26
3 Chợ Pò Peo Ngày mùng 4, 9, 14, 19, 24, 29
4 Chợ Bản Rạ Ngày mùng 4, 9, 14, 19, 24, 29
5 Chợ Đình Phong Ngày mùng 3, 8, 13, 18, 23, 28
6 Chợ Thông Huề Ngày mùng 2, 7, 12, 17, 22, 27
  • Đặc trưng văn hóa Tày: Nhà ở gồm nhà sàn truyền thống, nhà đất 3 gian 2 mái hoặc nhà phòng thủ biên giới; trang phục nhuộm chàm giản dị đặc trưng (được định danh là "cần slửa khao" do mặc áo lót trắng bên trong); tỷ lệ sử dụng tiếng Tày trong giao tiếp đời thường đạt khoảng 80%; bảo lưu chữ Nôm Tày trong sách cúng Then của các thầy Tào; hệ thống nghi lễ nông nghiệp và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (Tết đắp nọi, Tết Thanh minh 3/3, Tết Khoăn vài 6/6 cúng vía trâu, Rằm tháng 7, Tết Cơm mới).

Chương 2: Ẩm thực truyền thống và thực trạng bảo tồn, phát huy văn hóa ẩm thực của người Tày tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

Chương này miêu tả chi tiết hệ thống món ăn, món uống truyền thống và phân tích 4 nhóm giá trị cốt lõi của ẩm thực người Tày:

