Đóng Góp Của Văn Xuôi Tự Lực Văn Đoàn Từ Góc Nhìn Thể Loại

Luận án tiến sĩ phân tích đóng góp văn xuôi Tự Lực Văn Đoàn từ góc nhìn thể loại, làm rõ giá trị đổi mới nghệ thuật văn học Việt Nam thập niên 1930.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
235
18
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của luận án

1.6. Cấu trúc của luận án

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỀ TÀI

3. TỔNG QUAN VỀ VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN NHÌN TỪ THỂ LOẠI

4. ĐÓNG GÓP VỀ THỂ LOẠI VĂN XUÔI HƯ CẤU CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

5. ĐÓNG GÓP VỀ THỂ LOẠI VĂN XUÔI PHI HƯ CẤU CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát nghiên cứu về Văn xuôi Tự Lực Văn Đoàn

Luận án "Đóng góp của văn xuôi Tự Lực Văn Đoàn từ góc nhìn thể loại" của Hồ Thị Xuân Quỳnh đã khảo sát các nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn (TLDVĐ) qua các giai đoạn lịch sử, từ 1933 đến nay. Trước 1975, nghiên cứu ở miền Nam chú trọng nghệ thuật tác phẩm, trong khi miền Bắc tập trung vào nội dung tư tưởng. Sau 1975, đặc biệt sau Đổi Mới, đã có cái nhìn toàn diện hơn, đánh giá cao đóng góp của TLDVĐ cho văn học hiện đại. Luận án cũng chỉ ra rằng, dù đã có nhiều nghiên cứu về TLDVĐ, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về tất cả các thể loại văn xuôi hư cấu và phi hư cấu của TLDVĐ, trong khi đó là đóng góp quan trọng nhất của văn đoàn này. Luận án nhấn mạnh sự đổi mới của TLDVĐ trong việc hiện đại hóa văn xuôi, so sánh với Thơ mới đã thay đổi thơ ca, TLDVĐ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong văn xuôi. TLDVĐ đã làm biến đổi các thể loại văn xuôi hư cấu và phi hư cấu bằng thi pháp và nghệ thuật tự sự hiện đại, đưa văn xuôi Việt Nam phát triển ngang tầm với văn học hiện đại trong khu vực và thế giới. Sự đổi mới này thể hiện rõ ràng qua việc TLDVĐ đã chuyển đổi mạnh mẽ và sâu sắc các thể loại từ hệ hình trung đại sang hiện đại, đặc biệt trong giai đoạn 1932-1945. Bí quyết thành công của TLDVĐ chính là sự đổi mới và phát triển tất cả các thể loại văn xuôi, tạo nên bước chuyển mình mạnh mẽ trong tiến trình hiện đại hóa văn học.

II. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Luận án của Hồ Thị Xuân Quỳnh đặt ra mục tiêu tìm hiểu, vận dụng lý thuyết loại hình để làm rõ thành tựu nghệ thuật của TLDVĐ ở các thể loại văn xuôi hư cấu và phi hư cấu. Đồng thời, luận án muốn chỉ ra những điểm mới mẻ của TLDVĐ trong việc đổi mới, phát triển các thể loại này, từ đó khẳng định vai trò, vị trí của TLDVĐ trong công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam, rút ngắn khoảng cách với các nền văn học tiên tiến trên thế giới. Cuối cùng, luận án mong muốn bổ sung những kiến giải về TLDVĐ cho các công trình văn học sử.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn xuôi TLDVĐ, tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu, nổi bật đánh dấu sự đổi mới, cách tân nghệ thuật của các nhà văn TLDVĐ. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là đóng góp của các thành viên TLDVĐ về thể loại văn xuôi hư cấu và phi hư cấu trong giai đoạn 1932-1945. Luận án cũng xem xét ảnh hưởng của văn xuôi TLDVĐ đến các nhà văn cùng và khác khuynh hướng trong giai đoạn này, như Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyên Hồng, Nam Cao,... Nhờ đó, luận án khẳng định vai trò không chỉ mở đầu mà còn đặt nền móng vững chắc cho văn xuôi Việt Nam hiện đại của TLDVĐ.

