Nghiên Cứu Hồi Ký Tự Truyện Hiện Đại Việt Nam Từ Góc Nhìn Diễn Ngôn Thể Loại

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại, khám phá đặc trưng nghệ thuật, giá trị văn học đương đại.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
210
13
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam

1.1.1. Nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn

1.2. Nghiên cứu việc vận dụng diễn ngôn vào văn học Việt Nam

1.3. Tình hình nghiên cứu hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam

1.4. Nghiên cứu mang tính tổng quan

1.5. Nghiên cứu về tác giả, tác phẩm hồi ký, tự truyện tiêu biểu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN THỂ LOẠI

2.1. Một số vấn đề thể loại

2.2. Quan điểm nghiên cứu loại hình và các phương pháp truyền thống trong việc phân loại tác phẩm văn học

2.3. Quan điểm nghiên cứu văn học và thể loại văn học từ góc nhìn diễn ngôn

2.4. Cơ sở thực tiễn

2.4.1. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945

2.4.2. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

2.4.3. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn sau 1975

2.5. Quan điểm nghiên cứu hồi ký, tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn

2.6. Nhận thức về “sự thật”, “chân lý” trong hồi ký, tự truyện

2.7. Lằn ranh “phi hư cấu” - “hư cấu” trong hồi ký, tự truyện

2.8. Định hướng xác lập mô hình nghiên cứu của luận án

3. CHƯƠNG 3: HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ MÃ TƯ TƯỞNG CỦA THỂ LOẠI

3.1. Cái tôi tác giả - người kể chuyện: cái tôi chứng nhân về “sự thật” của quá khứ

3.2. Cái tôi hồi tưởng về tuổi thơ và các mối quan hệ gia đình

3.3. Cái tôi tự thú, đánh giá về chính mình

3.4. Cái tôi tài năng, tâm huyết với nghề

3.5. Bức tranh thời đại và bức chân dung về con người qua dòng hồi tưởng

3.6. Bức tranh đời sống xã hội trong quá khứ qua những biến thiên lịch sử

3.7. Những bức vẽ chân dung bằng hữu qua hồi tưởng

3.8. Một số biểu hiện khác biệt về mã tư tưởng - “sự thật” giữa hồi ký và tự truyện

3.9. “Sự thật” trong thể hồi ký - sự thật “ngoại quan”

3.10. “Sự thật” trong thể tự truyện - sự thật “nội quan”

4. CHƯƠNG 4: HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ MÃ NGHỆ THUẬT CỦA THỂ LOẠI

4.1. Điểm nhìn trần thuật đa dạng trong cấu trúc diễn ngôn hồi ký, tự truyện

4.2. Ưu thế của điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ nhất

4.3. Xu hướng đa dạng hóa góc nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất

4.4. Điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ ba

4.5. Kết cấu linh hoạt trong diễn ngôn hồi ký, tự truyện

4.5.1. Kết cấu theo trật tự biên niên

4.5.2. Kết cấu phân mảnh

4.5.3. Kết cấu đan cài tuyến truyện

4.6. Sự phong phú về giọng điệu trong kiến tạo diễn ngôn

4.6.1. Giọng trữ tình, hoài niệm

4.6.2. Giọng suy tư, triết lý

4.6.3. Giọng hài hước, giễu nhại

4.7. Xu hướng giao thoa giữa phi hư cấu và hư cấu trong hồi ký, tự truyện

4.7.1. Lực hút từ hai phía hồi ký, tự truyện

4.7.2. Xu hướng “hư cấu hóa” trong hồi ký

4.7.3. Xu hướng “phi hư cấu hóa” trong tự truyện

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hồi ký và tự truyện

Hồi ký và tự truyện là hai thể loại văn học có giá trị đặc biệt trong bức tranh văn học Việt Nam hiện đại. Chúng không chỉ mang tính hồi cố mà còn thể hiện những trải nghiệm cá nhân sâu sắc của tác giả. Hồi ký thường yêu cầu độ chính xác cao về sự kiện, trong khi tự truyện cho phép tác giả hư cấu để tạo nên hình tượng nhân vật. Sự tương tác giữa hai thể loại này tạo ra những cách nhìn mới về quá khứ, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và văn hóa. Đặc biệt, trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của hồi ký và tự truyện đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu thú vị cho các nhà văn, nhà phê bình và độc giả. Như nhà văn Tô Hoài đã từng nói: "Hồi ký không chỉ là ghi chép mà còn là nghệ thuật kể chuyện". Điều này cho thấy sự phong phú và đa dạng trong diễn ngôn của hai thể loại này.