  • Hệ thống món ăn tiêu biểu:
    • Khau nhục (nằm khau): Món thịt ba chỉ lợn đen tẩm ướp húng quế, ngũ vị hương, tỏi, ớt, rượu, dấm, xì dầu, xếp cùng môn ngọt và lá mác mật, hấp cách thủy từ 3 đến 4 tiếng tạo hình ngọn đồi nhỏ.
    • Cá suối: Đánh bắt trên sông Quây Sơn, chế biến thành cá nướng kẹp que tre chấm chẩm chéo (gừng, sả, mắc khén, rau thơm), cá chiên giòn, cá nấu măng chua, cá đồ bi chuối rừng hoặc sấy khô gác bếp.
    • Xôi ngũ sắc: Sử dụng nguyên liệu tự nhiên để tạo 5 màu sắc biểu trưng (màu vàng từ nghệ tươi, màu xanh lam từ cây cơm đen trộn tro vừng/rơm nếp, màu đỏ từ ruột gấc chín, màu tím từ lá cẩm, màu trắng tự nhiên của nếp nương), đồ chín bằng chõ gỗ cao thành.
    • Vịt quay 7 vị: Sử dụng 7 loại gia vị tẩm ướp đặc trưng (gừng, tỏi, hành khô, hạt tiêu, mật ong, đậu hũ, quả/lá mắc mật), khâu bụng bằng lạt tre, thổi phồng nhúng nước sôi rồi quét lớp mật ong pha dấm trước khi quay.
    • Lạp sườn và các món lạp dự trữ: Lạp sườn nhồi thịt lợn đen ướp rượu vào lòng non, phơi 3 nắng rồi hun khói bã mía trên gác bếp; mảy lạp (măng khô), mác bay lạp (trám đen nhồi muối phơi se), nựa lạp/nựa dzảng xá (thịt hun khói ướp giềng, mác mật, rượu trắng).
    • Thịt thính và các món hém: Thịt thính trộn bột nếp rang hoặc đỗ tương rang; hém nựa (thịt lợn ướp xào chín ủ với cơm rượu nếp nhiều men theo tỷ lệ 1:1, bảo quản được 3 - 4 tháng); hém pja (cá suối ướp gừng, muối, rượu trắng ủ với rượu nếp từ 15 đến 30 ngày, ăn được cả xương).
    • Các loại bánh truyền thống (Pẻng): Bánh chưng Tày (bánh vuông và bánh dài pẻng toóc gói lá chít), bánh chưng đường (nhân đường thắng nấu đỗ xanh và gừng núi khinh phja), bánh lưng gù (pẻng lăng goòng dâng cúng thần sấm), bánh coóc mò (hình sừng bò gói gạo nếp nguyên chất), bánh gio (pẻng tầu ngâm nước tro cây tầm gửi, cây sấu, cây lai), bánh gai (pẻng tải đôi có lá nhả héo), bánh khảo (pẻng cao), bánh chè lam (pẻng khinh), bánh cuốn (pẻng cuốn), khẩu sli, thúc théc.
  • Hệ thống thức uống truyền thống:
    • Rượu ngô men lá: Sử dụng ngô bản địa nấu chín, ủ bằng bánh men tổng hợp từ hơn 10 loại cây rừng và sườn núi đá (bắt buộc phải có cây nét tỳ, kết hợp riềng, ớt dại, bioóc óc cốc...), thời gian ủ từ 1 đến 1,5 tháng rồi chưng cất thủ công.
    • Rượu mía: Bắt nguồn từ các bản Lũng Rắc, Lũng Khay; nước mía ép đun sôi trộn men củ giã nhỏ, ủ thùng từ 15 đến 20 ngày trước khi nấu, tạo hương vị ngọt thanh.
  • Bốn nhóm giá trị văn hóa ẩm thực:
    1. Giá trị phản ánh kinh tế: Chuyển dịch rõ nét từ kinh tế tự cung tự cấp, phụ thuộc săn bắt hái lượm (trước năm 1986) sang kinh tế hàng hóa đa dạng giống cây trồng, vật nuôi và giao lưu ẩm thực miền xuôi (sau năm 1986).
    2. Giá trị giáo dục: Thể hiện tri thức khai thác bền vững tự nhiên (hái rau rừng luôn để lại ngọn non cho mùa sau); chuẩn mực ứng xử thân tình ("Kiin lẩu thư tha, kiin trà thư nả"); kính trọng người già (nhường miếng thịt ức mềm, miếng gan) và chăm sóc trẻ nhỏ (dành miếng đùi gà, đùi vịt).
    3. Giá trị bản sắc tộc người và lịch sử: Thể hiện sự khác biệt phong tục giữa người Tày và người Nùng tại địa phương qua chu kỳ lễ tết ("Bươn chiêng so ất, bươn chất slíp hả" - người Tày coi trọng mùng 1 Tết và rằm 15 tháng 7; người Nùng coi trọng mùng 2 Tết và ngày 14 tháng 7; dịp Thanh minh người Tày làm bánh trứng kiến pẻng rày, người Nùng làm bánh dày).
    4. Giá trị dinh dưỡng và chữa bệnh: Tri thức sử dụng thực phẩm bồi bổ cho trẻ nhỏ, người già (cháo ấu tẩu), phụ nữ sau sinh (tam thất hầm gà, chân giò ninh đỗ tương, cây kìm cà nấu gà) và bài thuốc dân gian từ thảo dược.
STT Tên nguyên liệu/thảo dược Cách chế biến trong ẩm thực/dân gian Tác dụng điều trị/chữa bệnh
1 Vỏ cây mạy sau già Đun nước uống Chữa đau bụng
2 Củ cây bảy lá một hoa Giã nhỏ, ngâm rượu uống Thuốc bổ, dễ ngủ, chữa rắn cắn, đau bụng
3 Ngọn cây mảy rọt hoặc ngọn ổi Nhai và nuốt trực tiếp 2-3 ngọn Chữa tiêu chảy
4 Rễ khau cùm, mác mủi, nhả póp, lá mơ rừng Đun nước tươi hoặc phơi khô ngâm rượu Chữa đau nhức cơ thể (thóc khun)
5 Rễ cây lá lốt Nhai rồi nuốt sống Giải rượu
6 Cây nhọ nồi Giã nát, vắt lấy nước cốt uống Giảm sốt
7 Cây gừng nước Ngâm rượu xoa bóp/uống Chữa đau nhức xương khớp
8 Gio bếp thật nóng ở đáy bếp lửa Hòa vào bát nước sôi để nguội, gạn lấy nước trong Chữa sốt, nôn mửa
9 Lá ngải cứu già Giã nát, chắt nước uống Giảm sốt
10 Cây tầm gửi trên cây mác miầu Đun nước uống Chữa cao huyết áp
11 Cây giảo cổ lam Phơi khô đun nước hoặc nấu canh Thanh nhiệt, hạ huyết áp
12 Rễ cây co pán Đun nước uống Thuốc an thai
13 Sâm rừng, sâm đất Ninh với xương lợn, chân giò hoặc thịt gà Chữa bệnh tiêu hóa, bồi bổ cơ thể
14 Rễ cây co han lình Đun nước uống hoặc ninh với xương, thịt Chữa bệnh cam ở trẻ em, kích thích tiêu hóa
15 Rễ cây nhả cà, rễ mác hủ cà, nhả xáp pất, rễ mảy mỏn Đun nước uống Chữa táo bón