III. Phương pháp nghiên cứu và đóng góp của luận án

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp: loại hình (nhận dạng đặc trưng thể loại), thống kê (tác phẩm theo thể loại và tần suất), so sánh (đóng góp của TLDVĐ so với văn xuôi trước, cùng thời và sau này), hệ thống (đóng góp của TLDVĐ trong tiến trình hiện đại hóa), và xã hội học (sự thay đổi trong tiếp nhận văn xuôi TLDVĐ).

Về mặt lý luận, luận án xác lập cơ sở lý luận về đóng góp của TLDVĐ ở các thể loại văn xuôi hư cấu và phi hư cấu đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Luận án xây dựng luận điểm hệ thống về vai trò tiên phong của TLDVĐ trong đổi mới thi pháp, khẳng định tác dụng nổi bật của sự đổi mới này đã tạo nên bước phát triển nhảy vọt cho văn học hiện đại. Về mặt thực tiễn, luận án đóng góp vào việc xây dựng phương pháp văn học sử khi nghiên cứu TLDVĐ, một hiện tượng văn học gây nhiều tranh luận. Nghiên cứu này cũng có thể được ứng dụng để nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

IV. Nội dung chính của luận án

Luận án được chia thành bốn chương. Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về văn xuôi TLDVĐ và hướng tiếp cận đề tài. Chương này đánh giá các nghiên cứu về TLDVĐ qua ba giai đoạn: 1933-1945, 1945-1975 và 1975 đến nay, từ đó đưa ra nhận xét chung về tình hình nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về văn xuôi nghệ thuật TLDVĐ nhìn từ thể loại. Chương này trình bày lý luận về loại hình văn xuôi nghệ thuật, đặc điểm của văn xuôi hư cấu và phi hư cấu, quan niệm về văn xuôi TLDVĐ, hoạt động văn hóa, sáng tạo nghệ thuật và sứ mệnh hiện đại hóa văn học của TLDVĐ. Chương 3: Đóng góp về thể loại văn xuôi hư cấu của TLDVĐ. Chương này phân tích đóng góp của TLDVĐ trong việc hiện đại hóa các thể loại văn xuôi hư cấu, dựa trên việc khái quát đặc trưng thi pháp tự sự hư cấu trước 1932. Chương 4: Đóng góp về thể loại văn xuôi phi hư cấu của TLDVĐ. Chương này làm rõ đóng góp của TLDVĐ trong việc kế thừa, đổi mới và phát triển các thể loại phi hư cấu như ký, tiểu luận,... Thông qua bốn chương này, luận án mong muốn làm rõ những đóng góp quan trọng của TLDVĐ đối với sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu của Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1930 - 1945 (tập V) của Nguyễn Trác, Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ có phần đánh giá những đóng góp về phương diện nghệ thuật của văn xuôi lãng mạn (trong đó chủ yếu là văn xuôi Tự lực văn đoàn). Trong số những công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn ở miền Bắc giai đoạn này, Văn học Việt Nam 1930 - 1945, (tập 1) của Bạch Năng Thi đã chỉ ra được những đổi mới thể hiện sự đóng góp ở phương diện nghệ thuật của văn học lãng mạn (trong đó có văn xuôi Tự lực văn đoàn): Về hình thức nghệ thuật, một mặt văn học lãng mạn sau 1930 có Âu hóa hơn; một mặt, nó cũng có nhiều phần sáng tạo… Ảnh hưởng của văn học Tây phương, ảnh hưởng của hội họa và âm nhạc Tây phương xâm nhập vào văn học Việt Nam. Óc thẩm mỹ của người cầm bút, khẩu vị của độc giả cũng đã thay đổi. Người ta cố tạo ra một cách diễn đạt mới, xây dựng những hình ảnh mới, thể hiện những màu sắc, âm thanh, hình dáng, đường nét mới, tránh những khuôn sáo ước lệ, những “cái đẹp rẻ tiền” trong lối tả cảnh, tả tình của văn học lãng mạn cũ (Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, 1961).

