Chương 1. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về chiếu vật 1. Khái niệm chiếu vật Hiểu theo cách đơn giản, quan hệ giữa các bộ phận tạo nên ngữ cảnh của nó với phát ngôn được coi là chiếu vật.
Chiếu vật làm một thuật ngữ có tên tiếng Pháp là référence, tên tiếng Anh là reference, ngoài ra nó cũng còn được gọi là sở chỉ. Chiếu vật chính là vấn đề dụng học thứ nhất mà các nhà logic học và ngữ dụng học quan tâm, chiếu vật cũng được coi là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên. Để có cơ sở để xác định nghĩa trong một diễn ngôn người ta nhờ vào chiếu vật, bởi vì nhờ có chiếu vật mà ngôn ngữ mới gắn được với ngữ cảnh. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp trong công trình Giáo trình ngôn ngữ học đã đưa một số quan điểm của học giả nước ngoài về vấn đề chiếu vật: John Lyons cho rằng, chiếu vật là sự liên quan giữa các sự vật mà chúng thay thế với từ ngữ.
Rất khó có thể nắm bắc được nghĩa đích của diễn ngôn nếu như không biết được từ ngữ nói ra được quy chiếu với sự vật nào trong ngữ cảnh đó. Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Thuật ngữ quy chiếu được các nhà ngôn ngữ học thường dùng để chỉ mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố ngôn ngữ với các biến cố, hành động, sự vật và tính chất mà chúng thay thế” [12, tr. Theo Đỗ Hữu Châu trong “Cơ sở ngữ dụng học” thì “Sự chiếu vật là dấu hiệu đầu tiên nhằm thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp hay còn gọi là ngữ cảnh với diễn ngôn, đó là sự tương ứng của các tín hiệu hay là của các yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn với các sự vật, các hiện tượng đang được nói đến ở trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định” [6, tr. Chiếu vật là phương diện ngữ dụng đầu tiên của diễn ngôn có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp.
Vì vậy: - Chiếu vật là cơ sở để hiểu được dụng ý hay ý nghĩa của một phát ngôn. Một phát ngôn mặc dù chứa những từ ngữ quen thuộc, thông dụng 11 nhưng có thể dẫn đến người đọc, người nghe không hiểu được nếu không biết những từ ngữ được sử dụng quy chiếu vào sự vật nào. - Chiếu vật giúp xác định giá trị đúng, sai của phát ngôn. Người nhận chỉ có thể hiểu được phát ngôn nhờ chiếu vật, khi đã hiểu được thì người nhận xác định được giá trị đúng, sai của phát ngôn đó.
Các phương thức chiếu vật Đối với người phát ra diễn ngôn, họ là người đã biết được sự vật hiện tượng được nói tới. Nhưng đối với người tiếp nhận, đó là cái chưa biết. Trước hết người phát trên cơ sở đặc điểm của cuộc giao tiếp, dụng ý sử dụng để tạo nên biểu thức ngôn ngữ phù hợp với khả năng chiếu vật, trên cơ sở đó người tiếp nhận ngôn ngữ dựa vào đó có thể thực hiện hoạt động chiếu vật thuận lợi. Vì vậy, “phương thức chiếu vật” chính là cách thức người phát dựa vào đó để xây dựng biểu thức ngôn ngữ chiếu vật.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, phương thức chiếu vật chính là cách thức con người sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật, nói cách khác, đây là con đường để người nghe tìm ra nghĩa chiếu vật từ các biểu thức chiếu vật nghe (đọc) được[5, tr. Luận văn tiếp cận các vấn đề lý luận để làm rõ các phương thức chiếu vật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân dựa theo quan điểm về phương thức chiếu vật của Đỗ Hữu Châu. Các phương thức chiếu vật chia thành các nhóm chủ yếu bao gồm: nhóm miêu tả xác định và dùng tên riêng, tức là cách dựa vào đặc điểm của chính bản thân sự vật xác định (nghĩa chiếu vật); Nhóm chỉ xuất tức, đay là nhóm phải dựa vào quan hệ giữa sự vật. Nghĩa chiếu vật với một cái mốc nào đó để có thể giúp người đọc, người nghe hiểu, nhận biết sự vật (tức là nghĩa chiếu vật đang được nói tới).
Trên có sở phân chia như trên, có thể chia phương thức chiếu vật thành 3 nhóm cơ bản: - Phương thức chiếu vật bằng tên riêng - Phương thức chiếu vật bằng biểu thức miêu tả 12 - Phương thức chiếu vật bằng chỉ xuất 1. Chiếu vật bằng tên riêng Tên riêng liên quan đến từng cá thể, từng sự vật, đó là tên gọi. Và tùy theo nhu cầu quan sát hoặc ứng xử xã hội. Tên riêng bao gồm cả tên đơn vị hành chính, sự nghiệp, bao gồm các vật thể địa lý như ao, hồ, sông suối, đồi núi và cả con người.
Chức năng chính của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù cá thể được gọi tên riêng tương ứng. Ví dụ: Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tuân, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công. (phạm trù người); Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ,.(phạm trù đơn vị hành chính)…; Ngũ Hành Sơn, Nhật Lệ, Tản Viên,. Biểu thức ngôn ngữ chiếu vật được tạo ra theo phương thức sử dụng tên riêng gọi là biểu thức chiếu vật tên riêng.
Biểu thức chiếu vật bằng tên riêng hướng tới sự quy chiếu vào một sự vật nhất định, do đó nó thường ít phụ thuộc vào đặc điểm của từng cuộc giao tiếp. Tên riêng vốn dĩ là tên của các vật thể, sự vật cụ thể. Và việc sử dụng biểu thức ngôn ngữ tên riêng làm quy chiếu sẽ giúp cho người tiếp nhận rất dễ thực hiện được hoạt động chiếu vật hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện tượng trùng tên rất hay thường gặp và là nhân tố gây trở ngại lớn nhất cho việc nhận biết sự vật.