Chương 3: Bảo tồn và phát triển văn hóa ẩm thực của người Tày tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng gắn với ảnh hưởng của sự phát triển du lịch – Giải pháp phát triển

Chương 3 tập trung vào định hướng quy hoạch và các nhóm giải pháp gắn kết ẩm thực với hoạt động du lịch:

  • Định hướng quy hoạch: Khai thác các danh thắng tự nhiên như thác Bản Giốc, cảnh quan thung lũng sông Quây Sơn kết hợp văn hóa bản địa để phát triển mô hình du lịch cộng đồng (homestay nhà sàn, trải nghiệm văn hóa Tày).
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    • Phát triển nguồn nguyên liệu sạch: Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, bảo tồn giống lúa nếp nương, ngô bản địa, duy trì đàn lợn đen, cá suối tự nhiên nhằm cung cấp nguyên liệu ẩm thực ổn định, an toàn.
    • Nâng cao kỹ thuật chế biến: Chuẩn hóa quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm, giữ vững công thức gia vị bí truyền (quả mác mật, men lá nét tỳ) nhưng cải tiến quy cách trình bày phù hợp thị hiếu du khách.
    • Thiết kế không gian thưởng thức ẩm thực: Xây dựng không gian ăn uống gắn liền với kiến trúc nhà sàn truyền thống, tái hiện phong tục mời rượu, kể chuyện văn hóa và giao lưu hát Then, đàn tính trong bữa ăn du lịch.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ nghiên cứu

  1. Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở dữ liệu thực địa về văn hóa ẩm thực người Tày tại Trùng Khánh với danh mục hơn 15 món ăn truyền thống, 2 loại đồ uống lên men đặc thù và 15 bài thuốc dân gian trị bệnh kết hợp qua đường ăn uống.
  2. Xác lập mối liên hệ giữa điều kiện địa lý - sinh thái (địa hình thung lũng đá vôi, hệ thống sông Quây Sơn - Bắc Vọng, diện tích rừng chiếm 62,56%) với tập quán ăn uống tận dụng tự nhiên và phương thức bảo quản thực phẩm lâu dài (lạp sườn hun khói, thịt thính, hém thịt, hém cá).
  3. Làm rõ sự chuyển biến kinh tế - xã hội của địa phương qua hai mốc thời gian: trước năm 1986 (kinh tế tự cung tự cấp, trao đổi hàng đổi hàng) và sau năm 1986 (kinh tế thị trường, giao lưu hàng hóa qua hệ thống 6 chợ phiên định kỳ).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm đặc sản phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường sinh thái rừng và sông suối.
  • Khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống (nấu rượu men lá, làm bánh pẻng tầu, pẻng coóc mò, dệt thổ cẩm trang trí bàn ăn).
  • Đưa văn hóa ẩm thực trở thành một sản phẩm du lịch độc lập trong tour du lịch văn hóa trải nghiệm cộng đồng tại các xã trọng điểm như Đàm Thủy, Ngọc Côn, Đình Phong.

Đóng góp của đề tài

Tác giả tự xác định khóa luận đóng góp nguồn tư liệu điền dã thực tế có hệ thống về ẩm thực Tày tại Trùng Khánh; đề xuất định hướng ứng dụng ẩm thực như một dạng tài nguyên du lịch để thiết kế tour tuyến trải nghiệm thực tế cho ngành du lịch địa phương.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực của khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân, phạm vi khảo sát thực địa sâu chỉ tập trung tại 3 xã (Ngọc Côn, Ngọc Khê, Đình Phong) trên tổng số 21 đơn vị hành chính cấp xã của toàn huyện Trùng Khánh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn khảo sát đến toàn bộ 19 xã và 2 thị trấn; nghiên cứu sâu hơn về tác động qua lại giữa phát triển du lịch thương mại hóa với nguy cơ biến đổi khẩu vị truyền thống; xây dựng mô hình thử nghiệm tour du lịch trải nghiệm ẩm thực Tày gắn với di tích danh thắng thác Bản Giốc.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Sinh viên, học viên: Ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành, Việt Nam học, Dân tộc học và Văn hóa học khi tìm kiếm tư liệu về tri thức dân gian, văn hóa ẩm thực vùng Đông Bắc.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa bản địa: Tham khảo danh mục các món ăn truyền thống, quy trình điều chế rượu men lá và bảng tổng hợp 15 bài thuốc dân gian từ thảo dược tự nhiên của người Tày.
  • Doanh nghiệp lữ hành và cơ quan quản lý du lịch: Sử dụng dữ liệu thực địa để xây dựng thực đơn đặc sản, thiết kế sản phẩm du lịch cộng đồng và định hướng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "kiin" trong tiếng Tày phản ánh quan niệm ẩm thực như thế nào?

