Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu mang tên "Đóng góp của văn xuôi Tự lực văn đoàn từ góc nhìn thể loại" do nghiên cứu sinh Hồ Thị Xuân Quỳnh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thanh Truyền và TS. Nguyễn Lâm Điền, được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21).
+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN |
+----------------------+--------------------------------------------------------------------------------+
| Đề tài | Đóng góp của văn xuôi Tự lực văn đoàn từ góc nhìn thể loại |
| Tác giả | Hồ Thị Xuân Quỳnh |
| Người hướng dẫn | 1. PGS. Bùi Thanh Truyền, 2. TS. Nguyễn Lâm Điền |
| Cơ sở đào tạo | Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh |
| Ngành / Chuyên ngành | Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam / Văn học Việt Nam (Mã số: 62 22 01 21) |
| Loại hình nghiên cứu | Định tính kết hợp thống kê tư liệu văn học sử |
+----------------------+--------------------------------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tự lực văn đoàn ra đời từ thập niên 1930 và trải qua gần một thế kỷ tồn tại trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Do những biến thiên lịch sử và sự khác biệt về thể chế chính trị qua các thời kỳ, việc đánh giá vai trò của văn phái này từng tồn tại nhiều luồng quan điểm khác biệt:
- Giai đoạn trước năm 1975, giới nghiên cứu ở miền Bắc thiên về xem xét nội dung tư tưởng (nhấn mạnh yếu tố chống phong kiến nhưng phê phán lập trường cải lương), trong khi giới nghiên cứu ở miền Nam chú trọng nhiều hơn đến phương diện kỹ thuật và thành tựu nghệ thuật.
- Từ sau năm 1986, dưới tinh thần đổi mới, nhiều hội thảo khoa học và chuyên luận đã đánh giá lại vị thế của Tự lực văn đoàn một cách khách quan, công bằng và lịch sử hơn.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ về các tác giả (Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam...) hoặc từng thể loại cụ thể (tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận), giới nghiên cứu phê bình chủ yếu tiếp cận ở tầm nhìn vĩ mô hoặc phân tích cục bộ. Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà luận án xác định là: Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về tất cả các thể loại thuộc cả hai loại hình văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu của Tự lực văn đoàn từ góc nhìn thể loại.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác lập 3 mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu và vận dụng lý thuyết loại hình vào việc triển khai khảo sát những sáng tác của Tự lực văn đoàn nhằm làm rõ những thành tựu trong sáng tạo nghệ thuật của tổ chức văn phái này ở các thể loại thuộc hai nhóm văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu.
- Chỉ ra những điểm mới mẻ của Tự lực văn đoàn trong việc đổi mới, phát triển các thể loại văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu cho nền văn học Việt Nam hiện đại.
- Xác lập một cách hệ thống, cụ thể hơn về vai trò, vị trí của Tự lực văn đoàn trong công cuộc hiện đại hóa nền văn học Việt Nam, góp phần bổ sung những kiến giải, luận giải khoa học cho các công trình văn học sử Việt Nam hiện đại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm văn xuôi của Tự lực văn đoàn. Luận án không khảo sát cơ học toàn bộ mọi văn bản mà tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu sự đổi mới và cách tân trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn trong nhóm, được giới nghiên cứu và độc giả ghi nhận qua các thời kỳ.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về tác giả: Các tác giả là thành viên chính thức của Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Xuân Diệu).
- Về thời gian: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi ra đời và công bố trong giai đoạn 1932 – 1945 trên hai tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay và các ấn bản sách của nhà xuất bản Đời Nay.
