Chương 1: Hành trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Chương 2: Những cảm hứng lớn trong đề tài viết về quá khứ của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Chương 3: Những đặc sắc nghệ thuật. z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945.
Hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng tháng Tám Do chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hán học, sáng tác của Nguyễn Tuân cho đến trước năm 1937 hầu hết được viết theo bút pháp cổ điển. Những sáng tác buổi đầu ấy chưa gây được tiếng vang. Tuy nhiên, có thể bắt gặp ở một số trang viết tiêu biểu như Giang hồ hành (thơ), Vƣờn xuân lan tạ chủ (truyện ngắn) những tín hiệu của một phong cách nghệ thuật lớn. Ðó là tinh thần hoài cựu, luôn chăm chút nhặt nhạnh những vẻ đẹp xưa dù đã tàn tạ, cuối mùa; là hệ thống nhân vật tài hoa tài tử, nhuốm chút ngông nghênh kiêu bạc; là lối văn cầu kỳ trúc trắc mà uyên bác hơn người.
Ðến 1937, Nguyễn Tuân lại xuất hiện trên các báo với những truyện ngắn hiện thực trào phúng, ở đó thường vỡ ra những tràng cười châm biếm thoải mái, đậm đà phong vị dân gian (Ðánh mất ví, Một vụ bắt rƣợu lậu, Mƣời năm trời mới gặp lại cố nhân). Tuy nhiên, do trào lưu hiện thực phê phán lúc bấy giờ đã phát triển rất mạnh với nhiều tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao,. cho nên thật không dễ dàng đối với Nguyễn Tuân trong việc tìm một vị trí có hạng trên văn đàn. Vả chăng, có lẽ hơn ai hết, Nguyễn Tuân sớm nhận ra rằng thể loại truyện ngắn vẫn chưa phù hợp với sở trường của mình.
Nguyễn Tuân chỉ thực sự được công nhận như một phong cách văn chương độc đáo kể từ tùy bút - du ký Một chuyến đi (1938). Tác phẩm là tập hợp những trang viết từ chuyến du lịch không mất tiền sang Hương Cảng để tham gia thực hiện bộ phim Cánh đồng ma. Nét đặc sắc nhất ở Một chuyến đi chính là giọng điệu. Có thể nói đến đây Nguyễn Tuân mới tìm được cách thể hiện giọng điệu riêng, một giọng điệu hết sức phóng túng, linh hoạt đến kỳ ảo: “Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông phèng, khi thì thánh thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất z đỗi tài hoa” [34, tr.
Nhân vật chính trong tác phẩm là cái tôi ngông nghênh kiêu bạc của nhà văn. Một cái tôi sau quá nhiều đắng cay tủi cực đã hầu như hoài nghi tất cả, chỉ còn tin ở cái vốn tình cảm, ý nghĩ, cảm xúc sắc sảo và tinh tế của mình tích lũy được trên bước đường xê dịch. Một năm sau, 1939, với tập truyện Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân đã vươn đến đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật. Tác phẩm góp phần đưa nghệ thuật văn xuôi Việt Nam phát triển thêm một bước mới trên con đường hiện đại hóa.
Tác phẩm được xem như một bảo tàng lưu giữ các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Từ sau Vang bóng một thời đến năm 1945, sáng tác của Nguyễn Tuân dần đi vào ngõ cụt. Nếu như ở Thiếu quê hƣơng (1940), Chiếc lƣ đồng mắt cua (1941) tuy mải mê với những lạc thú trần tục, cái Tôi vẫn còn đầy tự trọng và giữ được ý thức về bản thân mình thì từ 1942, tình hình có khác đi. Vẫn cái Tôi ấy nhưng đã có vẻ mất tự tin và niềm tin vào cuộc sống.
Trong những năm đen tối này, đời sống tinh thần của Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng ngày càng khủng hoảng sâu sắc. Những trang viết thưa dần. Bên cạnh những đề tài cũ (vẻ đẹp xưa, đời sống trụy lạc), xuất hiện thêm các đề tài mới hướng về thế giới của yêu tinh, ma quỷ. Ngay tiêu đề các tác phẩm Xác ngọc lam, Ðới roi, Rƣợu bệnh, Loạn âm cũng đủ nói lên tình trạng bế tắc của ngòi bút Nguyễn Tuân thời kỳ này.
Dõi theo quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, thật dễ nhận ra sự thay đổi rõ rệt về tư tưởng nghệ thuật, nhất là từ Vang bóng một thời trở về sau. Ðiều này hoàn toàn có thể lý giải được nếu nhìn vào quy luật của chủ nghĩa lãng mạn : bao giờ cũng khởi đầu thật ấn tượng bằng việc khám phá và đề cao cái tôi cá nhân, để rồi sau giây phút choáng ngợp ấy tất cả vụt trở nên nhỏ nhoi, trống vắng và buồn chán đến nao lòng. Dẫu sao, những trang viết của Nguyễn Tuân vẫn luôn được đón nhận bằng thái độ trân trọng và thông cảm sâu sắc bởi độc giả nhận ra ở đấy một tấm lòng chân thành, gắn bó tha thiết với quê hương bằng biết bao sợi dây tình cảm tế nhị, cả trong những thời điểm khắc nghiệt nhất. Các đề tài chính trong các sáng tác của Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng z 1.
Đề tài giang hồ, xê dịch Sự tiếp xúc với văn học phương Tây hồi đầu thế kỉ XX đã ảnh hưởng lớn đến văn học Việt Nam. Nhiều trào lưu, chủ nghĩa có nguồn gốc từ phương Tây đã du nhập vào nước ta và được các nhà văn, nhà thơ Việt Nam tiếp nhận nồng nhiệt. Chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân là một thứ lí thuyết vay mượn từ văn học phương Tây mà các đại diện tiêu biểu là A. Gide, Pôn Môrăng, nhà triết học Đức Friedrich Nietzsche…A.
