Chương 1: THƠ NGUYEN KHOA DIEM TRONG MẠCH NGUON VAN HOA HUE 1. Vài nét về văn hoá Huế Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306). Trong khoảng thời gian khá dài, Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu dé tạo nên một truyền thống văn hóa Huế. Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất vừa không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam.
Suốt tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ II và sau thế kỷ XIII hỗn dung với thành phan văn hóa Sa Huynh tạo nên nền văn hóa Việt — Chăm cùng sự ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, An Độ, phương Tây. Là một vùng văn hóa mang đậm sắc thái truyền thống của Việt Nam, Huế ẩn chứa trong lòng mình những giá trị văn hóa độc đáo, thể hiện sinh động một thời phát triển của vùng đất kinh kỳ, nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của cả nước. Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống. Ngôn ngữ là một sản phẩm và là một thành phần của văn hoá.
Trong văn hóa Huế, có một tiếng Huế rất dịu dang, "dé thương", cùng nam trong miền phương ngữ Trung Bộ song không giống tiếng Quảng Bình - Quảng Trị, mà là một thứ tiếng Việt độc đáo, đối sánh với "tiếng Hà Nội", "tiếng Sài Gòn". Giữa hai vùng Nghệ Tĩnh và Quảng Nam- nơi có tiếng nói mạnh đạn, nhiều nam tính, nhiều âm đỉnh và âm vực đối chọi nhau, tiếng Huế như tách ra bởi sự nhỏ nhẹ, bồng bênh, ríu rit đầy nữ tính. Nguyễn Thị Sao — Cao học Văn 2007 Thơ Nguyễn Khoa Diém dưới góc nhìn văn hoá Cũng trong phương diện ngôn ngữ, mỗi địa phương do truyền thống của nó tạo nên một ngôn ngữ đối thoại có màu sắc riêng. GS Hoàng Thị Châu có sự so sánh: “Khẩu ngữ Hà Nội lịch sự và tế nhị, văn hoa nhưng không khỏi kiểu cách.
Khau ngữ Huế ở ngôn ngữ hoàng phái mang sắc thái đài các, nhưng thiếu tính chân thực, còn ở khẩu ngữ nhân dân thì đậm đà, duyên dáng nhưng không khỏi mộc mạc. Khau ngữ Nam Bộ thi bép chát, nhưng chí tinh, khỏe mạnh va mang một đặc điểm rất mới mà các khâu ngữ khác không có, đó là ý thức về giá trị cá nhân”[9, tr. Ca Huế là một hệ thong bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống "hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng.
Điệu Nam là những bài âm điệu buôn, nỉ non, ai oán. Bài bản ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cô điền hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là đàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bau, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền. Kỹ thuật đàn và hát ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng ca Huế lại mang đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế nên gần gũi với hò Huế, lý Huế; là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc dân gian.
Lễ nhạc cung đình Huế: Bắt nguồn từ 8 loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao nhạc, miéu nhac, ngũ tự nhac, cửu nhật nguyệt giao trùng nhac, đại triều nhạc, thường triều nhạc, đại yên cửu tau nhạc, cung trung nhạc, đến triều Nguyễn lễ nhạc cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Đại nhạc và Nhã nhạc (tiêu nhạc) với một hệ thống các bài bản lớn. Cùng với nhã nhạc, vũ khúc cung đình nồi bật với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp su, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng. Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lap lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung Nguyễn Thị Sao — Cao học Văn 2007 Thơ Nguyễn Khoa Diém dưới góc nhìn văn hoá đình Việt Nam, thé hiện được sự phát triển nâng cao múa hát cô truyền của người Việt. Mỹ thuật, mỹ nghệ Huế: Với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của Trung Hoa, các nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật trang trí với những nét độc đáo mang cá tính Huế.