- Về không gian ảnh hưởng: Xem xét sự tương tác và tác động của văn xuôi Tự lực văn đoàn đối với các nhà văn cùng khuynh hướng (Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh) và khác khuynh hướng (Nguyên Hồng, Nam Cao).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu văn xuôi Tự lực văn đoàn theo tiến trình lịch đại gồm 3 giai đoạn chính:
+-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN |
+----------------------+-----------------------------------------------+------------------------------------------------------+
| Giai đoạn lịch sử | Tác giả / Công trình tiêu biểu | Trọng tâm tiếp cận và nhận định chính |
+----------------------+-----------------------------------------------+------------------------------------------------------+
| 1933 – 1945 | - Dương Quảng Hàm (1943/1960) | Nhận diện bước đầu về tiểu thuyết luận đề, tiểu |
| | - Trương Chính (1939/2016) | thuyết phong tục; lối hành văn mới, thoát sáo; phê |
| | - Vũ Ngọc Phan (1942–1944/1989) | bình ấn tượng chủ quan về tác giả, tác phẩm. |
| | - Nhất Linh, Trần Thanh Mại, Nguyễn Lương Ngọc| |
+----------------------+-----------------------------------------------+------------------------------------------------------+
| 1945 – 1975 | Miền Bắc: | Miền Bắc: Vận dụng xã hội học mác-xít, đánh giá nội |
| | - Trường Chinh (1957) | dung chống phong kiến, phê phán tư tưởng cải lương; |
| | - Nhóm Lê Quý Đôn (1957) | Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ phân tích thêm thi pháp. |
| | - Bạch Năng Thi & Phan Cự Đệ (1961) | |
| | - Phan Cự Đệ (1974) | |
| | Miền Nam: | Miền Nam: Đi sâu vào cấu trúc nghệ thuật, bút pháp |
| | - Doãn Quốc Sỹ (1961, 1973) | tiểu thuyết, thi pháp tự sự, ngôn ngữ văn xuôi mới; |
| | - Vũ Hân (1967), Phạm Thế Ngũ (1965) | khẳng định công lao định hình tiểu thuyết hiện đại. |
| | - Thanh Lãng (1967), Thế Phong (1974) | |
+----------------------+-----------------------------------------------+------------------------------------------------------+
| 1975 – nay | - Huỳnh Lý, Hoàng Dung (1978) | Đánh giá khách quan, khoa học trên quan điểm lịch sử |
| | - Nguyễn Hoành Khung (1983, 1989) | và đổi mới; khẳng định bước nhảy vọt nghệ thuật, vai |
| | - Hội thảo khoa học toàn quốc (1989) | trò định hình mô hình văn xuôi và tiểu thuyết Việt |
| | - Phan Cự Đệ (1997), Nguyễn Đăng Mạnh (1999) | Nam hiện đại. |
| | - Nguyễn Huệ Chi (2004), Hà Minh Đức (2007) | |
| | - Vũ Tuấn Anh (2012) | |
+----------------------+-----------------------------------------------+------------------------------------------------------+
Các hướng nghiên cứu cụ thể qua các thời kỳ
-
Giai đoạn 1933 – 1945:
- Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu đã dành một phần ở Chương VII nêu rõ hai phương diện cải cách của nhóm: về đường xã hội (viết tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luận đề chống hủ tục) và về đường văn chương (trừ khử lối văn biền ngẫu chịu ảnh hưởng Hán văn, xây dựng câu văn quốc ngữ giản dị, viết đoản thiên và trường thiên tiểu thuyết).
- Nhất Linh trong Lời tựa Hồn bướm mơ tiên (1933) đã chỉ rõ hai đặc điểm thi pháp của Khái Hưng: "không tả cảnh rườm rà" và "không bàn luận lôi thôi".
- Trương Chính với chuyên luận Dưới mắt tôi (1939) đã phân tích sâu sắc các tác phẩm của Nhất Linh (Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Tối tăm), Khái Hưng (Trống mái, Gia đình, Nửa chừng xuân), sách viết chung (Đời mưa gió, Gánh hàng hoa) và Thạch Lam (Gió đầu mùa).
- Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942–1944) đã vận dụng lối phê bình ấn tượng chủ quan để xác định phong cách cá nhân: Thế Lữ sở trường về trinh thám và kinh dị; Xuân Diệu thành công với văn xuôi giàu chất thơ (Phấn thông vàng); Khái Hưng sắc sảo trong khắc họa tâm lý; Nhất Linh đứng đầu về tiểu thuyết luận đề; Hoàng Đạo thiên về nghị luận, châm biếm; Thạch Lam định hình thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn tình cảm, trữ tình.
