Luận án tiến sĩ về truyện kể dân gian thần độc cước ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu truyện kể dân gian về thần Độc Cước ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phân tích đặc trưng văn hóa, ý nghĩa tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Chuyên ngành

Văn học dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

295
18
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Các nguồn tư liệu cổ về thần Độc Cước

1.3. Các nghiên cứu về thần Độc Cước sau năm 1945

1.4. Những vấn đề còn bỏ ngỏ

1.5. Cơ sở lý thuyết và một số khái niệm liên quan

1.5.1. Các lý thuyết sử dụng trong luận án

1.5.2. Một số khái niệm liên quan

1.6. Khái quát về vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TƯ LIỆU VÀ NHẬN DIỆN TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VỀ THẦN ĐỘC CƯỚC

2.1. Lựa chọn hướng khảo sát

2.2. Khảo sát cốt truyện phổ biến

2.3. Nhận diện truyện kể về thần Độc Cước

2.4. Nhận diện thần Độc Cước trong đời sống văn hóa của cư dân Bắc Bộ và Bắc Trung bộ

2.5. Nhận diện thần Độc cước trong mối quan hệ đồng thời với quỷ biển, mưa giông

2.6. Nhận diện thần Độc Cước từ quan niệm lưỡng phân lưỡng hợp

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC MOTIF CƠ BẢN VÀ VAI TRÒ CỦA HÌNH TƯỢNG THẦN ĐỘC CƯỚC TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN

3.1. Các motif cơ bản trong truyện kể dân gian về thần Độc Cước

3.1.1. Motif về sự ra đời kỳ lạ

3.1.2. Motif chiến công phi thường

3.1.3. Motif xẻ thân

3.1.4. Motif thử tài

3.1.5. Motif tái sinh, bất tử

3.2. Vai trò của hình tượng thần Độc Cước

3.2.1. Thần Độc Cước trong vai trò người anh hùng văn hóa chinh phục tự nhiên

3.2.2. Thần Độc Cước trong vai trò bảo trợ nông nghiệp, ngư nghiệp

3.2.3. Thần Độc Cước trong vai trò của thủ lĩnh, bảo vệ địa bàn sinh sống

3.2.4. Thần Độc Cước trong vai trò là pháp sư trừ tà

3.3. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: CÁC DẠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO TRONG TRUYỆN KỂ VỀ THẦN ĐỘC CƯỚC

4.1. Các dạng thức của tín ngưỡng dân gian trong truyện kể thần Độc Cước

4.1.1. Tín ngưỡng thờ đá

4.1.2. Tín ngưỡng thờ mặt trăng

4.2. Các dạng thức của tôn giáo trong truyện kể về thần Độc Cước

4.2.1. Dạng thức văn hóa Phật giáo

4.2.2. Dạng thức văn hóa Đạo giáo

4.3. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thần Độc Cước

Thần Độc Cước là một nhân vật nổi bật trong truyền kể dân gian của miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng ven biển. Nhân vật này không chỉ mang tính chất huyền thoại mà còn phản ánh sâu sắc văn hóa dân gian và tín ngưỡng của cư dân nơi đây. Thần Độc Cước được tôn vinh như một người anh hùng văn hóa, người đã có công khai phá và bảo vệ những vùng đất mới. Theo thống kê, có gần 300 điểm thờ thần Độc Cước, trong đó Thanh Hóa là nơi tập trung nhiều nhất. Hình ảnh vết chân khổng lồ của thần đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện của vị thần này trong tâm thức cộng đồng. Nghiên cứu về thần Độc Cước không chỉ giúp hiểu rõ hơn về huyền thoạitín ngưỡng dân gian, mà còn phản ánh những khát vọng và giá trị văn hóa của người dân Việt Nam.

II. Nội dung và nghệ thuật của truyện kể về thần Độc Cước

Các truyện kể dân gian về thần Độc Cước thường chứa đựng những motif đặc trưng như sự ra đời kỳ lạ, những chiến công phi thường, và các thử thách mà nhân vật phải vượt qua. Những câu chuyện này không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng những bài học sâu sắc về lòng dũng cảm, sự kiên trì và tình yêu quê hương. Thần Độc Cước được xây dựng như một hình tượng đa chiều, thể hiện vai trò của một người bảo vệ nông nghiệp và ngư nghiệp. Những motif này không chỉ làm phong phú thêm nội dung của truyện mà còn tạo nên sự kết nối giữa các thế hệ, giúp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc.

