Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Quỳnh Như thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thành Thi.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định hồi ký và tự truyện là hai thể loại văn xuôi tự sự có vị trí đặc biệt trong tiến trình văn học Việt Nam. Dù cùng chung đặc trưng hồi cố để tái hiện quá khứ, hai thể loại này có mô chuẩn nghệ thuật khác biệt: truyện cho phép hư cấu tạo lập hình tượng hoàn chỉnh, trong khi hồi ký đòi hỏi tính chính xác của sự kiện và sự khách quan của người viết. Từ cuối thập niên 1990 sang đầu thế kỷ XXI, đời sống văn học chứng kiến sự xuất hiện phong phú của các tác phẩm hồi ký, tự truyện từ nhiều giới tác giả, tái hiện quá khứ phức tạp bằng cái nhìn đa chiều và khoan dung hơn. Tuy nhiên, các công trình trước đây phần lớn tiếp cận đối tượng này theo phương pháp phản ánh luận truyền thống hoặc thi pháp học kinh điển. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là sự cần thiết của một mô hình tiếp cận mới từ lý thuyết diễn ngôn, xem ngôn ngữ không chỉ là công cụ phản ánh hiện thực mà là phương thức kiến tạo ý nghĩa, đồng thời đặt tác phẩm vào mạng lưới các quy tắc tư tưởng và định chế văn hóa - xã hội chi phối quá trình sáng tác.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm các nội dung:

  1. Tìm hiểu sự chi phối của mã thể loại đối với diễn ngôn hồi ký, tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại theo cơ chế tác động kép: vừa tuân thủ yêu cầu đặc trưng nòng cốt thể loại, vừa mở rộng phạm vi phản ánh nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật mới.
  2. Xác định nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm thông qua việc phân tích mã tư tưởng và mã nghệ thuật của thể loại.
  3. Chỉ ra những khuynh hướng, sắc thái chủ đạo trong diễn ngôn hồi ký, tự truyện, làm rõ đóng góp của hai thể loại này đối với nền văn học dân tộc, cung cấp tư liệu cho công tác nghiên cứu và giảng dạy.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hồi ký và tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại nhìn từ góc độ diễn ngôn thể loại. Phạm vi nghiên cứu được xác lập thông qua hệ thống 4 tiêu chí chọn mẫu khảo sát:

Tiêu chí Nội dung xác lập phạm vi
1. Về thể loại Tác phẩm có giá trị nghệ thuật, phản ánh rõ tư duy thể loại. Thể hồi ký tập trung vào tác phẩm tái hiện người thật, việc thật mang tính phi hư cấu cao mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến. Thể tự truyện tập trung vào tác phẩm văn xuôi tự thuật về cuộc đời, nơi tác giả - người kể chuyện - nhân vật chính trùng làm một, trọng tâm là sự hình thành nhân cách và cốt truyện có tính xác thực tương đối.
2. Về tác giả Tập trung vào hồi ký, tự truyện của các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận, phê bình văn học chuyên nghiệp (như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Lan Khai, Hồ Dzếnh, Vũ Bằng, Ma Văn Kháng, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Khải, Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Anh Thơ, Quách Tấn, Hoàng Minh Châu, Phùng Quán, Nguyễn Công Hoan, Đào Xuân Quý, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Hiến Lê...). Không khảo sát tác phẩm của chính trị gia, tướng lĩnh, nhà báo, người hoạt động giải trí hay cá nhân đặt hàng chấp bút.
3. Về tác phẩm Tác phẩm có giá trị thẩm mỹ, gây được tiếng vang trong dư luận và giới phê bình, được xuất bản chính thức trong nước. Không khảo sát tác phẩm xuất bản tại hải ngoại hoặc chỉ công bố trên mạng internet.
4. Về bối cảnh Tác phẩm tiêu biểu cho ba chặng đường lịch sử văn học: giai đoạn 1900 - 1945, giai đoạn 1945 - 1975 và giai đoạn sau năm 1975.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan toàn diện tình hình nghiên cứu trên hai bình diện: lý thuyết diễn ngôn và thực tiễn nghiên cứu hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam.

