Chương 1, chúng tôi xác định chủ nhân của lý thuyết giải cấu trúc mà chúng tôi coi nó là điểm tựa: Giải cấu trúc luận của Jacques Derrida. Để tìm hiểu giải cấu trúc luận theo tư tưởng của Derrida, chúng tôi liên hệ tới nguồn gốc đã sản sinh ra nó – thuyết cấu trúc cùng những hệ tư tưởng mà nó chịu ảnh hưởng (Phân tâm học của Freud, quan niệm về vô thức của Jacques Lacan, thời kì tiền thân của giải cấu trúc với những lý thuyết nhà tư tưởng Roland Barthes). Từ đó, chúng tôi nêu trình bày những biểu hiện của giải cấu trúc trong phê bình văn học. Với việc xác định tư tưởng giải cấu trúc của Derrida là chìa khóa dẫn đường cho tác phẩm, luận văn tiến hành đi tìm những nguyên tắc giải cấu trúc của Derrida thông qua những từ khóa tiêu biểu trong lý thuyết của ông.
Đồng thời từ đó xác lập mối quan hệ giữa tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” và lý thuyết này. Để làm rõ điều này, chúng tôi liên hệ tác phẩm với chính những tư tưởng của Umberto Eco về thi pháp của tác phẩm “mở”. Bằng con đường này, chúng tôi chứng minh được sự tương quan giữa tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” – một tác phẩm “mở” – với lý thuyết giải cấu trúc – một cách đọc “mở”. Từ lý thuyết cấu trúc đến giải cấu trúc luận 1.
“Giải cấu trúc” - vấn đề thuật ngữ 1. Giải cấu trúc và phê bình văn học 1. Lý thuyết “giải cấu trúc” của Jacques Derrida và tác phẩm “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco 1. Nguyên tắc giải cấu trúc của Jacques Derrida 1.
“Tác phẩm mở” - “Tên của đóa hồng”của Umberto Eco - và lý thuyết giải cấu trúc của Jacques Derrida Chương 2 sử dụng hai lý thuyết: Dấu vết (Trace) và Phát tán (Dissemination) để diễn giải tác phẩm, và bộc lộ kĩ thuật viết của nhà văn. Với hai khái niệm này, chúng tôi mong muốn “tháo dỡ” những tầng nghĩa và truy hồi đường dây huyết mạch của tác phẩm. Trong đó, kết cấu của văn bản được xem như sự phát tán không ngừng của các văn bản, các cốt truyện, và sự đối thoại đa âm của diễn ngôn. Từ đó, cho thấy tính chất giải cấu trúc và tư duy thẩm mĩ của nhà văn Umberto Eco trong sáng tác văn chương.
DẤU VẾT VÀ NGƯỢC XUÔI PHÁT TÁN TRONG MÊ CUNG TIỂU THUYẾT 2. Dấu vết – kí hiệu không chứa cái biểu đạt 2. Thế giới được “đọc” qua kí hiệu 2. Những tranh luận về tội ác 2.
Sự đảo ngược của thế giới 2. Từ Ngược xuôi phát tán đến mê cung văn bản 2. Phát tán những câu chuyện 2. Phát tán những văn bản 2.
Phát tán các diễn ngôn Ở Chương 3, chúng tôi giải cấu trúc tác phẩm dựa vào từ khóa quan trọng nhất của lý thuyết: khái niệm Trì biệt (Differance). Khái niệm trì biệt được nhìn nhận dưới góc độ biểu tượng và tính nhị nguyên của những cặp khái niệm. Về 15 biểu tượng, chúng tôi lựa chọn biểu tượng Thư viện – điểm mấu chốt nảy sinh những vấn đề của tác phẩm, biểu tượng lớn nhất của cuốn tiểu thuyết. Ngoài ra chúng tôi hướng sự tập trung vào khai thác các biểu tượng tôn giáo xuất hiện với tần số dày đặc trong tác phẩm dưới nhiều góc độ, nhằm cho thấy sự trượt nghĩa, tính chất kéo dài và mở rộng nghĩa của những biểu tượng.