II. Cơ sở lý luận về diễn ngôn thể loại

Nghiên cứu hồi ký và tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn thể loại giúp xác định rõ hơn nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. Các mã thể loại không chỉ quy định các yêu cầu nghệ thuật mà còn mở rộng phạm vi phản ánh của tác giả. Việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại là một cách tiếp cận mới mẻ và đầy triển vọng. Điều này cho phép người nghiên cứu không chỉ xem xét ngôn từ mà còn các quy tắc tư tưởng, xã hội chi phối quá trình sáng tác. Như vậy, hồi ký và tự truyện không chỉ đơn thuần là những tác phẩm văn học mà còn là những sản phẩm văn hóa phản ánh sâu sắc bối cảnh xã hội và lịch sử. Điều này được thể hiện qua những tác phẩm tiêu biểu như "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh, nơi tác giả không chỉ ghi lại những trải nghiệm cá nhân mà còn phản ánh tinh thần yêu nước và khát vọng tự do.

III. Tình hình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết diễn ngôn để phân tích các tác phẩm văn học, từ đó mở ra những hướng đi mới trong nghiên cứu văn học. Nghiên cứu diễn ngôn không chỉ dừng lại ở việc phân tích ngôn từ mà còn đi sâu vào các yếu tố văn hóa, xã hội, lịch sử chi phối quá trình sáng tác. Những công trình như "Diễn ngôn tự sự" của G. Genette đã góp phần làm phong phú thêm lý thuyết diễn ngôn trong văn học. Như vậy, việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu hồi ký và tự truyện không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh văn học hiện đại.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu hồi ký và tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn thể loại không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy văn học tại các trường học, giúp sinh viên hiểu sâu hơn về thể loại này. Đồng thời, việc nghiên cứu còn góp phần làm sáng tỏ bản chất của diễn ngôn, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy văn học. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà văn học đang phải đối mặt với nhiều thách thức từ sự phát triển của công nghệ và văn hóa toàn cầu. Như nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên đã nhận định: "Nghiên cứu văn học không chỉ là việc tìm hiểu quá khứ mà còn là cách để định hình tương lai".

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu ký như một hình thức diễn ngôn, một sự kiến tạo văn bản và kiến tạo sự thật dựa trên mã thể loại và mã tư tưởng hệ. Bên cạnh đó, tác giả phân tích văn học ký Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 như một lát cắt lịch sử để làm sáng tỏ các vấn đề lý thuyết. Luận án Truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 như một trường diễn ngôn (2014) của Hoàng Thị Thu Giang đã tìm hiểu trường diễn ngôn truyện ngắn 1945 - 1975 với các bộ phận tâm và biên của nó, từ đó xác lập quan niệm và nhận thức về diễn ngôn, trường diễn ngôn văn học, trường diễn ngôn thể loại gắn với lịch sử xã hội. Đóng góp của luận án đó chính là từ thực tế nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 như một trường diễn ngôn, luận án xác lập và làm rõ khái niệm trường diễn ngôn văn học, cụ thể ở đây là một trường diễn ngôn thể loại.

Bên cạnh đó, luận án chỉ ra tính chất phức tạp trong cấu trúc chỉnh thể của hiện thực truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975, những tác động của trường tri thức và quyền lực tới sự hình thành các thành phần tạo nên cấu trúc đó cũng như tác động trở lại của các thành phần đó tới đời sống văn hóa, xã hội, chính trị giai đoạn này. Cuối cùng, luận án phân tích tổng thể các thẩm quyền, chiến lược thực thi các thẩm quyền của diễn ngôn khu vực trung tâm và khu vực ngoại biên trong trường diễn ngôn truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, từ đó có cái nhìn toàn diện về truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975. Luận văn Tự truyện, Hồi ký - Tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài từ góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật (2014) của Nguyễn Thị Thu Thủy đã vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong việc tìm hiểu mã nội dung và mã nghệ thuật của diễn ngôn trong tự truyện, hồi ký - tự truyện Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài. Mục đích của tác giả luận văn là cắt nghĩa, lý giải vai trò của yếu tố “sự thật” được xem là cốt lõi, hạt nhân của thể loại tự truyện, hồi ký - tự truyện của các tác giả Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài.

Qua đó, tác giả luận văn hướng đến việc nghiên cứu các yếu tố quyền lực, những động cơ, mục đích, yếu tố bên ngoài thể loại chi phối cách cảm, cách xây dựng, kể về “sự thật” của mỗi tác giả. Trong luận án Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam (2018) của tác giả Ngô Thanh Hải đã sử dụng lý thuyết diễn ngôn, chủ yếu của V. Chiupa làm cơ sở. Từ cơ sở lý thuyết này, tác giả quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn đặc thù để thực hiện một chiến lược giao tiếp với sự tham gia, thống nhất của ba yếu tố: chủ thể phát ngôn, đối tượng hướng tới/ tiếp nhận và cái tham chiếu (nội dung được thể hiện).