III. Tín ngưỡng và tôn giáo trong truyện kể về thần Độc Cước

Truyền thuyết về thần Độc Cước còn phản ánh sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo khác như Phật giáo và Đạo giáo. Các dạng thức tín ngưỡng thờ đá, thờ mặt trăng trong truyện kể cho thấy sự đa dạng và phong phú của văn hóa tâm linh trong cộng đồng. Những lễ hội thờ thần Độc Cước không chỉ là dịp để tưởng nhớ và tri ân mà còn là cơ hội để các thế hệ trẻ hiểu và tiếp nối truyền thống văn hóa của ông cha. Việc nghiên cứu sâu về các dạng thức này giúp làm rõ hơn về vai trò của thần Độc Cước trong đời sống tâm linh của người dân miền Bắc Việt Nam.

IV. Ý nghĩa và giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về truyền kể dân gian về thần Độc Cước không chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa này giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về di sản văn hóa, từ đó góp phần vào việc phát triển du lịch văn hóa và bảo vệ bản sắc dân tộc. Hơn nữa, nghiên cứu này còn tạo cơ sở cho các hoạt động giáo dục văn hóa, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về nguồn cội và giá trị văn hóa của dân tộc. Điều này không chỉ giúp gìn giữ những giá trị truyền thống mà còn khuyến khích sự sáng tạo trong việc phát triển văn hóa hiện đại.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các làng ven biển Thanh Hóa; Chương 2: Tục thờ thần Độc Cước qua truyền thuyết, thần tích, di tích và lễ hội; Chương 3: Nghiên cứu quá trình vận động và các lớp văn hóa tích hợp trong tục thờ thần Độc Cước; Chương 4: Tìm hiểu các giá trị và sự biến đổi của tục thờ thần Độc Cước ở Thanh Hóa hiện nay [122]. Nhìn chung, luận án này đã cung cấp bức tranh khái quát và tương đối toàn diện về thần Độc Cước dưới góc độ văn hóa học. Đồng thời, cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu về thần Độc Cước một cách quy mô, thông qua việc phân tích các lớp văn hóa từ tín ngưỡng bản địa đến ảnh hưởng của sự tiếp biến văn hóa, từ sự ảnh hưởng của các tôn giáo được tích hợp trong tục thờ thần Độc Cước. Tác giả đã thu thập được nhiều tư liệu từ việc điền dã, thống kê những điểm thờ, lễ hội về thần Độc Cước.

Tuy nhiên, vì luận án này thuộc chuyên ngành văn hóa học nên việc nghiên cứu dưới góc độ văn học đặc biệt là dân gian còn chưa được chú ý sâu như: nghiên cứu các motif, hình tượng, biểu tượng về thần Độc Cước dưới góc độ giải mã văn học từ mã văn hóa. Phần này trong quá trình triển khai chúng tôi sẽ bàn ở chương 3 các motif cơ bản và vai 17 trò của hình tượng thần Độc Cước trong truyện kể dân gian và chương 4 các dạng thức biểu hiện của tín ngưỡng và tôn giáo trong truyện kể về thần Độc Cước. Trong các năm tiếp theo từ năm 2011, Hoàng Minh Tường trong bài viết Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước - Sự tiếp biến giữa các yếu tố văn hóa bản địa và ngoại sinh đã đề cập đến tục thờ thần Độc Cước và sự tiếp biến với các tôn giáo ngoại lai, tạo nên sự phong phú và hấp dẫn trong tục thờ thần Độc Cước cho đến ngày nay [120]. Đến năm 2017, trong bài viết Tín ngưỡng và lễ hội thờ các vị thần biển, Hoàng Minh Tường lí giải tín ngưỡng thờ thần Độc Cước có liên quan đến chọi trâu, đến Phật giáo, mối quan hệ giữa thủy triều mặt trăng.Độc Cước là vị thần sông biển để thuyền bè ra khơi vào lộng thuận buồm xuôi gió, biển khơi cho dân chài nhiều tôm cá như ước nguyện của họ trong lễ hội cầu ngư [157].

Tác giả Hoàng Minh Tường đều có chung những nhận định về các giá trị văn hóa trong tục thờ thần Độc Cước và những ảnh hưởng văn hóa ngoại lai với sự tương tác giữa tín ngưỡng dân gian với thờ thần Độc Cước. Tuy nhiên, các bài viết trên vẫn chủ yếu là xoay quanh vấn đề nghiên văn hóa, tục thờ thần Độc Cước, tín ngưỡng dân gian qua lễ hội thần Độc Cước. Năm 2011, trong bài viết Chùa Non Xuân và pho tượng thần Độc Cước ở Hiệp Hòa - Bắc Giang, qua việc thờ thần Độc Cước ở chùa Non Xuân, tác giả Đồng Ngọc Dưỡng cung cấp thông tin: Tăng Già La Đồ Lê như một biểu tượng linh thiêng của phép tu đứng một chân, cho nên khi nói đến Độc Cước các nhà truyền giáo Ấn Độ đã mang trong hành trang của mình bàn chân đức Phật-một biểu tượng tâm linh Phật giáo lúc ấy vào Việt Nam trong đó có vùng đất Kinh Bắc-Bắc Giang [143]. Như vậy, ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trên đất Bắc Giang đã có sự tiếp xúc với tín ngưỡng thờ thần Độc Cước trong những ngôi chùa tại Bắc Giang.

