Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm 1. Dân chủ và thực hiện dân chủ cơ sở a) Khái niệm dân chủ Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về phạm trù “Dân chủ” xét theo đối tượng, phương pháp và mục đích khác nhau của nhiều bộ môn khoa học. Quan điểm về dân chủ có hai cách tiếp cận: Một là: Dân chủ là một hiện tượng lịch sử – xã hội, xuất hiện và phát triển với tư cách là sản phẩm trực tiếp của đời sống chính trị, của sự vận động chính trị trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào trong xã hội.
Hai là: Dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản phẩm của sự vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế- xã hội; mà dân chủ còn là thành tựu của sự phát triển văn hoá nhân loại, với tính cách là thước đo về trình độ giải phóng con người, xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử. Trong mối quan hệ này dân chủ là một động lực, một tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội. b) Khái niệm dân chủ cơ sở Cơ sở là thành tố, là đơn vị nhỏ nhất trong cấu trúc của một hệ thống các sự vật hiện tượng. Khái niệm cơ sở được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, cơ sở là đơn vị xã hội nhỏ nhất mà Nhân dân tổ chức nên, đó là gia đình, buôn, làng, xóm, ấp, thôn, bản, cấp nhỏ nhất của một hệ thống cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Theo nghĩa hẹp, cơ sở là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền Nhà nước, các pháp nhân công quyền, các pháp nhân kinh tế. Luận văn tiếp cận khái niệm cơ sở theo nghĩa này. Theo điều 110 - Hiến pháp 2013, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được chia thành 4 cấp: Trung ương, cấp Tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
Như vậy, cơ sở trong khái niệm trên được hiểu là: xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Xuất phát từ vị trí, vai trò của cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất nên Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân trước hết từ cấp cơ sở. Như vậy, dân chủ cơ sở là biểu hiện cụ thể của thiết chế dân chủ, là sự đảm bảo Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Nhà nước tại địa bàn xã, phường, thị trấn bằng những hình thức nhất định, phù hợp với các nguyên tắc, quy định của pháp luật. Dân chủ cơ sở không phải là hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện dân chủ thông qua hai hình thức: 6 Thứ nhất, Dân chủ trực tiếp là hình thức qua đó Nhân dân bằng hành vi của mình trực tiếp thực hiện quyền dân chủ Nhà nước và xã hội.
Đó là thực hiện quyền được thông tin, bàn bạc và quyết định, trực tiếp giám sát. Thứ hai, Dân chủ đại diện là hình thức mà qua đó Nhân dân thực hiện sự “ủy quyền”, giao quyền lực của mình cho người, tổ chức mà Nhân dân trực tiếp bầu ra. Những người và tổ chức ấy đại diện cho Nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Có thể khái quát khái niệm “thực hiện dân chủ cơ sở” như sau: Thực hiện dân chủ cơ sở là việc thừa nhận và thực hiện thường xuyên các quyền làm chủ của công dân; tăng cường tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân ở cấp cơ sở.
Khái niệm dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số Theo Từ điển Tiếng Việt, DTTS là dân tộc gồm có một số ít người, sống trong hình thức bộ lạc tuy có lối ăn mặc riêng, một ngôn ngữ riêng nhưng thường thì gần giống như dân của nước mà dân tộc đó đang ở. Còn dân tộc đa số là dân tộc chiếm số đông nhất, so với các dân tộc chiếm số ít, trong một nước có nhiều dân tộc. Dưới góc độ khoa học pháp lý, DTTS là khái niệm thuộc phạm trù “người thiểu số” - là những nhóm người dễ bị tổn thương, được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện pháp lý quốc tế và trong nghiên cứu: Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: (a) Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (b) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c) Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (d) Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e) Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ. Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Khổng Diễn, vùng dân tộc là tỉnh, huyện, xã có trên 50% người DTTS sinh sống tập trung lại thành vùng; vùng DTTS, miền núi có thể hiểu theo nghĩa là nơi cư trú, sinh sống của các dân tộc ở vùng đồng bằng, miền núi.
Như vậy, theo quan niệm của ông, vùng dân tộc cần có tiêu chí trên 50% DTTS sinh sống, nhưng vùng DTTS lại không cần đưa ra những tiêu chí cụ thể. Theo Tiến sỹ Nguyễn Lâm Thành: vùng DTTS là một vùng địa bàn liên xã, huyện hoặc liên tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống thành khu vực cộng đồng, hình thành các đặc điểm KT-XH và văn hóa rõ nét. Như vậy, có những cấp độ khác nhau về qui định như: qui mô liên xã là vùng dân tộc xét trên phạm vi cấp huyện, qui mô liên huyện là vùng dân tộc xét trên phạm vi cấp tỉnh, qui mô liên tỉnh là vùng dân tộc xét trên phạm vi quốc gia. Có những đơn vị hành chính địa phương có đồng bào DTTS sinh sống nhưng với số lượng ít, không hình thành cộng đồng hoặc cộng đồng quá nhỏ thì được xem là “vùng có dân tộc thiểu số” hoặc “vùng xen kẽ dân tộc thiểu số.
Khái niệm vùng DTTS theo từng ngữ cảnh mà xác định nó ở quy mô khác nhau có thể liên xã, liên huyện, liên tỉnh dựa trên các tiêu chí xác định. Từ những quan niệm trên có 7 thể rút ra định nghĩa: Vùng dân tộc, miền núi là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc ở địa bàn miền núi. Vùng dân tộc thiểu số được quy định tại Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc: “Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam”. Tuy nhiên, bao nhiêu là đông, cộng đồng là thôn, xã, huyện hay tỉnh chưa được xác định rõ ràng.
Trong khi đó các tiêu chí để xác định vùng dân tộc thiểu số và miền núi không có chỉ tiêu về số lượng (tỷ lệ) hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Do đó, trong danh sách 5.266 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay có 476 xã không có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và 1.126 xã có rất ít đồng bào dân tộc thiểu số. Như vậy: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn các xã, thôn có tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số từ 15% số hộ trở lên; 1. Thực hiện chính sách pháp luật dân chủ ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số a ) Pháp luật về dân chủ cơ sở Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
b)Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ ở cơ sở Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách tương phản để hỗ trợ việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan.
Pháp luật được định nghĩa là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước được ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở chủ yếu là tập trung thực hiện những nội dung quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34/2007/PL- UBTVQH11) được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 04 năm 2007. c) Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở vùng dân tộc thiểu số Thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở vùng dân tộc thiểu số là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh. Thực hiện chính sách pháp luật dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số 1.
Quan điểm thực hiện chính sách pháp luật về dân chủ cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số 1. Đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở cho đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật. Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc. Tính đến 0h ngày 01/4/2019 là 96.