-
Giai đoạn 1945 – 1975:
- Ở miền Bắc: Sau phát biểu chỉ đạo của Trường Chinh tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 (1957), các công trình như Lược thảo Lịch sử Văn học Việt Nam (nhóm Lê Quý Đôn, 1957), Văn học Việt Nam 1930 – 1945 (Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ, 1961), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1930 – 1945 (Nguyễn Trác, Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ, 1963) và Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Phan Cự Đệ, 1974) đã nhìn nhận Tự lực văn đoàn. Dù còn chịu ảnh hưởng của cách nhìn nhận chính trị - giai cấp, công trình của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ đã chỉ ra sự chuyển biến thi pháp: tiểu thuyết kết cấu theo quy luật tâm lý thay vì trật tự thời gian cơ học, ngôn ngữ mềm mại, giàu nhạc điệu và khả năng diễn tả nội tâm.
- Ở miền Nam: Hàng loạt công trình chuyên khảo xuất hiện như Tự lực văn đoàn (Doãn Quốc Sỹ, 1961), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ, 1965), Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Thanh Lãng, 1967), Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX (Vũ Hân, 1967), Lược sử văn nghệ Việt Nam (Thế Phong, 1974), cùng các nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung, Bùi Xuân Bào, Tràng Thiên. Giới nghiên cứu miền Nam tập trung khẳng định công lao của Tự lực văn đoàn trong việc khai sinh tiểu thuyết hiện đại, du nhập các thể tài mới (phóng sự, tùy bút, tiểu phẩm, kịch) và chuẩn hóa cú pháp tiếng Việt hiện đại.
-
Giai đoạn từ 1975 đến nay:
- Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (Huỳnh Lý chủ biên, Hoàng Dung viết phần tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, 1978) và Từ điển văn học (Nguyễn Hoành Khung, 1983) đã tái khẳng định vị thế lịch sử của nhóm.
- Ngày 27/5/1989, Hội thảo khoa học về Tự lực văn đoàn do Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức đã quy tụ nhiều nhà nghiên cứu và văn nghệ sĩ (Hà Minh Đức, Huy Cận, Nguyễn Văn Bổng, Phong Lê, Nguyên Ngọc). Hội thảo thống nhất quan điểm: Tự lực văn đoàn đã tạo ra bước nhảy vọt nghệ thuật và định hình mô hình phát triển cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam.
- Các công trình chuyên sâu tiếp theo của Phan Cự Đệ (1997), Nguyễn Đăng Mạnh (1999), Nguyễn Huệ Chi (2004), Hà Minh Đức (2007), Vũ Tuấn Anh (2012) đi sâu phân tích cấu trúc thể loại, lối trần thuật đa giọng điệu và sự giải phóng con người cá nhân.
Khoảng trống luận án giải quyết
Điểm lại toàn bộ lịch sử nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công trình từ trước đến nay hoặc chỉ tập trung vào một thể loại riêng lẻ (tiểu thuyết hoặc truyện ngắn), hoặc khảo sát tác giả đơn lẻ, hoặc nhận định khái quát ở bình diện văn học sử. Chưa có một công trình nào khảo sát toàn diện, bao quát và hệ thống đồng thời cả văn xuôi hư cấu (tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa) lẫn văn xuôi phi hư cấu (phóng sự, ký, tùy bút, tạp văn, tiểu luận phê bình, tiểu phẩm) dưới góc độ lý thuyết thể loại. Luận án được triển khai để giải quyết trọn vẹn khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm nền tảng của lý thuyết loại hình, thi pháp học và tự sự học:
-
Khái niệm văn xuôi nghệ thuật:
- Luận án phân tích nguồn gốc thuật ngữ: gốc Latinh Prosa chỉ lời nói đi thẳng về phía trước, đối lập với versus là lời thơ quay vòng hồi hoàn.
- Vận dụng quan niệm của A. Potebnhia, Lại Nguyên Ân và Lã Nguyên để phân biệt văn xuôi nghệ thuật với văn xuôi phi nghệ thuật và các dạng văn xuôi khoa học, triết học, chính luận. Văn xuôi nghệ thuật sử dụng tư duy hình tượng, nhào nặn chất liệu ngôn ngữ đời sống qua quá trình sáng tạo thẩm mỹ, mang tính đa nghĩa và chức năng thẩm mỹ chuyên biệt.
