Chương 1. Những vấn đề chung Trong chương này, chúng tôi sẽ bàn tới thuật ngữ hàm ngôn và và các thuật ngữ hữu quan như hiển ngôn, tiền giả định, suy ý; phân loại ý nghĩa hàm ngôn; các cơ chế tạo hàm ngôn cơ bản trong tiếng Việt; các yếu tố tâm lý, văn hóa với việc tạo hàm ngôn. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề cập đến một số đặc điểm của truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Một số cơ chế tạo hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Ở chương này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát 42 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và thu thập các ngữ liệu có chứa hàm ngôn rồi sau đó miêu tả và phân loại.
Chức năng và tác dụng của hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Từ các cơ chế hàm ngôn ở chương 2, chúng tôi đi vào tìm hiểu những chức năng và tác dụng của việc sử dụng hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Cuối cùng là đưa ra một vài nhận xét về cách thể hiện hàm ngôn của tác giả. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan Vấn đề hàm ngôn là một vấn đề rất quan trọng của dụng học và nó thường được đặt ra khi bàn về nghĩa của câu, của diễn ngôn.
Nghĩa hiển ngôn hay còn gọi là nghĩa tường minh là phần nghĩa được diễn đạt bằng câu chữ ít được nhắc đến, còn nghĩa được suy ra từ nghĩa hiển ngôn chính là nghĩa hàm ẩn. Trong nghĩa hàm ẩn chứa tiền giả định và nghĩa hàm ngôn. Trong giao tiếp hàng ngày, để hiểu đúng hàm ngôn của người nói là một vấn đề không mấy dễ dàng, để nắm bắt được đúng ý của người nói, người nghe phải trải qua một quá trình suy ý, quá trình đó phải dựa vào những từ ngữ trong phát ngôn (nghĩa hiển ngôn) cùng những căn cứ đã có sẵn trước khi phát ngôn (tiền giả định) và ngữ cảnh của phát ngôn. Để có được một cái nhìn chính xác về hàm ngôn, ta bắt đầu từ những thuật ngữ cơ bản nhất.
Hàm ngôn và hiển ngôn Thuật ngữ hàm ngôn và hiển ngôn được các tác giả như Hoàng Phê (1981), và nhóm các tác giả Hoàng Xuân Tâm– Nguyễn Văn Bằng – Bùi Tất Tươm –Cao Xuân Hạo (1998) sử dụng, Hồ Lê (1996) gọi là ý nghĩa hiển hiện và ý nghĩa hàm ẩn. Nguyễn Thiện Giáp (2000) dùng thuật ngữ hiển ngôn đối lập với hàm ẩn/hàm ngôn (tiền giả định, kéo theo, hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại). Luận văn này dùng thuật ngữ hiển ngôn, hàm ngôn như cách gọi của Hoàng Phê và nhóm các tác giả Hoàng Xuân Tâm – Nguyễn Văn Bằng – Bùi Tất Tươm– Cao Xuân Hạo (1998). Khái niệm về hàm ngôn (implication) và hiển ngôn (explication) trong tiếng Việt nhìn chung đã có một cái nhìn thống nhất như trong sách giáo khoa lớp 9, tập 2 (2007) Nxb Giáo dục định nghĩa : “Hàm ý (hàm ngôn) là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra từ những từ ngữ ấy.
Nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn) là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp 16 bằng từ ngữ trong câu.75] Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), hàm ngôn là “điều người nói không diễn đạt trực tiếp, người nghe phải tự suy ra mà hiểu; phân biệt với hiển ngôn.418] Hiển ngôn là “điều người nói diễn đạt trực tiếp, rõ ràng; phân biệt với hàm ngôn.437] Như vậy theo Hoàng Phê hàm ngôn là điều nói gián tiếp, còn hiển ngôn là điều nói trực tiếp. Từ những ý kiến trên ta có thể hiểu hiển ngôn là nghĩa được thể hiện trực tiếp bằng các từ ngữ trên bề mặt của phát ngôn. Hàm ngôn là nghĩa được suy ra một cách gián tiếp từ nghĩa nghĩa bề mặt ấy. Còn về nội hàm và mối quan hệ giữa hiển ngôn, tiền giả định, hàm ngôn từ trước đến nay trong giới Việt ngữ vẫn còn một số điểm chưa nhất quán.