Bởi vì tên riêng không phải lúc nào cũng giải mã hoàn toàn chính xác. Có rất nhiều trường hợp tên địa danh, địa phương, tên người trùng với nhau, hoặc tên địa danh được dùng theo nghĩa ẩn dụ, hoán dụ. Vì vậy, để khắc phục việc trùng tên gọi, cũng như tránh việc nhầm lẫn trong nghĩa chiếu vật, người ta thường sử dụng thêm một danh từ chung đi kèm với tên riêng như: người Tràng An, phở Hà Nội, nem chua Thanh Hóa, đường Phạm Văn Đồng, dân Hà Tĩnh. Quá trình sử dụng tên riêng người ta còn được dùng theo lối dịch chuyển bằng phương thức hoán dụ.
Đối với loại nghĩa dịch chuyển này, chức năng chiếu vật của tên riêng vẫn tồn tại, tuy nhiên nó đã có sự thay đổi. Tên riêng cũng được dùng để thể hiện chức năng thuộc ngữ, chỉ ra đặc điểm của một 13 thuộc tính, hay phẩm chất đặc trưng nào đó của sự vật hiện tượng. Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả * Khái niệm Phương thức chiếu vật bằng tên riêng có thể coi là loại phương thức chiếu vật hiệu quả nhất, bởi lẽ nó trực tiếp chiếu vào cá thể sự vật duy nhất và giúp người ta rất dễ dàng nhận ra. Tuy nhiên, nó chỉ ở mức độ tương đối, không phải người tiếp nhận luôn luôn nhận ra được các sự vật có tên riêng, chính vì vậy, cần một phương thức chiếu vật khác phù hợp hơn.
Một trong những phương thức ấy là phương thức chiếu vật bằng biểu thức miêu tả. Phương thức chiếu vật miêu tả thường sử dụng các từ ngữ để miêu tả, qua đó giúp người nghe xác định, quy chiếu được sự vật nói đến. Do đó, biểu thức chiếu vật có sử dụng các từ ngữ để nêu đặc điểm của sự vật được nói đến chính là biểu thức chiếu vật miêu tả. Như vậy, “Miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung, nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật - nghĩa chiếu vật ra khỏi các sự vật khác cùng loại với chúng” [7, tr.
* Phân loại Dựa vào các đặc điểm của biểu thức miêu tả chiếu vật, thông thường được chia thành 2 loại: Biểu thức miêu tả xác định: Một biểu thức chiếu vật miêu tả được xem là xác định khi sự vật, nghĩa chiếu vật được cả người nghe, người nói biết đến (nó có thể được nói đến trong tiền văn). Ngược lại, khi nghĩa chiếu vật của biểu thức mà chưa được người nghe, người nói biết thì nó sẽ ở loại thứ 2 là một biểu thức không xác định. Biểu thức miêu tả không xác định. Trong tiếng Việt nó thường bắt đầu bằng “một”, từ một kết hợp với danh từ có hoặc không có loại từ ở giữa.
Ví dụ: một cái cây, một con lợn… là những biểu thức miêu tả mà không xác định. Một biểu thức miêu tả được xem là xác định khi sự vật - nghĩa chiếu 14 vật của nó - đã được cả người nói, người nghe biết, nó có thể được nói đến trong tiền văn. Khi nghĩa chiếu vật của biểu thức chưa được người nói và người nghe biết thì biểu thức tương ứng là một biểu thức không xác định. Chính vì vậy, chúng ta thường dùng biểu thức miêu tả không xác định khi đưa sự vật, hiện tượng lần đầu tiên vào diễn ngôn.
Sau đó, ở các phát ngôn tiếp theo sự vật, hiện tượng sẽ được biểu thị bằng một biểu thức miêu tả xác định hoặc một phương thức chiếu vật khác như tên riêng, chỉ xuất. (1) Họ là một bộ ba có ba cái tên rất đẹp, rất thơ mộng: Một người là Mộng Liên, một người là Mộng Huyền và một người nữa là Mộng Thu. Trong ví dụ trên, biểu thức miêu tả chiếu vật “một bộ ba có ba cái tên rất đẹp, rất thơ mộng” khá mơ hồ về chiếu vật (hiệu quả chiếu vật thấp), người đọc mới chỉ nhận biết: đẹp, thơ, mộng, mà chưa nhận biết được tính chất của của sự vật - nghĩa chiếu vật nên vẫn chưa biết được bộ ba đó họ là ai. Vì thế ở vế sau của phát ngôn, người viết đã sử dụng chiếu vật bằng tên riêng để làm tăng thêm hiệu quả chiếu vật, làm giảm thiểu đi tính chiếu vật mơ hồ, không xác định của biểu thức miêu tả chiếu vật “một bộ ba có ba cái tên rất đẹp, rất thơ mộng” là ba người có tên Mộng Liên, Mộng Huyền, Mộng Thu.
* Cấu tạo của biểu thức miêu tả chiếu vật Về mặt cấu tạo ngữ pháp thì biểu thức chiếu vật miêu tả là một cụm danh từ, cũng có thể là một tính từ, hay động từ. Tuy nhiên, trong luận văn này, trọng tâm nghiên cứu của chúng tôi chỉ là biểu thức miêu tả chiếu vật có cấu tạo từ cụm danh từ. Lấy mô hình cấu tạo của cụm danh từ trên làm cơ sở để tìm hiểu về cấu tạo của biểu thức miêu tả chiếu vật trong sáng tác Nguyễn Tuân.