Về tình hình nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn, luận án điểm lại các mốc phát triển lý thuyết trên thế giới từ giữa thế kỷ XX với các công trình của M. Bakhtin (Mấy vấn đề về thi pháp Dostoievski), T. van Dijk (Handbook of Language and Social Psychology), R. Barthes (Độ không của lối viết, Những huyền thoại), G. Gadamer (Chân lý và phương pháp), M. Foucault (Từ ngữ và các vật, Khảo cổ học tri thức, Trật tự diễn ngôn), Tz. Todorov (Dẫn luận văn chương kì ảo, Thi pháp văn xuôi), G. Genette (Diễn ngôn tự sự), David Nunan (Dẫn nhập phân tích diễn ngôn), G. Brown và G. Yule (Phân tích diễn ngôn), M. Halliday (Dẫn luận ngữ pháp chức năng), O. Rusakov (Các lý thuyết diễn ngôn hiện đại: kinh nghiệm phân loại), M. Jorgensen và L. Phillips. Tại Việt Nam, hướng tiếp cận ngôn ngữ học có các công trình của Diệp Quang Ban (Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản), Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học), Nguyễn Hòa (Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lý luận và phương pháp, Bàn về mạch lạc của diễn ngôn). Trong nghiên cứu văn học, các tác giả tiêu biểu gồm Phương Lựu (Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại), Trần Đình Sử (Bản chất xã hội thẩm mỹ của diễn ngôn văn học, Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay), Nguyễn Mạnh Quỳnh (nghiên cứu về diễn ngôn tự sự của G. Genette), Nguyễn Thị Ngọc Minh (Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn).

Về việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào văn học Việt Nam, luận án điểm qua các nghiên cứu chuyên biệt: nghiên cứu diễn ngôn hậu thực dân của Nguyễn Thị Ngọc Minh (2011); diễn ngôn tính dục và thi pháp nhân vật của Trần Văn Toàn (2012); diễn ngôn hội thoại và độc thoại nội tâm của Nguyễn Thị Thu Hằng (2013); diễn ngôn trần thuật của Nguyễn Đăng Vy (2013), Hoàng Tố Mai (2013), Thái Thị Thu Thắm (2015); quy ước diễn ngôn của Trần Thiện Khanh (2010); diễn ngôn lịch sử của Nguyễn Văn Hùng (2016); diễn ngôn thân thể của Hoàng Thị Hường (2019). Ở cấp độ luận văn, luận án có: Nguyễn Thị Hải Phương (2012) về tiểu thuyết đương đại nhìn từ diễn ngôn thế tục và chấn thương; Hoàng Thị Thu Giang (2014) về trường diễn ngôn truyện ngắn 1945 - 1975; Ngô Thanh Hải (2018) về ba mô hình truyện lịch sử.

Về tình hình nghiên cứu hồi ký và tự truyện, luận án phân tích các công trình tổng quan văn học sử của Nguyễn Văn Long (2007), Hà Minh Đức (1980, 1996, 1998), Bích Thu (2004), Lý Hoài Thu (2006), Nguyễn Phượng (2008). Bàn về ranh giới thể loại tự truyện, tiểu thuyết và ký có các bài viết của Triệu Xuân (2006), Lê Tú Anh (2010, 2013), Đỗ Hải Ninh (2011, 2012), cùng các luận án, luận văn chuyên đề của Phạm Ngọc Lan (2006), Ngô Thị Ngọc Diệp (2013), Nguyễn Quang Hưng (2016), Trần Thị Mai Phương (2017), Nguyễn Văn Tổng (2019), Lê Thị Nhiên (2019). Về từng tác giả cụ thể, các nghiên cứu tập trung vào Tô Hoài với Cát bụi chân ai và Chiều chiều (Đặng Thị Hạnh, Phong Lê, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Hiền, Đoàn Thị Thúy Hạnh, Nguyễn Thúy Nga, Dương Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Ái Vân); Vũ Bằng với Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo (Hoàng Như Mai, Đặng Anh Đào, Vũ Xuân Triệu, Văn Giá); Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu (Nguyễn Đăng Điệp, Hà Minh Đức, Vũ Ngọc Phan, Lê Thị Lan); Nguyễn Khải với Thượng đế thì cười (Nguyễn Đăng Mạnh, Đặng Anh Đào, Vương Trí Nhàn); Ma Văn Kháng với Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Lê Thị Kim Liên); Anh Thơ (Lê Thị Nguyên, Bùi Thị Luyến).