Gide (1869- 1951) là một trong những nhà văn xuất chúng nước Pháp thế kỉ XX, từng đoạt giải Nobel Văn học năm 1947. Ông là người rất ham mê du lịch khắp nơi trên thế giới. Câu nói nổi tiếng Pôn Môrăng đã được Nguyễn Tuân lấy làm lời đề tựa cho tiểu thuyết Thiếu quê hƣơng của mình: “Ta chỉ muốn rằng sau khi ta chết đi, người ta lột da ta để làm một chiếc va li”. Thêm vào đó, phong trào dịch thuật phát triển đã tạo điều kiện cho lớp công chúng văn học thành thị, trong đó có các nhà văn được biết đến các tiểu thuyết phiêu lưu giả tưởng của các nhà văn phương Tây như: Robinson Crusoe của nhà văn Anh Daniel Defoe (1660- 1731); Hai vạn dặm dƣới biển của nhà văn Pháp Jules Verne (xuất bản ở Pháp năm 1870); các nhân vật trong tiểu thuyết của Satôbriăng du lịch sang châu Mỹ…Còn ở phương Đông là tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân (1506?- 1581), hình ảnh tài tử, lãng mạn của những thi nhân thích du lịch trong thơ ca đời Đường như Lý Bạch (701- 762), Đỗ Phủ (712- 770); cùng với đó là ý thức về cái “tôi”- con người cá nhân giữa cuộc đời trở thành những động lực mạnh mẽ thôi thúc các nhà văn Việt Nam lên đường sau khi đọc xong và gửi gắm niềm đam mê trong các tác phẩm của chính mình.
Còn văn học Việt Nam, nhiều tác giả thích cuộc sống lãng du và say mê thể hiện vẻ đẹp của non sông đất nước trong tác phẩm của mình như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, đặc biệt là lối sống phóng túng của Tản Đà đã ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành tính cách và sở thích xê dịch ở Nguyễn Tuân. Trong dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930- 1945, giang hồ xê dịch còn trở thành thứ “bệnh” của nhiều nhà văn, nhà thơ. Trong các nhà văn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh đã dành tình cảm ưu ái cho nhân vật Dũng- người khách z chinh phu có chí khí, gác tình riêng để dấn thân vào “cuộc đời phiêu lưu hoạt động” trong tiểu thuyết luận đề Đoạn tuyệt và Đôi bạn. Thế Lữ (1907- 1989) là nhà thơ Mới nổi danh trên văn đàn vào những năm 1930 với hình ảnh người khách chinh phu đưa “gót lãng du” khắp “chốn hải hồ” trong Giây phút chạnh lòng(1937) và các truyện ngắn kinh dị như Vàng và máu, truyện ngắn lãng mạn núi rừng như Gió trăng ngàn, Trại Bồ Tùng Linh; hình ảnh li khách trong Tống biệt hành (1944) của Thâm Tâm; hình ảnh người lãng tử giang hồ với những mùa xuân tha hương trong thơ Nguyễn Bính; hình ảnh cậu bé đa cảm, chớm ôm mộng giang hồ trong bài thơ Những ngày nghỉ học (1938) của Tế Hanh… Bên cạnh đó, các bạn văn cùng thời với Nguyễn Tuân như Nam Cao, Tô Hoài cũng rất thích cuộc sống xê dịch, nửa đêm nghe tiếng còi tàu hỏa đã gợi hứng lên đường.
Chính những chuyến “giang hồ vặt” này đã giúp các nhà văn, nhà thơ có nguồn tư liệu thực tế phong phú để phục vụ công việc viết lách của mình. Khác với các nhà văn cùng thời, Nguyễn Tuân giang hồ chỉ để chơi, đi không vì mục đích nào cả, đi chỉ là đi, đi không xác định địa điểm trước. Trong những người ưa xê dịch, có lẽ Nguyễn Tuân là người đi xa nhất, viết nhiều nhất, đam mê nhất. Sáng tác của ông mang tính chất điển hình, sâu đậm, đỉnh cao hơn cả về chủ nghĩa xê dịch.
Không chỉ chịu ảnh hưởng của phương Tây và nền văn học phương Đông mà sở thích này xuất phát từ chính Nguyễn Tuân bởi ông là người có cá tính độc đáo và ý thức cá nhân phát triển cao. Ham mê xê dịch còn là một “gen trội” mà Nguyễn Tuân được thừa hưởng từ gia đình khi ông nội và bố ông đều là những người có một dĩ vãng “lang bạt kì hồ”. Là người tự do, phóng túng, ông quan niệm “đời là một trường du hý”, sống là chơi mà viết cũng là chơi. Nếu nói “văn là người” thì điều này rất đúng với Nguyễn Tuân.
Ông viết văn như để chơi ngông với đời. Những gì người khác cho là nghịch lí, nghịch thuyết thì ông đẩy nó lên thành chủ nghĩa tới mức cực đoan. Ham du lịch, Nguyễn Tuân đã nâng niềm ham thích này thành lý thuyết- “chủ nghĩa xê dịch”. Học theo chủ nghĩa xê dịch, nhà văn thể hiện khát khao thích phiêu lưu, thèm khát những cảm giác mới lạ, những nẻo đường, những miền đất mới, được gặp gỡ muôn mặt người trên con đường giang hồ mê mải.
Những z điều này đã cùng gặp gỡ nhau nơi con người Nguyễn Tuân để rồi những trang viết được thăng hoa qua ngòi bút của ông.