-
Khung phân định hai nhóm thể loại:
Luận án thiết lập 3 tiêu chí khoa học để phân định văn xuôi nghệ thuật thành hai nhóm:
+------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| BA TIÊU CHÍ PHÂN ĐỊNH LOẠI HÌNH VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT |
+----+-----------------------------------------+------------------------------------+------------------------------------+
| STT| Tiêu chí phân định | Nhóm văn xuôi hư cấu | Nhóm văn xuôi phi hư cấu |
+----+-----------------------------------------+------------------------------------+------------------------------------+
| 1 | Bản chất tâm lý sáng tạo trong tư duy | Sản phẩm của tưởng tượng sáng tạo | Sản phẩm của tưởng tượng tái hiện |
| | nghệ thuật (dẫn quan điểm Chu Quang | (sáng tạo ra thế giới hình tượng | (tái sinh, phục hồi kinh nghiệm, |
| | Tiềm) | mới, nhân vật và biến cố mới). | cảm giác từ thực tế cuộc sống). |
+----+-----------------------------------------+------------------------------------+------------------------------------+
| 2 | Vai trò của hư cấu trong xây dựng thế | Hư cấu chi phối toàn bộ cấu trúc | Hư cấu diễn ra kín đáo ở khâu chọn |
| | giới nghệ thuật và cấu trúc văn bản | văn bản, nhân vật, cốt truyện, | điểm nhìn, cắt cảnh, sắp xếp tư |
| | (dẫn ý kiến Hoàng Phủ Ngọc Tường) | không gian và thời gian nghệ thuật.| liệu để bảo đảm tính xác thực. |
+----+-----------------------------------------+------------------------------------+------------------------------------+
| 3 | Mối quan hệ thẩm mỹ giữa chủ thể sáng | Thực tại đời sống là chất liệu để | Thực tại đời sống là đối tượng tái |
| | tạo và thực tại đời sống (dẫn quan điểm | nhào nặn qua điển hình hóa và lý | hiện trực tiếp (người thật, việc |
| | M. Gorki) | tưởng hóa (thực hơn cuộc đời thật).| thật, sự kiện có thật). |
+----+-----------------------------------------+------------------------------------+------------------------------------+
- Hệ thống lý thuyết chuyên ngành và liên ngành:
- Lý thuyết chuyên ngành: Thi pháp học, Tự sự học, Cấu trúc luận, Ký hiệu học.
- Lý thuyết liên ngành: Mỹ học, Tâm lý học, Sử học, Xã hội học văn học, Triết học, Ngôn ngữ học.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp đồng bộ 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp loại hình: Nhận diện và phân tích đặc trưng loại hình của các thể loại văn xuôi hư cấu và phi hư cấu.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại và đo lường tần số xuất hiện của các tác phẩm theo từng thể loại văn xuôi được đăng tải trên báo chí và xuất bản thành sách.
- Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu văn xuôi Tự lực văn đoàn với văn xuôi truyền thống trung đại, văn xuôi giai đoạn giao thời (1900 – 1930) và các khuynh hướng văn học cùng thời.
- Phương pháp hệ thống: Đặt các hiện tượng văn xuôi trong chỉnh thể tiến trình vận động hiện đại hóa văn học dân tộc.
- Phương pháp xã hội học văn học: Xem xét bối cảnh văn hóa - xã hội đô thị và sự biến chuyển trong quá trình tiếp nhận văn học của công chúng độc giả thời kỳ 1932 – 1945.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Tư liệu báo chí gốc: Toàn bộ các số báo của hai tuần báo Phong Hóa (từ số 56 ngày 22/7/1933 trở đi) và Ngày Nay do Tự lực văn đoàn làm cơ quan ngôn luận.
- Tư liệu văn bản tác phẩm: Các ấn bản tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, bút ký, tùy bút, tiểu luận, tiểu phẩm của các tác giả thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Xuân Diệu.