Đề cập đến hình thức thể loại tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Bạch Năng Thi khẳng định tính vượt trội của nó so với tiểu thuyết theo thi pháp văn học trung đại: Tiểu thuyết khác trước: quan sát tinh vi, cảm giác tế nhị hơn, chú trọng đến tâm tư thầm kín, độc đáo của con người hơn: bố cục luận lý, sáng sủa hơn, ngôn ngữ giản dị, rõ ràng hơn, không tả cảnh, tả người một cách ước lệ như trước, mà cụ thể và sinh động hơn (.) Văn học lãng mạn thời kỳ 1930 - 1935 được đánh dấu bằng sự thắng thế của thơ mới và sự thắng thế của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, 1961). Đồng quan điểm với Bạch Năng Thi, nhóm tác giả của Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1930 - 1945 cho rằng: Thể loại tiểu thuyết ra đời từ trước 1930, nhưng từ 1930 trở về sau mới phát triển…Từ 1930 trở đi, có thể nói tiểu thuyết đã biến đổi nhiều và trở thành một thể loại văn học có tính chất hiện đại. Tiểu thuyết được bố cục chặt chẽ về nghệ thuật để hấp dẫn người đọc chứ không kể lể sự việc theo 15 một trình tự thời gian nhất định. Tâm lý các nhân vật được các nhà văn chú ý nghiên cứu phân tích và miêu tả kỹ càng (Nguyễn Trác et al.

Trong công trình nghiên cứu : Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ( tập 1), khi bàn về nghệ thuật tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Phan Cự Đệ cũng cho rằng: So với những tiểu thuyết trước 1930, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã đi sâu hơn vào thế giới nội tâm phong phú của con người. Các nhà tiểu thuyết đã có ý thức vận dụng khoa tâm lý học để phân tích tâm lý của các lớp người ở những lứa tuổi khác nhau. Họ đặc biệt thành công khi miêu tả tâm lý của phụ nữ, của các bà mẹ chồng phong kiến, nhất là của lớp thanh niên tiểu tư sản đang tuổi yêu đương, mơ mộng. Tự lực văn đoàn đã có những cống hiến vào sự phát triển ngôn ngữ dân tộc, nhất là về mặt làm giàu thêm những từ ngữ miêu tả tâm lý, tình cảm của con người.

Câu văn của Tự lực văn đoàn giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh, mềm mại, uyển chuyển, có khả năng diễn tả những cảm xúc tinh tế của tâm hồn (Phan Cự Đệ, 1974). Bên cạnh những nhận định khái quát về đóng góp của văn xuôi lãng mạn nói chung, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói riêng, trong công trình Văn học Việt Nam 1930-1945, Bạch Năng Thi còn đề cập đến phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết của hai tác giả trụ cột Tự lực văn đoàn. Về Khái Hưng: Truyện dài hay truyện ngắn của Khái Hưng đều bố cục gọn gàng hợp lý, không có những chuyện phình ra vô ích, những chỗ hóp vào đáng tiếc, không có những chi tiết rời rạc; lối kể truyện nhanh, vui, sống; tả cảnh, tả người, tả tâm lý đều có chừng mực; giữa câu chuyện xen lẫn những đoạn đối thoại sinh động, làm toát ra một cá tính, nổi bật một trường hợp… Văn Khái Hưng nhẹ nhàng bay bướm, giàu hình ảnh và nhạc điệu, phù hợp với nội dung lãng mạn (Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, 1961). Về Nhất Linh: Trong Tự lực văn đoàn, nghệ thuật của Nhất Linh vững vàng nhất.