Trong tiếng Tày, người ta không phân chia rạch ròi các hành vi nạp thực phẩm thành ăn, uống, hút riêng biệt mà dùng từ "kiin" làm định từ chung cho tất cả các hoạt động này (như kiin khẩu - ăn cơm, kiin mac - ăn quả, kiin nhá - ăn trầu, kiin nẳm - uống nước, kiin lẩu - uống rượu, kiin din - hút thuốc lá). Điều này phản ánh quan niệm gắn liền hành vi ẩm thực với nhu cầu sinh tồn cơ bản và phương thức giao tiếp đời sống hàng ngày của tộc người.

2. Món khau nhục của người Tày tại Trùng Khánh có nguồn gốc và quy cách chế biến như thế nào?

Khau nhục có nguồn gốc từ món ăn của người Quảng Đông và người Khách Gia (Trung Quốc), du nhập vào cộng đồng Tày - Nùng qua quá trình giao lưu biên giới. Món ăn sử dụng thịt ba chỉ lợn tẩm ướp ngũ vị hương, húng quế, xì dầu, rượu, dấm, rán vàng rồi xếp xen kẽ với khoai môn (cây môn ngọt) và lá mác mật, sau đó hấp cách thủy nhỏ lửa từ 3 đến 4 tiếng và trình bày úp ngược thành hình ngọn đồi nhỏ trên đĩa.

3. Nguyên liệu then chốt nào quyết định chất lượng của men lá nấu rượu ngô Trùng Khánh?

Bánh men lá của người Tày Trùng Khánh được tổng hợp từ nước sắc của hơn 10 loại lá và rễ cây rừng (như riềng, ớt dại, bioóc óc cốc...) nhào trộn với bột gạo tẻ. Trong đó, cây nét tỳ là nguyên liệu thảo dược quan trọng nhất, bắt buộc phải có trong công thức để tạo nên men say êm, vị ngọt hậu và đặc tính không gây đau đầu của rượu ngô bản địa.

4. Tập quán ẩm thực trong các dịp lễ tết của người Tày khác biệt với người Nùng ở Trùng Khánh ở những điểm nào?

Sự khác biệt thể hiện qua 3 điểm chính:

  • Tết Nguyên đán: Người Tày coi trọng bữa cơm ngày mùng 1, trong khi người Nùng coi trọng bữa trưa ngày mùng 2.
  • Tết Thanh minh (3/3 âm lịch): Người Tày làm bánh trứng kiến (pẻng rày) hoặc dùng trứng luộc dâng cúng, còn người Nùng làm bánh dày tượng trưng cho đá sửa nhà.
  • Tết Rằm tháng 7: Người Tày ăn vào đúng ngày 15, còn người Nùng ăn vào ngày 14 (được đúc kết qua câu tục ngữ: "Bươn chiêng so ất, bươn chất slíp hả").

5. Chu kỳ họp chợ phiên tại huyện Trùng Khánh diễn ra theo nguyên tắc nào?

Toàn huyện có 6 chợ phiên luân phiên họp 6 ngày một lần theo lịch âm: Chợ Trung tâm huyện họp các ngày có đuôi 5 và 0 (5, 10, 15, 20, 25); Chợ Pò Tấu họp ngày đuôi 1 và 6 (1, 6, 11, 16, 21, 26); Chợ Pò Peo và Bản Rạ họp ngày đuôi 4 và 9 (4, 9, 14, 19, 24, 29); Chợ Đình Phong họp ngày đuôi 3 và 8 (3, 8, 13, 18, 23, 28); Chợ Thông Huề họp ngày đuôi 2 và 7 (2, 7, 12, 17, 22, 27).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thị Khánh Đoan đã phản ánh toàn diện bức tranh văn hóa ẩm thực truyền thống của người Tày tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng thông qua nguồn dữ liệu điền dã thực địa công phu. Công trình làm rõ các giá trị vật chất, tinh thần, bản sắc tộc người và tri thức y dược dân gian ẩn chứa trong từng món ăn, thức uống bản địa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn hữu ích, hỗ trợ định hướng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gắn với chiến lược phát triển du lịch bền vững tại địa phương.