Năm 2012, Võ Thị Hoàng Lan trong luận án tiến sĩ Tục thờ nước của người Việt ở châu thổ sông Hồng, bên cạnh việc đề cập đến một số vị thần biển, tác giả cho biết: thần Độc Cước được thờ ở vùng châu thổ ven sông Hồng là do chính các con thuyền buôn đã đưa thần Độc Cước đến các vùng trung du khi ngài trở thành thần phù hộ cho tầng lớp thương nhân [64]. Nhận xét của tác giả cũng trùng hợp với ý kiến của Đồng Ngọc Dưỡng, trong bài Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Bắc Giang [144] cho là có thể tín ngưỡng thờ thần Độc Cước đã theo các thương thuyền đi sâu 18 vào đất liền, men theo các dòng sông, dòng suối lan tỏa sâu vào nội địa. Chúng tôi cũng đồng ý với ý kiến của các tác giả là theo thời gian, theo dòng chảy lịch sử, sự di dân từ miền núi tiến xuống miền biển. Hàng bao đời nay, cha ông ta đã đi khai phá, giao lưu văn hóa ở các vùng miền của đất nước, cũng có thể dân từ miền biển, từ các thương thuyền (thuyền buôn, thuyền đánh cá.) dọc theo dòng sông tiến lên miền ngược; các nhà truyền giáo, các thầy mo, thầy địa lí cũng theo cư dân di cư từ miền ven biển đến vùng kinh tế mới, khi đi mang theo tín ngưỡng bản địa hoặc có thể rước chân nhang để sáng tạo thêm những nét mới trong không gian văn hóa thờ thần Độc Cước.

Năm 2014, Lê Huy Trâm và Hoàng Anh Nhân trong cuốn Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh, Quyển 2, đã đề cập tới thần tích và tế lễ, hội hè đền Độc Cước ở Sầm Sơn [109]. Tuy nhiên, cuốn sách này chủ yếu là tư liệu, điểm qua một số lễ hội truyền thống xứ Thanh trong đó có lễ hội thần Độc Cước. Như vậy, dưới góc nhìn tín ngưỡng, lễ hội các tác giả đã cung cấp một bức tranh toàn vẹn về thần Độc Cước, với lễ hội quy mô, trang trọng thu hút một lượng lớn số người tham gia, cho thấy được những ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong văn hóa tâm linh, trong đời sống tín ngưỡng của người dân nơi đây. - Các nghiên cứu dưới góc độ về giải mã biểu tượng Năm 1988, Nguyễn Duy Hinh trong bài nghiên cứu Đền Độc Cước dấu chân thần - biểu tượng Phật, tác giả khẳng định hình ảnh những dấu chân lạ này xuất hiện không chỉ có ở Việt Nam mà còn có ở nhiều nơi trên thế giới như ở Ấn Độ (phát hiện có dấu chân Phật ở Bảo tàng BomBay được khắc chìm trên một phiến đá), dấu chân được thờ ở Sri Lanca trên tháp Ruanweli Daagaba có niên đại thế kỉ I sau Công nguyên, còn có cả dấu chân của Civapada ở Campuchia [37; tr.

Đây là bài nghiên cứu công phu có giá trị về khoa học, bài viết cũng đã thu thập được một tư liệu có tới 22 dấu chân thần từ Bắc vào Nam, với việc nhận định tín ngưỡng thờ dấu chân Độc Cước có liên quan đến dấu chân Phật. Chúng tôi cũng tán đồng với ý kiến của tác giả, cho rằng có sự ảnh hưởng của Phật giáo hòa trộn với tín ngưỡng dân gian trong việc thờ dấu chân thần Độc Cước và dấu chân Phật. Phần này chúng tôi sẽ phân tích rõ ở chương 4, lớp văn hóa Phật giáo. Năm 1995, Nguyễn Mạnh Cường trong luận án Phó tiến sĩ Chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ pháp đã nhận định: Trong quá trình thu thập các nguồn tài liệu đã 19 công bố về chùa Dâu và Tứ Pháp mở ra cho chúng tôi một hướng nghiên cứu mới mà ít người quan tâm, đó là sự biến thể của Tứ Pháp sang thần Độc Cước [12; tr.