Nói chung là có hai quan niệm khác nhau: quan niệm thứ nhất, đối lập giữa hiển ngôn và hàm ngôn, quan niệm thứ hai lại có sự đối lập giữa hiển ngôn và hàm ẩn, hàm ngôn là một bộ phận của hàm ẩn và đối lập với tiền giả định. Quan niệm thứ nhất, hàm ngôn đối lập với hiển ngôn Những người theo quan niệm này gồm các tác giả như Hoàng Phê (1981), Hoàng Tuệ (1991), Nguyễn Đức Dân (1996), Hoàng Xuân Tâm - Nguyễn Văn Bằng - Bùi Tất Tươm - Cao Xuân Hạo (1998). Nhìn chung, các tác giả này đều cho rằng giữa hiển ngôn và hàm ngôn có sự đối lập, đã có hiển ngôn tức là có sự đối lập với hàm ngôn. Người đầu tiên ở Việt Nam khi nghiên cứu về hàm ngôn và cho rằng có sự đối lập giữa hiển ngôn và hàm ngôn là Hoàng Phê.
Trong bài “Ngữ nghĩa của lời” (1981), tác giả cho rằng : “Trong lời nói thường ngày, lắm khi chúng ta nói ra một điều này, nhưng lại muốn cho người nghe từ đó hiểu ra một điều khác, hoặc hiểu thêm một điều khác nữa. Điều nói gián tiếp, chúng tôi đề nghị gọi là hàm ngôn (implicit), đối lập với hiển ngôn (explicit) là điều nói ra trực tiếp.34] Như vậy, giữa hàm ngôn (implicit) có sự đối lập với hiển ngôn (explicit). Và ý hàm ngôn là ý chính, ý quan trọng trong lời nói. Còn trong bài “Ý nghĩa của hàm 17 ngôn trong lời nói” (1988), ông lại nhấn mạnh hàm ngôn phong phú hơn hiển ngôn và có khi còn mâu thuẫn với hiển ngôn, nhưng thường hiển ngôn để nói hàm ngôn, hàm ngôn mới chính là cái ý muốn nói.
Tức là dùng hiển ngôn nhưng thực chất là để nói hàm ngôn, hiển ngôn là cái bề ngoài, còn hàm ngôn mới là cái bên trong cần quan tâm [75, tr. Tác giả còn giải thích thêm:“Muốn hiểu hiển ngôn, thường chỉ cần hiểu nghĩa của từ, quan hệ cú pháp giữa các từ trong câu và nghĩa của câu. Nhưng muốn hiểu hàm ngôn thì chừng ấy ấy chưa đủ. Hàm ngôn không chỉ dựa trên hiển ngôn, mà còn phải dựa trên một số điều người nói không nói ra, mà coi như người nghe cũng đã biết rồi, gọi là tiền giả định” [75, tr.
Tóm lại, theo Hoàng Phê để hiểu được hiển ngôn chỉ cần dựa vào nghĩa của từ, quan hệ cú pháp giữa các từ trong câu và nghĩa của câu, còn muốn hiểu được hàm ngôn phải dựa vào hiển ngôn và tiền giả định. Tức là từ nghĩa hiển ngôn kết hợp với tiền giả định mới suy ra được hàm ngôn. Từ những khái niệm trên, ông còn phân biệt hai cấp độ: cấp độ của cái nói ra và cấp độ của cái không nói ra. Trong cái nói ra có hai bộ phận: cái nói ra trực tiếp và cái nói ra gián tiếp.
Cái nói ra trực tiếp chính là hiển ngôn, và cái nói ra gián tiếp chính là hàm ngôn. Các tác giả Hoàng Xuân Tâm - Nguyễn Văn Bằng - Bùi Tất Tươm - Cao Xuân Hạo (1998), khi bàn đến vấn đề hiển ngôn và hàm ngôn cũng cho rằng: nghĩa của câu có thể thấy “trên bề mặt của nó” (hiển ngôn) “hay trong bề sâu” (hàm ngôn). Hàm ngôn là “những ý nghĩa không được biểu đạt trực tiếp qua nguyên văn mà phải suy ra từ quan hệ giữa các nghĩa trong cấu trúc và từ ngôn cảnh nguyên văn” [82, tr. Ta có thể hiểu quan niệm của nhóm tác giả này về hiển ngôn là phần nghĩa có thể được tiếp nhận ngay trên bề mặt của câu bằng từ ngữ (tức nghĩa nguyên văn) và không cần phải suy luận gì cả; hiển ngôn gồm tiền giả định và hiển nghĩa.
