MỞ ĐẦU. Lý do lựa chọn đề tài. Nhiệm vụ nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ HẠI Ở THANH THIẾU NIÊN. Tổng quan một số nghiên cứu về hành vi tự hại ở thanh thiếu niên. Lý luận về hành vi tự hại ở thanh thiếu niên. Các khái niệm cơ bản.
Các lý thuyết tâm lý học giải thích hành vi tự hại. Hành vi tự hại ở thanh thiếu niên. Hành vi tự hại và các rối loạn liên quan. Tiêu chuẩn chẩn đoán tự hại.
Các phương pháp đánh giá và can thiệp tâm lý cho hành vi tự hại. Các phương pháp đánh giá. Phương pháp can thiệp. ĐÁNH GIÁ VÀ CAN THIỆP MỘT TRƯỜNG HỢP THIẾU NIÊN CÓ HÀNH VI TỰ HẠI.
Thông tin chung về TC. Các vấn đề đạo đức. Đạo đức trong tiếp nhận ca lâm sàng. Đạo đức trong việc sử dụng các công cụ đánh giá và thực hiện quy trình đánh giá.
Đạo đức trong can thiệp trị liệu. Đánh giá, chẩn đoán. Mô tả ca. Kết quả đánh giá.
Lập kế hoạch can thiệp. Xác định mục tiêu đầu ra (thứ tự ưu tiên mục tiêu quan trọng nhất). Xác định các mục tiêu quá trình (xác định số lượng các phiên trị liệu). Thực hiện can thiệp (trình bày theo buổi).
Phiên trị liệu thứ nhất. Phiên trị liệu thứ hai. Phiên trị liệu thứ ba. Phiên trị liệu thứ tư.
Phiên trị liệu thứ năm. Phiên trị liệu thứ sáu. Phiên trị liệu thứ bảy. Phiên trị liệu thứ tám.
Phiên trị liệu thứ chín. Đánh giá hiệu quả can thiệp. Kết thúc ca và kế hoạch theo dõi sau can thiệp. Tự đánh giá về chất lượng can thiệp .83 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .84 TÀI LIỆU THAM KHẢO .96 2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TC Thân chủ HV Học viên NSSI Tự hại không tự sát (Nonsuicidal Self-Injury – NSSI) TTN Thanh thiếu niên CBT Trị liệu Nhận thức – hành vi (Cognitive behavioral therapy) BPD Rối loạn nhân cách ranh giới (Borderline Personality Disorder) DSM – 5 Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê về các Rối loạn Tâm thần, Phiên bản 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition) 3 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.
Khả năng đáp ứng với Tự hại không tự sát. Mục tiêu đầu ra. Các mục tiêu đầu ra và mục tiêu quá trình. Lý do lựa chọn đề tài Thanh thiếu niên (TTN) dường như là nhóm đối tượng cần được gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt quan tâm chú ý vì những đặc điểm tâm lý thiếu ổn định và tính dễ bị tổn thương trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, áp lực từ việc học tập ngày càng tăng cao.
Kết quả các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của TTN thời gian gần đây đã cung cấp thêm những bằng chứng thuyết phục cho nhận định này. Một khảo sát của Bộ giáo dục Anh báo cáo tỷ lệ 37% nữ sinh và 15% nam sinh lớp 10 (14–15 tuổi) bị đau khổ về tâm lý (psychologically distressed) (Department for Education, 2016; dẫn theo Harding et al, 2018). Một nghiên cứu về phúc lợi tại Canada năm 2012 cho biết, trong số 4.381 trẻ em từ 10 – 15 tuổi thì có 25 % các em có vấn đề về lo âu, trầm cảm (dẫn theo Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2013). Ở Việt Nam, kết quả “Điều tra tỷ lệ trẻ em và vị thành niên miền Bắc có vấn đề sức khỏe tâm thần” báo cáo con số này là 18% (Nguyễn Cao Minh, 2012).
Trong số những vấn đề sức khỏe tâm thần của TTN, hành vi tự hại là một trong những vấn đề nổi bật hơn cả vì mức độ nguy cơ cao và mối quan hệ mật thiết của nó với hành vi tự sát. Nock và cộng sự trong nghiên cứu thực hiện năm 2008 (Nock et al., 2008) đưa ra kết luận rằng các hành vi tự hại không tự sát (NSSI) thường bắt đầu ở tuổi vị thành niên. Nhiều tác giả khác như Hawton (Hawton et al., 2012), Glenn (Glenn et al., 2009) cũng đồng tình với quan điểm này, xác định tuổi vị thành niên là giai đoạn có nguy cơ có NSSI: bắt đầu xuất hiện nhiều nhất ở tuổi dậy thì, ở độ tuổi từ 13 đến 15 và suy giảm ở tuổi trưởng thành (Muehlenkamp, 2007). NSSI phổ biến trong quần thể TTN và thanh niên trong cộng đồng, với khoảng 13% (Swannell et al., 2014) và 16-18% TTN (Muehlenkamp, 2012) báo cáo đã ít nhất một lần tự hại trong đời.