- Tư liệu văn học sử và phê bình: Hệ thống các bài báo, công trình chuyên khảo, giáo trình đại học và từ điển văn học từ năm 1933 đến nay.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tình hình nghiên cứu văn xuôi Tự lực văn đoàn và hướng tiếp cận đề tài
Chương 1 tập trung phục dựng bức tranh toàn cảnh về lịch sử phê bình và tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn trong gần một thế kỷ:
- Phân kỳ lịch sử nghiên cứu: Khảo sát chi tiết 3 giai đoạn (1933 – 1945, 1945 – 1975, 1975 đến nay), làm rõ sự phân hóa quan điểm giữa hai miền Nam - Bắc trong giai đoạn chia cắt cũng như sự thống nhất đánh giá học thuật từ sau Đổi mới năm 1986.
- Nhận diện hai khuynh hướng phê bình giai đoạn đầu: Phân biệt khuynh hướng phê bình khách quan (Trần Thanh Mại, Trương Tửu...) và khuynh hướng phê bình chủ quan/ấn tượng (Trương Chính, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Thanh).
- Xác lập hệ phương pháp luận: Kết hợp góc nhìn văn học sử với việc ứng dụng các lý thuyết hiện đại (Thi pháp học, Tự sự học, Xã hội học văn học) để tạo nên chiều sâu chuyên ngành và bề rộng liên ngành trong việc giải mã hiện tượng Tự lực văn đoàn.
Chương 2: Tổng quan về văn xuôi nghệ thuật Tự lực văn đoàn nhìn từ thể loại
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết thể loại và phác thảo diện mạo tổng thể sáng tác của văn phái:
- Cơ sở lý luận về văn xuôi nghệ thuật: Xác định đặc tính thẩm mỹ của ngôn ngữ văn xuôi, vai trò của trí tưởng tượng và cơ chế hình thành các thể loại văn học.
- Tiêu chí phân chia hai nhóm loại hình: Làm rõ sự khác biệt bản chất giữa văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu dựa trên 3 tiêu chí: tâm lý sáng tạo, cấu trúc văn bản và quan hệ với hiện thực đời sống.
- Bối cảnh chuyển đổi hệ hình văn học: Phân tích sự chuyển dịch từ hệ hình văn học trung đại sang hệ hình văn học hiện đại đầu thế kỷ XX; vai trò kép của các thành viên Tự lực văn đoàn vừa là nhà văn vừa là nhà báo; sứ mệnh lịch sử của văn phái trong việc thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa ngôn ngữ và thể loại văn học dân tộc.
- Diện mạo tổng thể và cấu trúc thể loại: Tổng kết tính đa dạng về xu hướng và sự phong phú về thể loại của văn phái trên báo Phong Hóa và Ngày Nay thông qua các bảng thống kê định lượng tác phẩm.
+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG THỂ LOẠI VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN ĐƯỢC LUẬN ÁN KHẢO SÁT |
+-----------------------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Nhóm loại hình | Các thể loại cụ thể được phân tích |
+-----------------------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Nhóm văn xuôi hư cấu | - Tiểu thuyết (tiểu thuyết luận đề, phong tục, tâm lý, trinh thám)|
| (Fiction) | - Truyện ngắn và truyện vừa |
+-----------------------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Nhóm văn xuôi phi hư cấu | - Ký tự sự (phóng sự) |
| (Non-fiction) | - Ký trữ tình (tùy bút) |
| | - Tạp văn, tiểu phẩm trào phúng |
| | - Tiểu luận phê bình văn học |
+-----------------------------------+-------------------------------------------------------------------+
Chương 3: Đóng góp về thể loại văn xuôi hư cấu của Tự lực văn đoàn
Chương 3 đi sâu làm rõ những cách tân thi pháp mang tính bước ngoặt trong mảng văn xuôi hư cấu:
- Khái lược văn xuôi hư cấu trước năm 1932: Phân tích đặc điểm tự sự hư cấu thời trung đại (chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi, văn ngôn Hán học, nặng tính giáo huấn) và thời kỳ giao thời 1900 – 1930 (các tác phẩm của Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách... bước đầu có đổi mới nhưng kết cấu còn ước lệ, biền ngẫu).
- Hiện đại hóa nghệ thuật tiểu thuyết:
- Đổi mới kết cấu tác phẩm: Chuyển đổi từ kết cấu theo trật tự thời gian tuyến tính cơ học sang kết cấu theo quy luật tâm lý nhân vật và dòng ý thức.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Đi sâu khám phá thế giới nội tâm tinh tế, khắc họa xung đột giữa khát vọng tự do cá nhân và lễ giáo phong kiến gia đình; từ bỏ lối miêu tả ngoại hình công thức ước lệ.
- Nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ: Chuyển từ điểm nhìn toàn tri mang tính răn dạy sang điểm nhìn bên trong đa chiều; xây dựng câu văn quốc ngữ linh hoạt, trong sáng, giàu nhạc tính và hình ảnh.
- Hiện đại hóa nghệ thuật truyện ngắn: Khẳng định thành tựu truyện ngắn trữ tình không có cốt truyện ly kỳ của Thạch Lam (Gió đầu mùa, Nắng trong vườn) và truyện ngắn tâm lý, thế sự của Khái Hưng, Nhất Linh.
- Kết tinh quan niệm và cá tính sáng tạo: Phản ánh sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, xác lập quan niệm nghệ thuật mới mẻ và tôn trọng cá tính sáng tạo độc đáo của từng nhà văn trong tổ chức.
Chương 4: Đóng góp về thể loại văn xuôi phi hư cấu của Tự lực văn đoàn
Chương 4 chứng minh những đóng góp của văn phái ở mảng văn xuôi phi hư cấu:
- Khái lược văn xuôi phi hư cấu trước năm 1932: Điểm lại các hình thức ký sự, du ký, tạp văn truyền thống trung đại và giai đoạn đầu thế kỷ XX (trên báo Nam Phong, Nông Cổ Mín Đàm).
- Hiện đại hóa các thể loại phi hư cấu cụ thể:
- Hiện đại hóa ký tự sự (phóng sự): Tiêu biểu là tập phóng sự Trước vành móng ngựa của Hoàng Đạo, phản ánh chân thực các góc khuất xã hội và sự bất công của luật pháp thuộc địa nửa phong kiến bằng ngòi bút quan sát sắc bén.
- Hiện đại hóa ký trữ tình (tùy bút): Nâng tầm tùy bút thành thể văn ghi nhận những rung cảm thẩm mỹ tinh vi của cái tôi cá nhân trước cảnh vật và đời sống đô thị.
- Hiện đại hóa các hình thức khác: Cách tân tiểu phẩm trào phúng xã hội trên Phong Hóa, Ngày Nay; phát triển tiểu luận phê bình văn học mang tính lý luận và mỹ học hiện đại.
- Đổi mới quan niệm, xu hướng sáng tác và tiếp nhận: Xác lập hai xu hướng phi hư cấu rõ rệt (trữ tình thẩm mỹ và phê phán xã hội); định hình thói quen tiếp nhận văn học dân chủ, hiện đại và nhân bản cho công chúng độc giả đô thị.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xác lập khung lý luận loại hình văn xuôi: Luận án đã xây dựng một khung lý luận hoàn chỉnh để nhận diện và phân định hai loại hình văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu trong văn học Việt Nam hiện đại dựa trên 3 tiêu chí khoa học (tâm lý sáng tạo, cấu trúc văn bản, quan hệ thẩm mỹ với hiện thực).
- Hệ thống hóa thi pháp thể loại: Xây dựng hệ thống luận điểm khoa học, có căn cứ vững chắc nhằm khẳng định vai trò đổi mới thi pháp thể loại của Tự lực văn đoàn đối với tiến trình chuyển đổi hệ hình văn học từ trung đại sang hiện đại.
- Chứng minh bước phát triển nhảy vọt: Làm rõ thực chất những đóng góp của Tự lực văn đoàn không chỉ giới hạn ở phong trào Thơ mới hay tiểu thuyết luận đề mà bao trùm lên toàn bộ hệ thống thể loại văn xuôi của nền văn học dân tộc.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đóng góp cho phương pháp văn học sử: Đưa ra phương pháp tiếp cận công bằng, khoa học và thấu đáo đối với một hiện tượng văn học từng trải qua nhiều tranh luận phức tạp suốt gần một thế kỷ lịch sử.
- Ứng dụng trong công tác đào tạo và giảng dạy: Cung cấp nguồn tư liệu và hệ thống luận điểm giá trị để nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở bậc đại học, cao đẳng cũng như chương trình môn Ngữ văn ở các trường phổ thông.