Còn hàm ngôn là những ý nghĩa không được diễn đạt trực tiếp qua từ ngữ mà phải thông qua một sự suy luận dựa trên nghĩa nguyên văn và ngữ cảnh nhất định.Hàm ngôn bao gồm hàm nghĩa và ẩn ý, hàm nghĩa là ý suy ra được diễn đạt bằng chữ nghĩa trong nguyên văn, còn ẩn ý là ý suy ra nhưng chỉ có thể thấy trong ngôn cảnh, tức là cái ẩn ý đằng sau nguyên văn mà không được diễn đạt bằng lời. có 18 nghĩa là hàm ngôn bao gồm hàm nghĩa (nghĩa bề sâu) và ẩn ý (ẩn kín đằng sau nguyên văn được suy ra từ tiền giả định, hiển nghĩa, hàm nghĩa và ngôn cảnh). Mô hình cấu trúc nghĩa của câu theo các tác giả này có thể khái quát như Bảng 1.112] Tiền giả định Hiển ngôn Hiển nghĩa Câu/thông báo Hàm nghĩa Hàm ngôn Ẩn ý Bảng 1. Mô hình cấu trúc nghĩa của câu theo Hoàng Xuân Tâm - Nguyễn Văn Bằng - Bùi Tất Tươm - Cao Xuân Hạo (1998) Hai tác giả Hoàng Tuệ (1991), Nguyễn Đức Dân (1996) khi bàn về hiển ngôn và hàm ngôn cũng cho rằng: hiển ngôn có sự đối lập với hàm ngôn.
Về mối quan hệ giữa hàm ngôn, hiển ngôn và tiền giả định, Hoàng Tuệ cho rằng từ nghĩa hiển ngôn (m) suy ra nghĩa tiền giả định (n) (cả nghĩa hiển ngôn (m) và nghĩa tiền giả định (n) đều không có hàm ý). Nghĩa hiển ngôn (m) kết hợp với nghĩa tiền giả định (n) suy ra nghĩa ẩn ý (p). Nghĩa tiền giả định (m) với nghĩa ẩn ý (p) chung lại là nghĩa hàm ngôn. Ta có thể hiểu quan niệm của Hoàng Tuệ về mối quan hệ giữa hiển ngôn và hàm ngôn như sau: Nghĩa hiển ngôn + tiền giả định = nghĩa ẩn ý Tiền giả định + nghĩa ẩn ý = nghĩa hàm ngôn Cũng như Hoàng Phê, Hoàng Tuệ cho rằng giữa hiển ngôn và hàm ngôn luôn có sự đối lập, đã có hàm ngôn là có đối với lập hiển ngôn:“có hiển ngôn mới có hàm ngôn; nếu không có hàm ngôn thì không cần đặt ra vấn đề hiển ngôn” [95, tr.
Ngoài ra, theo tác giả này, các nhà nghiên cứu phần lớn tán thành sự lưỡng phân giữa hàm ngôn và hiển ngôn như của Paul Grice và Oswald Ducrot: 19 Nghĩa phát ngôn Hiển ngôn Hàm ngôn (Explicite) (Implicite) Tiền giả định Ẩn ý (Presup posés) (Sous – entendus) Bảng 1. Lược đồ về sự lưỡng phân của Oswald Ducrot (Dẫn theo 95, tr. 931) Sơ đồ lưỡng phân của Oswald Ducrot, đã chỉ ra nghĩa của một phát ngôn gồm hai phần: hiển ngôn và hàm ngôn, trong hàm ngôn có tiền giả định và ẩn ý. Như vậy, theo quan niệm này thì tiền giả định nằm trong hàm ngôn và hiển ngôn đối lập với hàm ngôn.
Cũng tán thành quan niệm về hàm ngôn của Hoàng Phê và Hoàng Tuệ, Nguyễn Đức Dân (1987) trong “Lôgich ngữ nghĩa – cú pháp” cho rằng: “Hàm ngôn là khi chúng ta nói điều này nhưng muốn người nghe hiểu ra một điều khác hoặc hiểu thêm một điều khác”[18, tr.