Ở Việt Nam, số lượng nghiên cứu về chủ đề này còn rất hạn chế, chỉ có 3 nghiên cứu được báo cáo với mức độ phổ biến của NSSI là khoảng 27% trong nghiên cứu của Huynh (2017) cho tới 43.9% (Thai et al., 2021) trên mẫu TTN. Những con số không nhỏ này dóng lên hồi chuông cảnh báo rằng chúng ta không thể bỏ qua mức độ nguy hiểm của nó với nhóm đối tượng vị thành niên và TTN Việt Nam. 5 Song song với tỷ lệ thực hiện NSSI cao trong các nghiên cứu thực trạng, các tác giả trên thế giới cũng đã hướng sự chú ý tới lĩnh vực điều trị cho hành vi này (Hanni, 2021; Gonzales, 2013; Muehlenkamp, 2006). Kết quả của cuộc tìm kiếm tài liệu bằng cách sử dụng các thuật ngữ “tự gây thương tích” hoặc “tự làm hại bản thân” kết hợp với các thuật ngữ “điều trị” hoặc “liệu pháp” trong cơ sở dữ liệu PsychINFO®, PubMed và ClinicTrials.gov chỉ ra rằng mặc dù tài liệu ngày càng quan tâm đến NSSI nhưng rất ít phương pháp điều trị tâm lý trị liệu đã được thiết kế và đánh giá cụ thể cho NSSI (Nixon, 2008; dẫn theo Washburn, 2012) đặc biệt là NSSI ở thanh thiếu niên (Washburn, 2012).
Những người thực hiện NSSI xuất hiện ở mọi giới tính, độ tuổi, dân tộc và nó cũng có thể xuất hiện kèm theo ở nhiều chẩn đoán khác, do đó nhà lâm sàng điều trị NSSI phải làm việc với các cá nhân khác nhau về mặt nhân khẩu học, lâm sàng và hình thức NSSI (Andover, 2012). Điều này dẫn tới việc không có đủ hỗ trợ thực chứng rõ ràng nào cho thấy bất kỳ phương pháp trị liệu nào là ưu việt hơn các phương pháp trị liệu khác được sử dụng trong điều trị NSSI. Chính vì không có sự đồng thuận về một phương pháp điều trị NSSI có hiệu quả trên thế giới, những nhà thực hành trị liệu báo cáo rằng họ thiếu hiểu biết và tự tin trong trị liệu hành vi này và hơn một nửa cho biết rằng những cá nhân thực hiện NSSI khó trị liệu hơn các thân chủ khác (Whitlock et al. Hơn nữa, các chuyên gia thường gặp phải những phản ứng tiêu cực đối với NSSI và những khách hàng thực hiện hành vi đó, bao gồm sự thất vọng, chán nản, lo lắng và những phán xét tiêu cực (ví dụ Zila & Kiselica, 2001).
Những phản ứng này có thể có tác động tiêu cực đến khách hàng và chất lượng điều trị. Nếu số lượng các nghiên cứu về điều trị NSSI trên thế giới là khá khiêm tốn so với các nghiên cứu lý thuyết, dịch tễ học về hiện tượng này thì ở Việt Nam, thực trạng tương tự cũng đang diễn ra. Các nghiên cứu chuyên biệt về tiếp cận trị liệu được hỗ trợ thực chứng, hướng dẫn trị liệu NSSI không được tìm thấy trên hệ thống dữ liệu, một vài nghiên cứu trường hợp về trị liệu tự hại ở thanh thiếu niên chỉ xuất hiện trên hệ thông thư viện số của các trường đại học dưới dạng luận văn (tìm kiếm nhanh bằng google, google scholar với từ khóa “trị liệu tự hại không tự sát ở Việt Nam”). Mặc dù sự quan tâm tới NSSI của TTN Việt Nam ngày càng tăng cao, có một thực tế rằng chỉ một số ít nghiên cứu như vậy là không đủ để chúng ta có một 6 cái nhìn toàn diện về hiện tượng này.
Thêm vào đó, hệ thống dữ liệu hiện có về các nghiên cứu trên NSSI cũng ghi nhận sự thiếu sót về các nghiên cứu trường hợp, trình bày ca lâm sàng và quá trình trị liệu cho người có NSSI. Xuất phát từ những thực trạng trên cùng với trải nghiệm trong quá trình thực hành nghề, tôi quyết định thực hiện nghiên cứu trường hợp “Can thiệp tâm lý cho một thiếu niên có hành vi tự hại” với mong muốn làm giàu thêm cơ sở lý luận và thực tiễn lâm sàng cho các thân chủ (TC) có tự hại không tự sát (NSSI). Nhiệm vụ nghiên cứu Về lý luận: - Nghiên cứu tổng quan có hệ thống các tài liệu về hành vi tự hại nói chung và thực trạng hành vi tự hại ở TTN. - Điểm luận các nghiên cứu về hiệu quả của các liệu pháp tâm lý đối với TC có hành vi tự hại.
Về thực tiễn: - Đánh giá, can thiệp cho một trường hợp có hành vi tự hại. - Đưa ra những kết luận và khuyến nghị liên quan tới ca lâm sàng, góp phần mở rộng nguồn dữ liệu về thực hành trị liệu tâm lý cho TC có hành vi tự hại. Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu về hành vi tự hại, các đặc điểm và cơ chế của hành vi tự hại ở TC lứa tuổi TTN, các tiếp cận trị liệu hành vi tự hại để xây dựng cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu trường hợp. - Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng: Sử dụng đa dạng các câu hỏi để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề của TC, xác định vấn đề TC đang gặp phải….
- Phương pháp quan sát lâm sàng: Quan sát các biểu hiện bên ngoài của TC để kết hợp với các phương pháp hỏi chuyện, trắc nghiệm nhằm có nhận định ban đầu về vấn đề của TC. - Phương pháp trắc nghiệm/thang đo: Nghiên cứu sử dụng các thang sàng lọc và lâm sàng để xác định rối loạn nền của TC. - Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Trị liệu hành vi tự hại ở 1 TC giới tính nữ, 18 tuổi. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ HẠI Ở THANH THIẾU NIÊN 1.
Tổng quan một số nghiên cứu về hành vi tự hại ở thanh thiếu niên Song song với sự phổ biến của hành vi tự hại, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà thực hành lâm sàng và xã hội đến tự hại đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây.