Chương 1: Tổng quan các làng ven biển Thanh Hóa; Chương 2: Tục thờ thần Độc Cước qua truyền thuyết, thần tích, di tích và lễ hội; Chương 3: Nghiên cứu quá trình vận động và các lớp văn hóa tích hợp trong tục thờ thần Độc Cước; Chương 4: Tìm hiểu các giá trị và sự biến đổi của tục thờ thần Độc Cước ở Thanh Hóa hiện nay [122]. Nhìn chung, luận án này đã cung cấp bức tranh khái quát và tương đối toàn diện về thần Độc Cước dưới góc độ văn hóa học. Đồng thời, cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu về thần Độc Cước một cách quy mô, thông qua việc phân tích các lớp văn hóa từ tín ngưỡng bản địa đến ảnh hưởng của sự tiếp biến văn hóa, từ sự ảnh hưởng của các tôn giáo được tích hợp trong tục thờ thần Độc Cước. Tác giả đã thu thập được nhiều tư liệu từ việc điền dã, thống kê những điểm thờ, lễ hội về thần Độc Cước.
Tuy nhiên, vì luận án này thuộc chuyên ngành văn hóa học nên việc nghiên cứu dưới góc độ văn học đặc biệt là dân gian còn chưa được chú ý sâu như: nghiên cứu các motif, hình tượng, biểu tượng về thần Độc Cước dưới góc độ giải mã văn học từ mã văn hóa. Phần này trong quá trình triển khai chúng tôi sẽ bàn ở chương 3 các motif cơ bản và vai 17 trò của hình tượng thần Độc Cước trong truyện kể dân gian và chương 4 các dạng thức biểu hiện của tín ngưỡng và tôn giáo trong truyện kể về thần Độc Cước. Trong các năm tiếp theo từ năm 2011, Hoàng Minh Tường trong bài viết Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước - Sự tiếp biến giữa các yếu tố văn hóa bản địa và ngoại sinh đã đề cập đến tục thờ thần Độc Cước và sự tiếp biến với các tôn giáo ngoại lai, tạo nên sự phong phú và hấp dẫn trong tục thờ thần Độc Cước cho đến ngày nay [120]. Đến năm 2017, trong bài viết Tín ngưỡng và lễ hội thờ các vị thần biển, Hoàng Minh Tường lí giải tín ngưỡng thờ thần Độc Cước có liên quan đến chọi trâu, đến Phật giáo, mối quan hệ giữa thủy triều mặt trăng.Độc Cước là vị thần sông biển để thuyền bè ra khơi vào lộng thuận buồm xuôi gió, biển khơi cho dân chài nhiều tôm cá như ước nguyện của họ trong lễ hội cầu ngư [157].
Tác giả Hoàng Minh Tường đều có chung những nhận định về các giá trị văn hóa trong tục thờ thần Độc Cước và những ảnh hưởng văn hóa ngoại lai với sự tương tác giữa tín ngưỡng dân gian với thờ thần Độc Cước. Tuy nhiên, các bài viết trên vẫn chủ yếu là xoay quanh vấn đề nghiên văn hóa, tục thờ thần Độc Cước, tín ngưỡng dân gian qua lễ hội thần Độc Cước. Năm 2011, trong bài viết Chùa Non Xuân và pho tượng thần Độc Cước ở Hiệp Hòa - Bắc Giang, qua việc thờ thần Độc Cước ở chùa Non Xuân, tác giả Đồng Ngọc Dưỡng cung cấp thông tin: Tăng Già La Đồ Lê như một biểu tượng linh thiêng của phép tu đứng một chân, cho nên khi nói đến Độc Cước các nhà truyền giáo Ấn Độ đã mang trong hành trang của mình bàn chân đức Phật-một biểu tượng tâm linh Phật giáo lúc ấy vào Việt Nam trong đó có vùng đất Kinh Bắc-Bắc Giang [143]. Như vậy, ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trên đất Bắc Giang đã có sự tiếp xúc với tín ngưỡng thờ thần Độc Cước trong những ngôi chùa tại Bắc Giang.