Các nhà văn của nhóm này, học hỏi nhiều ở văn học Tây phương, có một trình độ tương tự nhau, cùng chung một quan niệm sáng tác. Họ chịu ảnh hưởng khá sâu của Nhất Linh, người đứng đầu nhóm. Cho nên có thể nói rằng những ưu điểm của Tự lực văn đoàn, của Khái Hưng về cách xây dựng tác phẩm, sáng tạo nhân vật, phân tích tâm lý, hành văn, ấy cũng là những ưu điểm của Nhất Linh. lời văn ngắn gọn, chặt chẽ, chính xác, vừa 16 giản dị, vừa chọn lọc.

Khác với Khái Hưng ở chỗ văn Khái Hưng réo rắt, êm đềm, phảng phất theo điệu tình cảm mơ hồ, đặc biệt ở những tác phẩm đầu tiên. Văn Nhất Linh có nhiều tính chất lý trí, nhưng không khô khan,. văn Nhất Linh vừa rành mạch, trong sáng, vừa có nhạc điệu, có hình ảnh. Nó diễn tả được những cảm giác tinh vi.

Nó sử dụng cách so sánh cụ thể, có khả năng tạo hình và gợi cảm (Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, 1961). Trong công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Phan Cự Đệ cũng đề cập lối kết cấu ở tiểu thuyết của hai nhà văn này: “Hầu hết các cuốn tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng đều kết cấu theo quy luật tâm lý chứ không theo trình tự thời gian của các sự kiện” (Phan Cự Đệ, 1974). Nhìn chung, những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu miền Bắc ở giai đoạn 1954 - 1975 về văn xuôi Tự lực văn đoàn còn bị chi phối bởi thiên kiến chính trị, quan điểm giai cấp. Do đó, những bài viết, những công trình nghiên cứu của họ về văn học lãng mạn nói chung và văn xuôi Tự lực văn đoàn nói riêng chủ yếu là tập trung nghiên cứu nội dung tư tưởng của tác phẩm.

Khi đi vào khía cạnh nội dung tư tưởng trong những tác phẩm của Tự lực văn đoàn, các nhà nghiên cứu miền Bắc thường đề cao nội dung chống lễ giáo phong kiến. Tuy nhiên, do chưa có được quan điểm lịch sử và thể loại mà họ khảo sát cũng chỉ dừng lại ở thể loại tiểu thuyết nên còn phiến diện, thiếu sự khách quan, khoa học. Song, trong số những bài viết, công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu miền Bắc, cần đánh giá cao công trình của Bạch Năng Thi. Từ hệ hình nghiên cứu triết - mỹ và thể hiện được tinh thần khách quan trong nghiên cứu, Bạch Năng Thi không chỉ khái quát được “ưu thế của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn” mà còn đánh giá đúng mức những đóng góp của cá nhân các nhà văn như: Nhất Linh, Khái Hưng và Thạch Lam đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.

Ở miền Nam Giai đoạn này, văn chương Tự lực văn đoàn được nhiều nhà nghiên cứu ở miền Nam quan tâm. Những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu miền Nam giai đoạn này triển khai theo các hướng: thứ nhất, đánh giá chung về Tự lực văn đoàn; thứ hai, đánh giá từng tác giả; thứ ba, đánh giá từng tác phẩm. Một số công trình khá quy mô đã nghiên cứu về những đóng góp chung của Tự lực văn đoàn như: Tự lưc văn đoàn của Doãn Quốc Sỹ do Hồng Hà xuất bản, 1961, Luận đề về Tự lực văn đoàn của Nguyễn Duy Diễn và Bằng Phong do Thăng Long xuất bản, 1967, Luận đề về Tự lực văn đoàn của Ninh Văn, Xuân Tước do Sống Mới 17 xuất bản, 1974… Trong số những công trình trên, đáng chú ý nhất là cuốn Tự lực văn đoàn của Doãn Quốc Sỹ. Bằng cái nhìn lịch đại và đồng đại, Doãn Quốc Sỹ đã khái quát được cái mới mang phong cách Tự lực văn đoàn ở nhiều thể loại: “Tự lực văn đoàn đẩy mạnh các thể văn mới mượn của Pháp, như phê bình, kịch, phóng sự, tùy bút, thơ mới… Tự lực văn đoàn là những người đầu tiên áp dụng cú pháp Phương Tây… lối hành văn mới đã uyển chuyển, trong sáng, nhẹ nhàng hơn nhiều” (Doãn Quốc Sỹ, 1961).