Ba yếu tố đó sẽ kết hợp, tạo ra các mô hình cấu trúc, những bức tranh thế giới riêng cho các xu hướng viết truyện lịch sử dựa theo các cấu trúc nền móng trong văn học cổ. Nhìn chung, các tác giả đã vận dụng có hiệu quả các lý thuyết cũng như hướng tiếp cận diễn ngôn trong các công trình cũng như bài viết của mình. Kết quả nghiên cứu về vận dụng lý thuyết diễn ngôn đã cho thấy được ý nghĩa quan trọng của việc tìm hiểu lý thuyết này ở mức độ tiếp cận mới so với hướng truyền thống trước đây. Tuy nhiên, hầu hết các công trình chỉ mới ứng dụng một phần hay một vài hướng tiếp cận diễn ngôn như cách tiếp cận theo hướng phong cách học, thi pháp học của M.

Chiupa, hướng tiếp cận xã hội học của M. Foucault hoặc khai thác diễn ngôn theo khía cạnh trần thuật quy mô nhỏ như diễn ngôn người kể chuyện, diễn ngôn đối thoại, diễn ngôn độc thoại,. Công trình được xem là công phu nhất trong việc ứng dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học ký là công trình Ký như một loại hình diễn ngôn của Nguyễn Thị Ngọc Minh. Những công trình trên là hướng gợi mở rất quan trọng để chúng tôi tiếp cận đề tài.

Tình hình nghiên cứu hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam 1. Nghiên cứu mang tính tổng quan Có khá nhiều công trình nghiên cứu về hồi ký, tự truyện trong Văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Các nhà nghiên cứu chú ý giải thích sự phát triển có tính lịch sử của hai thể loại trên qua các chặng đường. Đặc biệt là sự bùng nổ và ưu thế của thể hồi ký, tự truyện vào những thập niên cuối thế kỉ XX.

Nhiều nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng kết, khái quát quá trình phát triển của thể loại hồi ký, tự truyện trong các công trình văn học sử. Một số tác giả như Nguyễn Văn Long, Hà Minh Đức, Bích Thu, Lý Hoài Thu, Đỗ Hải Ninh, Lê Tú Anh…đã đưa ra nhiều ý kiến, nhận định sắc sảo liên quan đến những thành tựu của hồi ký, tự truyện, những đóng góp cũng như thách thức của thể loại trong đời sống văn học đương đại. Trong Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Văn Long đưa ra nhận định: Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm gần đây, thấy nổi lên hai mảng đáng chú ý: hồi ký - tự truyện và tiểu thuyết lịch sử. Một loạt hồi ký của các nhà văn, nhà thơ, cả những nhà hoạt động xã hội đã đem lại cho người đọc những hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về xã hội, lịch sử, về đời sống văn học và gương mặt một số nhà văn ở những thời kì đã qua (Nguyễn Văn Long, 2007, tr.

Hà Minh Đức trong công trình Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đề cao vai trò của hồi ký trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Theo ông, giá trị của hồi ký không chỉ xác định ở phạm vi văn học mà còn được khẳng định trên nhiều lĩnh vực khác như: chính trị, quân sự, sử học, xã hội học. Trong đó, sự thật của đời sống được tôn trọng ở mức cao nhất. Trong công trình này, tác giả cũng tìm hiểu sự khác biệt giữa cái tôi trong ký với cái tôi trong hồi ký cũng như tiểu thuyết - tự truyện.

Theo tác giả: “Người viết tiểu thuyết - tự truyện nói về mình, cuộc sống của mình, nhưng không giới hạn trong khuôn khổ đó. Họ luôn có xu hướng mở rộng để nói về cuộc đời chung. Dòng tự truyện trực tiếp xoay quanh cái tôi luôn được mở rộng ra hết cảnh ngộ này đến cảnh ngộ khác, của cuộc đời trực tiếp và gián tiếp có liên hệ đến cái tôi” (Hà Minh Đức, 1980, tr. Còn dòng kể của hồi ký lại là: “một mạch trôi trực tuyến hơn xoay quanh cái tôi.