Năm 2012, Võ Thị Hoàng Lan trong luận án tiến sĩ Tục thờ nước của người Việt ở châu thổ sông Hồng, bên cạnh việc đề cập đến một số vị thần biển, tác giả cho biết: thần Độc Cước được thờ ở vùng châu thổ ven sông Hồng là do chính các con thuyền buôn đã đưa thần Độc Cước đến các vùng trung du khi ngài trở thành thần phù hộ cho tầng lớp thương nhân [64]. Nhận xét của tác giả cũng trùng hợp với ý kiến của Đồng Ngọc Dưỡng, trong bài Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Bắc Giang [144] cho là có thể tín ngưỡng thờ thần Độc Cước đã theo các thương thuyền đi sâu 18 vào đất liền, men theo các dòng sông, dòng suối lan tỏa sâu vào nội địa. Chúng tôi cũng đồng ý với ý kiến của các tác giả là theo thời gian, theo dòng chảy lịch sử, sự di dân từ miền núi tiến xuống miền biển. Hàng bao đời nay, cha ông ta đã đi khai phá, giao lưu văn hóa ở các vùng miền của đất nước, cũng có thể dân từ miền biển, từ các thương thuyền (thuyền buôn, thuyền đánh cá.) dọc theo dòng sông tiến lên miền ngược; các nhà truyền giáo, các thầy mo, thầy địa lí cũng theo cư dân di cư từ miền ven biển đến vùng kinh tế mới, khi đi mang theo tín ngưỡng bản địa hoặc có thể rước chân nhang để sáng tạo thêm những nét mới trong không gian văn hóa thờ thần Độc Cước.
Năm 2014, Lê Huy Trâm và Hoàng Anh Nhân trong cuốn Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh, Quyển 2, đã đề cập tới thần tích và tế lễ, hội hè đền Độc Cước ở Sầm Sơn [109]. Tuy nhiên, cuốn sách này chủ yếu là tư liệu, điểm qua một số lễ hội truyền thống xứ Thanh trong đó có lễ hội thần Độc Cước. Như vậy, dưới góc nhìn tín ngưỡng, lễ hội các tác giả đã cung cấp một bức tranh toàn vẹn về thần Độc Cước, với lễ hội quy mô, trang trọng thu hút một lượng lớn số người tham gia, cho thấy được những ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong văn hóa tâm linh, trong đời sống tín ngưỡng của người dân nơi đây. - Các nghiên cứu dưới góc độ về giải mã biểu tượng Năm 1988, Nguyễn Duy Hinh trong bài nghiên cứu Đền Độc Cước dấu chân thần - biểu tượng Phật, tác giả khẳng định hình ảnh những dấu chân lạ này xuất hiện không chỉ có ở Việt Nam mà còn có ở nhiều nơi trên thế giới như ở Ấn Độ (phát hiện có dấu chân Phật ở Bảo tàng BomBay được khắc chìm trên một phiến đá), dấu chân được thờ ở Sri Lanca trên tháp Ruanweli Daagaba có niên đại thế kỉ I sau Công nguyên, còn có cả dấu chân của Civapada ở Campuchia [37; tr.
Đây là bài nghiên cứu công phu có giá trị về khoa học, bài viết cũng đã thu thập được một tư liệu có tới 22 dấu chân thần từ Bắc vào Nam, với việc nhận định tín ngưỡng thờ dấu chân Độc Cước có liên quan đến dấu chân Phật. Chúng tôi cũng tán đồng với ý kiến của tác giả, cho rằng có sự ảnh hưởng của Phật giáo hòa trộn với tín ngưỡng dân gian trong việc thờ dấu chân thần Độc Cước và dấu chân Phật. Phần này chúng tôi sẽ phân tích rõ ở chương 4, lớp văn hóa Phật giáo. Năm 1995, Nguyễn Mạnh Cường trong luận án Phó tiến sĩ Chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ pháp đã nhận định: Trong quá trình thu thập các nguồn tài liệu đã 19 công bố về chùa Dâu và Tứ Pháp mở ra cho chúng tôi một hướng nghiên cứu mới mà ít người quan tâm, đó là sự biến thể của Tứ Pháp sang thần Độc Cước [12; tr.