Về tính nhị nguyên của khái niệm, chúng tôi xoay quanh hai vấn đề lớn nhất trong tác phẩm: Chúa Trời - Quỷ dữ và Chân lý - Cái cười. Từ đó, chủ đề tư tưởng của tác phẩm được hiển lộ. SỰ TRÌ BIỆT CỦA VĂN BẢN 3. Kéo dài và mở rộng biểu tượng 3.
Những con số và biểu tượng tôn giáo 3. Tính bất khả quyết của những cặp phạm trù 3. Chúa Trời và Quỷ dữ 3. Chân lý và cái cười Phần Kết luận mang tính chất tổng kết, khái quát con đường giải cấu trúc trong tiểu thuyết “Tên của đóa hồng”, nêu lên tư tưởng của tác phẩm và định hướng giải cấu trúc như một cách đọc khả dụng đối với tiểu thuyết đương đại.
Từ lý thuyết cấu trúc đến giải cấu trúc luận 1. “Giải cấu trúc” – vấn đề thuật ngữ Giải cấu trúc là một phương pháp nghiên cứu triết học, văn học xuất hiện tại Pháp những năm 1960, được chính thức khởi nguồn từ nhà triết học người Pháp Jacques Derrida qua tác phẩm “Of Grammatology”. Trong tác phẩm này, lần đầu tiên, Jacques derrida đã sử dụng từ “Deconstruction” - “Giải cấu trúc” như một lý thuyết phản hồi (và phản ứng) lại chủ nghĩa cấu trúc vốn đã tồn tại và trở thành thống soái trong lĩnh vực nghiên cứu các ngành khoa học xã hội từ đầu thế kỉ XX. Bằng cách vạch ra những mâu thuẫn nội tại trong chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc phủ nhận tính đơn nhất, bền vững, tính duy nhất đúng trong mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Nói cách khác lý thuyết giải cấu trúc được xem như một nhánh phái sinh từ chủ nghĩa cấu trúc. Trong “Từ điển tiếng Pháp”, thuật ngữ này được định nghĩa theo hai cách sau: - Về ngữ pháp: “Deconstruction là sự thay đổi, sự ngắt quãng cấu trúc và bố cục của từ trong câu với mục đích tạo ra nghĩa khác, nghĩa mới với những từ tương tự” [67]. - Về cơ học: Deconstruction chỉ sự sự tháo rời, tháo dỡ, phân rã. Giải thích về thuật ngữ giải cấu trúc, ý kiến của Barbara Johnso được trích từ “Từ điển thuật ngữ văn học và lý thuyết văn học”, như sau : “Giải cấu trúc” không đồng nghĩa với “sự phá hủy”.
Thực chất, nó gần với nghĩa gốc của từ “phân tích”, theo từ nguyên học có nghĩa là “tháo ra, mở ra” (undo) - một sự đồng nghĩa thực sự với “de - construct”. Giải cấu trúc một văn bản không thể tiến hành bởi sự nghi ngờ ngẫu nhiên hoặc sự phá hủy có tính võ đoán, mà bằng cách tháo gỡ một cách cẩn thận những tầng nghĩa mâu thuẫn nhau trong chính văn bản đó. (Barbara Johnso nhấn mạnh) Nếu có bất cứ điều gì bị tiêu hủy trong 17 cách đọc giải cấu trúc thì đó không phải là văn bản, mà đó là quyền thống trị một cách tuyệt đối giữa biểu hiện này với một biểu hiện khác. Một cách đọc giải cấu trúc là một cách đọc trong đó hướng đến sự phân tích nét đặc trưng của sự khác biệt quan trọng của văn bản với chính nó.
1 “Deconstruction” trong Bách khoa toàn thư của lý thuyết văn học đương đại (Encyclopedia of Contemporary Literary Theory) định nghĩa: chủ nghĩa giải cấu trúc được hình thành ở Pháp từ cuối những năm 60 của thế kỉ XX và có ảnh hưởng sâu rộng trong giới phê bình Anh Mỹ do Jacques Derrida đề xướng. Nó tiêu biểu cho sự phản ứng trước những phong trào lý thuyết và triết học đầu thế kỉ XX có thể kể đến như hiện tượng học của E. Saussure và chủ nghĩa cấu trúc Pháp, và thuyết phân tâm học của S. Chủ nghĩa giải cấu trúc theo J.