Nghệ thuật trang trí mỹ thuật Huế còn tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt là tiếp thu nghệ thuật trang trí Tây phương. Trang trí cung đình Huế còn tiếp nhận va nâng cao nghệ thuật dân gian Việt Nam. Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như chạm khắc 20, cân xa cừ, can tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắc xương và ngọc nga, khảm sảnh sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan. đã được các tượng cục triều Nguyễn nâng lên thành những nghệ thuat tinh xảo, sang trọng.
về hội họa, nhiều họa sĩĨ Huế nồi tiếng về tranh thủy mặc sơn thủy, trúc lan, tranh gương, các ấn phẩm nhất thi nhất họa đặc sắc. Về điêu khắc, có đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thé hiện bang các tác phâm điêu khắc trên đá, trên đồng, trên gỗ. Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trang trí với những bức chạm nổi, cham lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạt đến sự tỉnh xảo và có tính thâm mỹ cao. Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nâng cao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn một thời sản xuất đồ mỹ nghệ pháp lam cao cấp.
Trong văn hóa Huế có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chú trọng về "lễ" hơn "hội". Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ở điện Hòn Chén hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Thiên y A na theo tín ngưỡng của người Chăm pa, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề truyền thống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng. Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bé ích như đua thuyén, kéo co, đấu vật.
được tô chức và thu hút đông đảo người xem. 10 Nguyên Thị Sao — Cao học Văn 2007 Thơ Nguyễn Khoa Diém dưới góc nhìn văn hoá Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dang: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miéu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại. Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quần thê di tích Có đô Huế hay Quan thé di tích Huế. Do là những di tích lịch sử - văn hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Kiến trúc đô thị Huế có truyền thống trên nền kiến trúc "tạo cảnh": Với phong cách riêng và cái nhìn phong thủy, quan thé kiến trúc kinh thành, đền đài, lăng tam, nhà cửa nơi đây đã hoà quyện cùng ngoại cảnh thiên nhiên thơ mộng của sông suối, núi rừng, bãi đồi xứ Huế, thé hiện sự hoà hợp âm dương, tạo nên một không gian kiến trúc "tạo cảnh" mang nhiều triết ly sâu xa, huyền bi. Cũng nằm trong không gian kiến trúc "tạo cảnh", nhà vườn Huế được coi là một nét văn hoá vật thé truyền thống đặc trưng. Nhà vườn Huế thể hiện triết lý sâu xa của con người xứ Huế: hướng nội, suy tư, hoà quyện vào thiên nhiên, gửi gam lòng mình vào cỏ cây, hoa lá. Loại kiến trúc này lẫy ngôi nhà làm trung tâm, trong đó người ta đặc biệt chú ý đến cả kết cấu kiến trúc (chạm khắc, tạo dang tỷ mi, tinh vi, khéo léo đến mức ngôi nhà trở thành tác phẩm của nghệ thuật điêu khắc gỗ), không gian kiến trúc (địa thế, phương vị, tiền án và vườn cây tạo cảnh xung quanh nhà), không gian xã hội (nhà nhất thiết phải gian lẻ, gian giữa là bàn thờ, hương án, hoành phi, câu đối; gian trên, chái trên dành cho đàn ông; gian dưới, chái dưới dành cho phụ nữ.
Đặc trưng tiếp theo của văn hoá vật thé là sự có mặt với mật độ dày đặc các chùa chiền, nhà thờ và các cơ sở thờ họ khác, như điện thờ, thánh thất, đền miếu. Trước hết Huế là một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước với sự có mặt của nhiều chùa chiền cổ cách ngày nay chừng vài ba thé kỷ. Hiện nay, ở Huế có khoảng trên 100 chùa chiền lớn nhỏ, phần nhiều trong số đó nằm ở phía tây thành phố - nơi có những đồi thông ngút ngàn màu xanh. Ngoài ra, ở Huế còn có 13 nhà thờ Thiên ———.
11 Nguyén Thi Sao — Cao hoc Van 2007 Thơ Nguyễn Khoa Diém dưới góc nhìn văn hoá chúa giáo, 1 thánh that Cao đài và hàng ngàn nhà thờ, đền miếu. Đó là những giá trị văn hoá vật thé mang dấu ấn kiến trúc tôn giáo của con người xứ Hué. Nói đến văn hóa Huế, cũng không thể không nhắc đến âm thực. Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, trong đó có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn.
Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rat công phu, ty my, cầu kỳ. Bên cạnh đó, các món ăn dân dã rất phố biến trong quan chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế. Mối quan hệ văn hoá - văn hoc!