Cũng theo tác giả năm 2016, trong một bài nghiên cứu Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Dâu ngoài việc tìm hiểu sự hình thành và ảnh hưởng của Phật giáo đối với chùa Dâu, có nhắc đến chi tiết “Tương truyền nhà sư Khâu- Đà- La là một vị tinh thông pháp thuật, tu luyện giỏi với phép tu đứng một chân, nên ai ai cũng kính nể, tôn thờ” [141]. Ý kiến của tác giả đã gợi mở cho chúng tôi khi nghiên cứu truyện kể thần Độc Cước trong sự ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian thờ thần Độc Cước. Phần này trong quá trình triển khai chúng tôi sẽ có những nhận định dưới góc nhìn về sự phân tâm trong Phật giáo và phân thân trong thần Độc Cước ở chương 4. Năm 2003, Hoàng Minh Tường với bài viết Thử giải mã chiếc bè mảng của ngư dân Sầm Sơn, hình ảnh chiếc bè mảng của nhân dân Sầm Sơn trước kia để làm rõ các lớp văn hoá thông qua sự tiếp biến, giao thoa tục thờ thần Độc Cước [118; tr.
Từ những chiếc bè mảng đơn sơ nhưng đó là vật dụng, là phương tiện rất cần thiết của ngư dân trên vùng biển Sầm Sơn. Tác giả đã có những liên tưởng hình cong khum khum đầu của chiếc bè như hình mặt trăng, một hình tượng của thần Độc Cước. Phần này, chúng tôi sẽ bàn luận ở chương 3 về vai trò của thần Độc Cước trong ngư nghiệp, hình ảnh chiếc bè mảng Sầm Sơn một công cụ đắc lực của người đi biển. Năm 2008, trong bài viết Tản mạn về mặt trăng và thần Độc Cước qua tạo hình hai tác giả Quốc Vụ - Minh Khang đã đề cập đến câu chuyện chọi trâu ở Hải Phòng có liên tưởng đến mặt trăng, việc sùng bái mặt trăng không chỉ gắn với cư dân ven biển mà còn gắn với cư dân nông nghiệp [.
Ngoài ra còn cho biết: trong tạo hình, nhiều biểu tượng dưới dạng thiếu thốn của cơ thể đã được một số nhà nghiên cứu cho rằng, đó là biểu tượng của mặt trăng, (như Hổ phù là một trong những điển hình). Về hiện tượng nhân dạng thì nổi bật nhất là thần Độc Cước [132; tr. Bài viết này của tác giả, cũng đồng quan điểm với Hoàng Minh Tường [131] và chúng tôi cũng thống nhất với nhận xét của các nhà nghiên cứu là tín ngưỡng thờ mặt trăng có ảnh hưởng mật thiết đối với cư dân nông nghiệp, nhất là ngư dân về thủy triều, con nước. Phần này, chúng tôi sẽ có bàn luận ở chương 4, tín ngưỡng thờ mặt trăng.
20 Năm 2014, Đồng Ngọc Dưỡng trong bài viết Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Bắc Giang, đã nêu những địa danh thờ thần Độc Cước ở tỉnh Bắc Giang như Lạng Giang, Yên Dũng, Hiệp Hòa, Việt Yên và sưu tầm một câu chuyện về thần Độc Cước. Tác giả cho rằng tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Tiên Sơn- Việt Yên, cũng gắn với văn hoá vùng ven sông Cầu [144]. Tuy nhiên, đây bài viết dưới dạng tư liệu cung cấp những địa danh thờ thần Độc Cước trên vùng đất Bắc Giang. Năm 2015, Tạ Đức với bài viết Thánh Gióng nơi biển đảo cho rằng: Thần Độc Cước là thần Trăng, nhưng nguồn gốc và bản chất của thần lại là thần Trống - thần Chiến tranh - thần Bảo hộ dân tộc.
Ở vùng ven biển Thánh Gióng hóa thành thần Độc Cước; Thần Độc Cước chính là Thánh Gióng - thần Bảo vệ đất nước cho người Việt ở vùng ven biển [142].