Ngoài những công trình trên, những nhận định, đánh giá chung về thành tựu của tổ chức văn phái này còn được thể hiện trong những bài viết: Tự lực văn đoàn của Nguyễn Đồng, Tự lực văn đoàn, Tự lực văn đoàn - phong hóa đổi mới của Kiêm Đạt, Ý hướng cải tạo xã hội của Tự lực văn đoàn của Nguyễn Triệu Luật, Từ phong trào Duy Tân đến Tự lực văn đoàn của Nguyễn Văn Xuân, Gặp Tự lực văn đoàn của Võ Hồng,… Với bài viết Tự lực văn đoàn, Nguyễn Đồng đã khái quát được thành tựu Tự lực văn đoàn trong việc vận dụng các thể tài mới mẻ cũng như làm mới bút pháp nghệ thuật của các nhà văn Tự lực văn đoàn : “Về sáng tác, những thể tài mới mẻ trong văn nghệ ngoại quốc đều được áp dụng. Ngoài việc phát huy các bộ môn văn học còn xa lạ với dân Việt như: phê bình, kịch, phóng sự, tùy bút. Lối hành văn của Tự lực văn đoàn đánh dấu một bước tiến tự nhiên của văn xuôi Việt Nam” (Nguyễn Đồng, 1958). Ngoài những bài viết, những công trình chuyên sâu về Tự lực văn đoàn, giai đoạn này, ở miền Nam còn xuất hiện những chuyên luận, chuyên khảo có những chương, những mục đề cập đến Tự lực văn đoàn như: Tiểu thuyết hiện đại (1963) của Tràng Thiên do Nhà xuất bản Thời Mới, Sài Gòn ấn hành, Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX 1800 - 1945 (1967) của Vũ Hân, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (1961), Lược khảo tiểu thuyết của Nguyễn Văn Trung, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1972) của Bùi Xuân Bào (Sài Gòn xuất bản), Văn học và tiểu thuyết (1973) của Doãn Quốc Sỹ do Nhà xuất bản Sáng tạo, Sài Gòn ấn hành, Lược sử văn nghệ Việt Nam (Nhà văn tiền chiến 1930 - 1945) của Thế Phong do Vàng Sao, Sài Gòn xuất bản vào năm 1974.

Trong số đó, công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX 1800 - 1945, Vũ Hân đã dành 15 trang để viết về Tự lực văn đoàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đóng Góp Của Văn Xuôi Tự Lực Văn Đoàn Từ Góc Nhìn Thể Loại" của Hồ Thị Xuân Quỳnh trình bày những đóng góp quan trọng của văn xuôi Tự Lực Văn Đoàn trong bối cảnh văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ làm nổi bật những đặc trưng thể loại mà còn phân tích sâu sắc vai trò của các tác giả trong việc định hình phong cách và nội dung của văn học thời kỳ này. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn xuôi, cũng như cách mà các tác giả đã phản ánh xã hội qua tác phẩm của họ.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về lí luận văn học, hãy tham khảo thêm bài viết Giáo trình lí luận văn học phần tác phẩm văn học pptx, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về các tác phẩm văn học. Bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nhân vật chấn thương trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân và Đỗ Tiến Thụy, tác phẩm khai thác sâu sắc các nhân vật trong văn học. Cuối cùng, bài viết Nghiên Cứu Về Tính Dục Trong Văn Học Trung Đại Việt Nam sẽ mang đến cho bạn một cái nhìn mới mẻ về các vấn đề văn học liên quan đến chủ đề nhạy cảm này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và kiến thức phong phú về văn học Việt Nam.