Những sự kiện ít móc nối vào nhau để mở ra những khung cảnh và liên hệ mới. Kết cấu của tác phẩm hồi ký cũng dựa chủ yếu vào kết cấu vốn có của cuộc đời thực và ít đổi thay tái tạo lại khung sự kiện” (Hà Minh Đức, 1980, tr. Lý Hoài Thu trong công trình Đồng cảm và sáng tạo lý giải sự phát triển và ghi nhận những đóng góp của hồi ký cho đời sống văn học: Những năm cuối cùng khép lại thế kỉ XX, sự ra đời của các tác phẩm hồi ký nhằm đáp ứng lại nhu cầu nhìn nhận và suy ngẫm về quá khứ. Những vấn đề của văn chương một thuở, những số phận đã thành dĩ vãng giờ được tái dựng theo một tinh thần mới, giả thiết mới đã gây không ít những cuộc tranh cãi mà nhờ đó, đời sống văn học trở nên có khí sắc hơn (Lý Hoài Thu, 2006, tr.

Bà tỏ ra tin tưởng vào sự phát triển của thể loại này và tin rằng đây là thể loại có thể tạo ra nhiều thành công trong thời kỳ đổi mới. Bà nhấn mạnh những nỗ lực của các tác giả hồi ký trong việc tìm tòi, khám phá, cách tân về nội dung ý nghĩa, nghệ thuật biểu hiện, đặc biệt là phong cách cá nhân của từng tác giả. Khi tìm hiểu sự vận động của thể hồi ký, nhiều tác giả thống nhất với quan điểm của nhà nghiên cứu Bích Thu trong việc ghi nhận vị trí của thể loại này trong quá trình phát triển của thể loại. Theo đó, sự xuất hiện của những hồi ký “mang đậm dấu ấn của cái tôi nhà văn, thuật lại lai lịch, đời tư, đời viết, quan hệ chủ thể sáng tạo với đồng nghiệp, bạn văn, người thân và bạn đọc…thu hút sự chú ý của người đọc đã chứng tỏ cái thế mạnh riêng của tác phẩm ký” (Phan Cự Đệ - chủ biên, 2004, tr.

Ngoài ra, trong một số công trình khác có đưa ra các ý kiến khẳng định hồi cố, hồi thuật là khuynh hướng nổi trội trong văn xuôi giai đoạn hiện nay. Nguyễn Phượng trong bài viết Văn học và nền kinh tế thị trường trong mười năm cuối thế kỷ khẳng định sự phát triển nổi trội của thể hồi ký, tự truyện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường: “Không ngẫu nhiên, thể loại hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn này. Công chúng dành sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu thuyết tự truyện và hồi ký như Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…”. Sự quan tâm đó theo ông là do “xu hướng giải thiêng, giải ảo”, “sự thay đổi nhận thức và quan niệm về các hệ giá trị” và “cái nhìn tỉnh táo, duy thực đầy can đảm” của nhà văn trong việc “diễn đạt những sự thật từng bị che khuất bởi những chi phối của lịch sử và thời cuộc” (Nguyễn Phượng, 2008).

Trong mục Các thể ký văn học in trong cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức cũng dự đoán: “Trong tương lai sẽ có rất nhiều hồi ký, nhật ký xuất hiện khi người ta quan tâm đến cuộc đời riêng của nhiều loại người vốn có đóng góp hoặc nổi danh ở một lĩnh vực nào đó” (Hà Minh Đức, 1996, tr. Liên quan đến vấn đề thể loại tự truyện, có nhiều câu hỏi đặt ra rằng liệu Việt Nam có thể loại tự truyện hay không? Việc phân định thể loại, đặc biệt là tự truyện và tiểu thuyết tự thuật cũng có nhiều luồng ý kiến khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Hồi Ký Tự Truyện Hiện Đại Việt Nam Từ Góc Nhìn Diễn Ngôn Thể Loại" của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Như, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thành Thi tại Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, mang đến một cái nhìn sâu sắc về thể loại hồi ký tự truyện trong văn học hiện đại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các đặc điểm thể loại mà còn khám phá cách thức diễn ngôn trong các tác phẩm hồi ký tự truyện, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị và vai trò của thể loại này trong văn học Việt Nam. Bài viết sẽ rất hữu ích cho những ai quan tâm đến ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, cũng như những người yêu thích văn học hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết Đóng Góp Của Văn Xuôi Tự Lực Văn Đoàn Từ Góc Nhìn Thể Loại, nơi phân tích sự đóng góp của thể loại văn xuôi trong bối cảnh văn học Việt Nam. Ngoài ra, bài viết Nghiên Cứu Về Tính Dục Trong Văn Học Trung Đại Việt Nam cũng sẽ cung cấp cho bạn những cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh văn hóa và xã hội trong văn học, đặc biệt là trong giai đoạn trung đại. Cuối cùng, bài viết Vấn đề quốc học và quốc văn ở việt nam đầu thế kỷ xx sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và văn hóa của văn học Việt Nam, từ đó làm phong phú thêm kiến thức về các thể loại văn học khác nhau.