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình trước đây chưa nghiên cứu hồi ký, tự truyện một cách hệ thống theo loại hình diễn ngôn. Hai công trình gần nhất là luận án của Nguyễn Thị Ngọc Minh (2013, Ký như một loại hình diễn ngôn) và luận văn của Nguyễn Thị Thu Thủy (2014, Tự truyện, Hồi ký - Tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài từ góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật). Luận án của Nguyễn Thị Quỳnh Như trực tiếp kế thừa và mở rộng phạm vi khi xác lập hệ thống phân tích toàn diện hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam dựa trên cấu trúc lưỡng phân: mã tư tưởng và mã nghệ thuật của thể loại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba hướng tiếp cận khái niệm diễn ngôn, lý thuyết thể loại và khái niệm mã thông tin:

  1. Tiếp cận diễn ngôn theo cấu trúc ngôn từ tĩnh (ngôn ngữ học cấu trúc của F. de Saussure, thi pháp học cấu trúc của Tz. Todorov, G. Genette, R. Barthes).
  2. Tiếp cận diễn ngôn như lời nói phong cách hóa mang tính tư tưởng hệ (quan điểm của M. Bakhtin và V. Chiupa).
  3. Tiếp cận diễn ngôn như sản phẩm kiến tạo từ các định chế xã hội gắn liền với quyền lực, tri thức và chân lý (quan điểm của M. Foucault).
  4. Khái niệm mã thể loại: Mượn thuật ngữ "mã" (code) từ lý thuyết thông tin để chỉ hệ thống quy ước thể loại, bao gồm mã tư tưởng (quy ước về cách nhận thức và tái hiện "sự thật") và mã nghệ thuật (các phương thức tổ chức trần thuật, kết cấu, điểm nhìn, giọng điệu).
  5. Quan niệm thể loại và tương tác thể loại: Dựa trên hiệp ước tự thuật của Philippe Lejeune, các luận điểm của V. Belinsky, cùng lý thuyết tương tác thể loại của Nguyễn Thành Thi (Văn học thế giới mở).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm các phương pháp định tính và kỹ thuật thao tác văn bản:

  • Phương pháp loại hình: Xác định những quy ước nghệ thuật của loại hình văn xuôi tự sự và đặc trưng riêng của thể hồi ký, tự truyện chi phối quá trình kiến tạo diễn ngôn.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đặt tác phẩm vào môi trường văn hóa, bối cảnh lịch sử - xã hội và cơ chế quyền lực chi phối chiến lược tạo lập diễn ngôn.
  • Phương pháp hệ thống: Xem xét sự vận động của thể loại trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, lý giải sự biến đổi mã thể loại qua từng giai đoạn.
  • Phương pháp so sánh: So sánh tác phẩm của các tác giả trên cùng trục chủ đề hoặc thời điểm sáng tác; đối chiếu khung thể loại giữa hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự thuật.
  • Kỹ thuật bổ trợ: Chọn mẫu, phân tích mẫu văn bản, tổng hợp, chứng minh và bình luận văn học.

Nguồn dữ liệu khảo sát là hệ thống các văn bản hồi ký, tự truyện của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình Việt Nam qua ba giai đoạn (1900 - 1945, 1945 - 1975, sau 1975) được xuất bản chính thức trong nước.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn trên thế giới và quá trình tiếp nhận, vận dụng tại Việt Nam trong hai phân ngành ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học. Đồng thời, chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu về thể loại hồi ký, tự truyện tại Việt Nam từ góc độ văn học sử, lý thuyết thể loại và các nghiên cứu trường hợp tác giả tiêu biểu (Tô Hoài, Vũ Bằng, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Anh Thơ...). Từ việc chỉ ra những thành tựu và hạn chế của các công trình đi trước, tác giả xác lập vị trí khoa học và tính cấp thiết của việc nghiên cứu hồi ký, tự truyện dưới góc nhìn diễn ngôn thể loại.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN THỂ LOẠI

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết và bức tranh thực tiễn cho đề tài.

  • Về lý luận thể loại: Phân định ranh giới và đặc trưng giữa hồi ký và tự truyện; phân tích hiện tượng tương tác thể loại dẫn đến các dạng thức giáp ranh như hồi ký - tự truyện hay tiểu thuyết tự truyện; làm rõ khái niệm hiệp ước tự thuật của Philippe Lejeune và quan niệm thể loại của Nguyễn Thành Thi, Huỳnh Như Phương.
  • Về cơ sở thực tiễn: Khái quát tiến trình vận động của hồi ký, tự truyện Việt Nam qua ba giai đoạn lịch sử (1900 - 1945, 1945 - 1975, sau 1975).
  • Về quan điểm diễn ngôn: Luận giải nhận thức về "sự thật", "chân lý" và lằn ranh giữa "phi hư cấu" và "hư cấu", từ đó xác lập mô hình nghiên cứu của luận án dựa trên hai trục chính: mã tư tưởng và mã nghệ thuật của thể loại.