Cũng theo tác giả năm 2016, trong một bài nghiên cứu Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Dâu ngoài việc tìm hiểu sự hình thành và ảnh hưởng của Phật giáo đối với chùa Dâu, có nhắc đến chi tiết “Tương truyền nhà sư Khâu- Đà- La là một vị tinh thông pháp thuật, tu luyện giỏi với phép tu đứng một chân, nên ai ai cũng kính nể, tôn thờ” [141]. Ý kiến của tác giả đã gợi mở cho chúng tôi khi nghiên cứu truyện kể thần Độc Cước trong sự ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian thờ thần Độc Cước. Phần này trong quá trình triển khai chúng tôi sẽ có những nhận định dưới góc nhìn về sự phân tâm trong Phật giáo và phân thân trong thần Độc Cước ở chương 4. Năm 2003, Hoàng Minh Tường với bài viết Thử giải mã chiếc bè mảng của ngư dân Sầm Sơn, hình ảnh chiếc bè mảng của nhân dân Sầm Sơn trước kia để làm rõ các lớp văn hoá thông qua sự tiếp biến, giao thoa tục thờ thần Độc Cước [118; tr.

Từ những chiếc bè mảng đơn sơ nhưng đó là vật dụng, là phương tiện rất cần thiết của ngư dân trên vùng biển Sầm Sơn. Tác giả đã có những liên tưởng hình cong khum khum đầu của chiếc bè như hình mặt trăng, một hình tượng của thần Độc Cước. Phần này, chúng tôi sẽ bàn luận ở chương 3 về vai trò của thần Độc Cước trong ngư nghiệp, hình ảnh chiếc bè mảng Sầm Sơn một công cụ đắc lực của người đi biển. Năm 2008, trong bài viết Tản mạn về mặt trăng và thần Độc Cước qua tạo hình hai tác giả Quốc Vụ - Minh Khang đã đề cập đến câu chuyện chọi trâu ở Hải Phòng có liên tưởng đến mặt trăng, việc sùng bái mặt trăng không chỉ gắn với cư dân ven biển mà còn gắn với cư dân nông nghiệp [.

Ngoài ra còn cho biết: trong tạo hình, nhiều biểu tượng dưới dạng thiếu thốn của cơ thể đã được một số nhà nghiên cứu cho rằng, đó là biểu tượng của mặt trăng, (như Hổ phù là một trong những điển hình). Về hiện tượng nhân dạng thì nổi bật nhất là thần Độc Cước [132; tr. Bài viết này của tác giả, cũng đồng quan điểm với Hoàng Minh Tường [131] và chúng tôi cũng thống nhất với nhận xét của các nhà nghiên cứu là tín ngưỡng thờ mặt trăng có ảnh hưởng mật thiết đối với cư dân nông nghiệp, nhất là ngư dân về thủy triều, con nước. Phần này, chúng tôi sẽ có bàn luận ở chương 4, tín ngưỡng thờ mặt trăng.

20 Năm 2014, Đồng Ngọc Dưỡng trong bài viết Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Bắc Giang, đã nêu những địa danh thờ thần Độc Cước ở tỉnh Bắc Giang như Lạng Giang, Yên Dũng, Hiệp Hòa, Việt Yên và sưu tầm một câu chuyện về thần Độc Cước. Tác giả cho rằng tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Tiên Sơn- Việt Yên, cũng gắn với văn hoá vùng ven sông Cầu [144]. Tuy nhiên, đây bài viết dưới dạng tư liệu cung cấp những địa danh thờ thần Độc Cước trên vùng đất Bắc Giang. Năm 2015, Tạ Đức với bài viết Thánh Gióng nơi biển đảo cho rằng: Thần Độc Cước là thần Trăng, nhưng nguồn gốc và bản chất của thần lại là thần Trống - thần Chiến tranh - thần Bảo hộ dân tộc.

Ở vùng ven biển Thánh Gióng hóa thành thần Độc Cước; Thần Độc Cước chính là Thánh Gióng - thần Bảo vệ đất nước cho người Việt ở vùng ven biển [142].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về truyện kể dân gian thần độc cước ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam" của tác giả Lường Thế Anh, dưới sự hướng dẫn của GS. Vũ Anh Tuấn tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các truyện kể dân gian liên quan đến thần Độc Cước. Bài luận án không chỉ làm rõ nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa văn hóa của những câu chuyện này mà còn khám phá vai trò của chúng trong đời sống tinh thần của người dân ở hai vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Độc giả sẽ tìm thấy những hiểu biết sâu sắc về văn học dân gian Việt Nam, cũng như giá trị văn hóa và lịch sử mà những câu chuyện này mang lại.

Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ về nghiên cứu văn bia tại tỉnh Nam Định, nơi cũng đề cập đến các nghiên cứu văn học và di sản văn hóa, giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về lĩnh vực này. Những liên kết này sẽ mở ra cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau trong văn học dân gian và văn hóa Việt Nam.