Derrida gồm có hai nhiệm vụ: trước hết, nó bày ra cái tự nhiên mơ hồ của “có một trung tâm” diễn ngôn, cái phụ thuộc vào sự thật, sự có mặt, nguồn gốc hoặc tương tự chúng. Thứ hai, là sự lật đổ lý thuyết siêu hình bằng cách thay thế những ranh giới của khái niệm. Chủ nghĩa giải cấu trúc tìm kiếm sự tồn tại bên ngoài của những hệ thống tư tưởng truyền thống để đặt áp lực lên ranh giới của chúng và để thử thiết lập mà không cần tra xét, nghi ngờ chúng. Như để thay thế cho sự hạn hẹp của lý thuyết siêu hình truyền thống, các dấu vết Derrida thấy không thể thiếu đối với cả chủ nghĩa cấu trúc và hiện tượng học, thì giải cấu trúc tán thành 1 Deconstruction is not synonymous with “destruction”, however.
It is in fact much closer to the original meaning of the word 'analysis' itself, which etymologically means 'to undo'- a virtual synonym for 'to de-construct'. The deconstruction of a text does not proceed by random doubt or arbitrary subversion, but by the careful teasing out of warring forces of signification within the text itself [my ialics]. If anything is destroyed in a deconstructive reading, it is not the text, but the claim to unequivocal domination of one mode of signifying over another. A deconstructive reading is a reading which analyses the specificity of a text's critical difference from itself.
18 xóa bỏ mọi giới hạn của những giải thích và một tác phẩm không còn bị giới hạn về mặt ngữ nghĩa và không còn neo ở bất kỳ cái biểu hiện nào 1. “The Blackwell Dictionary of Western Philosophy” nhấn mạnh, nếu như chủ nghĩa siêu hình học ở phương Tây trước đây được hình thành dựa trên sự đối lập giữa các phạm trù chẳng hạn như nói/ viết, tâm hồn/ thể xác, cái siêu việt/ cái kinh nghiệm, giữa Chúa Trời/ Quỷ dữ, trong mỗi cặp khái niệm đó sẽ có cái được xem như vượt trội hơn hẳn cái còn lại. Đến chủ nghĩa giải cấu trúc, nó chủ trương xóa bỏ quan niệm về cái vượt trội trong một cặp đối lập bằng cách đặt ra câu hỏi làm thế nào mà chúng có tính khả thi nhất trong tùy những ngữ cảnh cụ thể. Nó là một lối phân tích hoặc phê bình về ý nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ bằng cách tham gia vào việc sử dụng của chúng hoặc chức năng của chúng khi tham gia trong các hoạt động của con người.
Derrida chứng minh rằng giả sử khái niệm được cho là yếu thế hơn trong mỗi cặp đối lập có đặc điểm tương tự với cái khái niệm được cho là vượt trội hơn, và không có căn cứ nào để trao quyền ưu tiên cho cái này vượt qua cái kia. Sau đó, ông thay thế sự đối lập bằng cách giới thiệu một khái niệm bao quát toàn bộ mà nó tránh được sự cố định và xác định mà một khái niệm thông thường chứa đựng. Có hai cách dịch phổ biến với chữ “deconstruction”: giải cấu trúc và giải kiến tạo. Trong luận văn này, chúng tôi chọn sử dụng thuật ngữ “giải cấu trúc”, vì tính phổ biến của nó, đồng thời phản ánh khá chính xác nguồn gốc và đặc trưng của lý thuyết này - xuất phát từ chủ nghĩa cấu trúc.
Kết cấu là sự sắp đặt, 1 “For Derrida deconstruction’s task twofold: first, to expose the problematic nature of all ‘centred’ discourses, those which depend on concepts such as truth, presence, origin or their equivalents, second, to overturn metaphysics by displacing its conceptual limits. Deconstruction seeks to inhabit the margin of traditional systems of thought in oder to put pressure on their border and to test their unexamined foundation).