CHƯƠNG 3: HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ MÃ TƯ TƯỞNG CỦA THỂ LOẠI

Chương 3 đi sâu khảo sát sự chi phối của mã tư tưởng - hạt nhân là quan niệm về "sự thật" - trong việc định hình diễn ngôn hồi ký, tự truyện:

  • Hình tượng cái tôi tác giả - người kể chuyện: Phân tích các chiều kích biểu hiện của chủ thể trần thuật gồm cái tôi chứng nhân về sự thật quá khứ; cái tôi hồi tưởng về tuổi thơ và quan hệ gia đình; cái tôi tự thú, tự đánh giá về bản thân; cái tôi tài năng và tâm huyết với nghề văn.
  • Bức tranh thời đại và con người qua dòng hồi tưởng: Tái hiện bức tranh đời sống xã hội qua các biến thiên lịch sử và khắc họa thế giới chân dung bạn bè văn nghệ.
  • Khác biệt về mã tư tưởng giữa hai thể loại: Luận án chỉ ra sự khác biệt bản chất khi thể hồi ký hướng đến "sự thật ngoại quan" (chú trọng tính xác thực của sự kiện, bối cảnh lịch sử khách quan bên ngoài), trong khi thể tự truyện tập trung vào "sự thật nội quan" (lịch sử tâm hồn, nhận thức và sự hình thành nhân cách cá nhân).

CHƯƠNG 4: HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ MÃ NGHỆ THUẬT CỦA THỂ LOẠI

Chương 4 tập trung phân tích các phương thức tổ chức nghệ thuật kiến tạo diễn ngôn:

  • Điểm nhìn trần thuật: Khảo sát ưu thế và xu hướng đa dạng hóa điểm nhìn chủ quan của người kể chuyện ngôi thứ nhất, cùng sự xuất hiện của điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ ba (ngôi "hắn").
  • Kết cấu diễn ngôn: Phân tích sự linh hoạt của các mô hình tổ chức văn bản gồm kết cấu theo trật tự biên niên, kết cấu phân mảnh và kết cấu đan cài các tuyến truyện.
  • Giọng điệu nghệ thuật: Chỉ ra sự phong phú của hệ thống giọng điệu trong tác phẩm, nổi bật với giọng trữ tình hoài niệm; giọng suy tư triết lý; giọng hài hước, giễu nhại.
  • Xu hướng giao thoa giữa phi hư cấu và hư cấu: Phân tích lực hút hai chiều giữa hồi ký và tự truyện, làm rõ xu hướng "hư cấu hóa" trong hồi ký và xu hướng "phi hư cấu hóa" trong tự truyện.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới của luận án được xác định cụ thể trên hai phương diện:

  • Về mặt lý luận: Luận án áp dụng cách tiếp cận từ góc độ diễn ngôn thể loại vào việc nghiên cứu hồi ký, tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại. Việc đề xuất khung phân tích dựa trên sự tương tác giữa mã tư tưởng (sự thật ngoại quan và nội quan) và mã nghệ thuật (điểm nhìn, kết cấu, giọng điệu, mức độ hư cấu) cung cấp một mô hình lý thuyết bổ sung cho các phương pháp nghiên cứu thể loại truyền thống.
  • Về mặt thực tiễn: Thông qua khảo sát hệ thống tác phẩm của giới văn nghệ sĩ qua các thời kỳ, luận án chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong phong cách thể loại của hồi ký, tự truyện Việt Nam hiện đại; phân tích sự vận động của cái tôi trần thuật, sự đa dạng của kết cấu và giọng điệu cũng như xu hướng xóa mờ ranh giới giữa hư cấu và phi hư cấu trong thực tiễn sáng tác.
  • Kiến nghị và ứng dụng: Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp nguồn tư liệu và khung tham chiếu học thuật phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu chuyên sâu về lý luận văn học, phê bình văn học và giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại trong hệ thống giáo dục các cấp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở các tác phẩm hồi ký, tự truyện của giới nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học được xuất bản chính thức trong nước thuộc ba giai đoạn (1900 - 1945, 1945 - 1975, sau 1975); chưa bao quát mảng hồi ký, tự truyện của các nhóm tác giả ngoài văn giới (chính trị gia, tướng lĩnh, nhà báo, nghệ sĩ biểu diễn) cũng như các tác phẩm xuất bản ở hải ngoại hoặc công bố trên mạng internet.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mô hình phân tích diễn ngôn thể loại sang các loại hình hồi ký, tự truyện chuyên ngành khác, hoặc so sánh đối chiếu diễn ngôn tự thuật của văn học Việt Nam với văn học khu vực và thế giới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo phù hợp cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học: Tham khảo khung lý thuyết diễn ngôn ứng dụng trong phân tích thể loại tự sự, đặc biệt là các chương phân tích về điểm nhìn, giọng điệu và kết cấu diễn ngôn.
  • Giảng viên Ngữ văn tại các trường đại học và phổ thông: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các chuyên đề về văn học Việt Nam hiện đại, tiến trình phát triển của thể loại ký và tự truyện.
  • Nhà nghiên cứu, phê bình văn học: Tham khảo cách tiếp cận phân định ranh giới giữa sự thật lịch sử và sự thật nghệ thuật, giữa hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đặt ra những tiêu chí nào để lựa chọn mẫu khảo sát hồi ký và tự truyện? Luận án xác lập 4 tiêu chí cụ thể: (1) Tiêu chí thể loại (hồi ký tôn trọng tính phi hư cấu và sự thật khách quan; tự truyện tập trung vào sự hình thành nhân cách với tính xác thực tương đối); (2) Tiêu chí tác giả (chỉ khảo sát sáng tác của nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp); (3) Tiêu chí tác phẩm (tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, gây tiếng vang và được xuất bản chính thức trong nước); (4) Tiêu chí bối cảnh (bao quát ba giai đoạn: 1900 - 1945, 1945 - 1975 và sau 1975).

2. Luận án phân biệt mã tư tưởng - "sự thật" giữa hồi ký và tự truyện như thế nào? Luận án phân định "sự thật" trong hồi ký là "sự thật ngoại quan", hướng tới việc ghi chép khách quan, chính xác các biến cố, bối cảnh lịch sử và nhân vật đời thực mà tác giả chứng kiến hoặc tham gia. Ngược lại, "sự thật" trong tự truyện là "sự thật nội quan", tập trung vào lịch sử tâm hồn, những suy nghiệm chủ quan và quá trình hình thành, biến đổi nhân cách của chính cái tôi tác giả.

3. Khung lý thuyết diễn ngôn được luận án vận dụng dựa trên những nguồn tiếp cận nào? Khung lý thuyết diễn ngôn của luận án dựa trên ba nguồn tiếp cận chính: tiếp cận cấu trúc ngôn từ tĩnh của ngôn ngữ học (F. de Saussure, G. Genette, Tz. Todorov); tiếp cận lời nói mang tính tư tưởng hệ và thể loại lời nói (M. Bakhtin, V. Chiupa); tiếp cận diễn ngôn gắn liền với định chế xã hội, quyền lực và tri thức (M. Foucault). Đồng thời, tác giả kết hợp khái niệm mã từ lý thuyết thông tin và hiệp ước tự thuật của Philippe Lejeune.

4. Mã nghệ thuật của hồi ký, tự truyện được luận án phân tích qua những phương diện nào? Mã nghệ thuật được khảo sát qua bốn khía cạnh: (1) Điểm nhìn trần thuật (ngôi thứ nhất chủ quan, xu hướng đa dạng hóa góc nhìn và điểm nhìn ngôi thứ ba); (2) Kết cấu diễn ngôn (kết cấu biên niên, kết cấu phân mảnh, kết cấu đan cài tuyến truyện); (3) Giọng điệu (giọng trữ tình hoài niệm, giọng suy tư triết lý, giọng hài hước giễu nhại); (4) Xu hướng giao thoa (hư cấu hóa trong hồi ký và phi hư cấu hóa trong tự truyện).

5. Luận án lý giải thế nào về hiện tượng các tác phẩm nằm ở lằn ranh giữa hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết? Luận án nhận định các mô chuẩn thể loại luôn có tính quy ước tương đối và luôn vận động. Sự tương tác thể loại tạo ra các dạng thức giáp ranh như "hồi ký - tự truyện" hoặc "tiểu thuyết tự truyện". Việc phân định phụ thuộc vào hợp đồng tiếp nhận và nhu cầu quy chiếu: nếu tác phẩm đề cao vai trò của chủ thể thực, soi rọi nội tâm và lịch sử nhân cách có khả năng quy chiếu với cuộc đời tác giả thì tác phẩm đáp ứng đặc trưng của tự truyện, dù có sử dụng các thủ pháp tổ chức của tiểu thuyết.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Quỳnh Như là công trình nghiên cứu hệ thống về thể loại hồi ký và tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại dưới lăng kính lý thuyết diễn ngôn. Bằng việc xây dựng mô hình phân tích dựa trên sự kết hợp giữa mã tư tưởng ("sự thật ngoại quan" và "sự thật nội quan") và mã nghệ thuật (điểm nhìn, kết cấu, giọng điệu, sự tương tác hư cấu - phi hư cấu), tác giả đã làm rõ quy luật vận động và phong cách thể loại của các sáng tác tự thuật của giới văn nghệ sĩ Việt Nam qua các chặng đường lịch sử. Công trình đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho công tác nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học trong nhà trường.