Kiến nghị và đề xuất
- Vận dụng nhất quán quan điểm lịch sử cụ thể và lý thuyết loại hình trong việc biên soạn giáo trình văn học sử và sách giáo khoa Ngữ văn.
- Cần mở rộng việc đánh giá Tự lực văn đoàn ở mảng văn xuôi phi hư cấu (phóng sự, tiểu luận, tiểu phẩm trào phúng) bên cạnh mảng tiểu thuyết và truyện ngắn truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Do phạm vi đề tài tập trung vào phương diện thể loại văn xuôi, luận án chưa đi sâu khảo sát toàn bộ các mảng sáng tác nghệ thuật khác của Tự lực văn đoàn như phong trào Thơ mới hay kịch bản sân khấu (mặc dù các thành viên văn phái có sáng tác kịch và thơ).
- Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu của các tác giả thành viên chính thức trong giai đoạn 1932 – 1945, chưa bao quát toàn bộ các sáng tác của các tác giả ngoài nhóm có bài cộng tác thường xuyên trên báo của văn phái.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng khảo sát thể loại kịch bản sân khấu và các hoạt động văn hóa, xuất bản của Tự lực văn đoàn trong mối liên hệ với đời sống đô thị Việt Nam đầu thế kỷ XX.
- Nghiên cứu so sánh đối chiếu sâu hơn về mặt thi pháp thể loại giữa Tự lực văn đoàn với các nhóm văn phái cùng thời như nhóm Hàn Thuyên, Tân Dân, Tri Tân, Thanh Nghị.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Tham khảo khung lý thuyết loại hình văn xuôi hư cấu/phi hư cấu, phương pháp tiếp cận thi pháp học và tự sự học.
- Giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn trường phổ thông: Khai thác các phân tích văn bản cụ thể về tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo để phục vụ trực tiếp công tác giảng dạy tác gia, tác phẩm giai đoạn 1930 – 1945.
- Các nhà nghiên cứu văn học sử và phê bình văn học: Sử dụng hệ thống tư liệu lịch sử nghiên cứu gần một thế kỷ và các bảng thống kê tác phẩm trên hai tờ báo gốc Phong Hóa và Ngày Nay.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia hệ thống văn xuôi của Tự lực văn đoàn thành những nhóm loại hình nào?
Luận án phân chia văn xuôi nghệ thuật của Tự lực văn đoàn thành 2 nhóm loại hình chính:
- Nhóm văn xuôi hư cấu (Fiction): Gồm tiểu thuyết (tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết trinh thám/kinh dị) và truyện ngắn, truyện vừa.
- Nhóm văn xuôi phi hư cấu (Non-fiction): Gồm ký tự sự (phóng sự), ký trữ tình (tùy bút), tạp văn, tiểu phẩm trào phúng và tiểu luận phê bình văn học.
2. Ba tiêu chí khoa học mà luận án xác lập để phân định văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu là gì?
Tác giả xác lập 3 tiêu chí:
- Đặc trưng bản chất tâm lý sáng tạo trong tư duy nghệ thuật: Hư cấu dựa trên tưởng tượng sáng tạo; phi hư cấu dựa trên tưởng tượng tái hiện (phục hồi).
- Vai trò của hư cấu trong việc xây dựng thế giới nghệ thuật và cấu trúc văn bản: Hư cấu chi phối toàn bộ thế giới nhân vật, cốt truyện, thời gian/không gian nghệ thuật; phi hư cấu chỉ sử dụng hư cấu kín đáo ở khâu chọn điểm nhìn, cắt cảnh và tổ chức tư liệu.
- Mối quan hệ thẩm mỹ giữa chủ thể sáng tạo và thực tại đời sống: Ở văn xuôi hư cấu, thực tại là chất liệu được nhào nặn qua điển hình hóa; ở văn xuôi phi hư cấu, thực tại là đối tượng tái hiện trực tiếp với các sự kiện, con người xác thực.
3. Giới nghiên cứu văn học ở hai miền Nam - Bắc giai đoạn 1954 – 1975 có sự khác biệt gì khi tiếp cận văn xuôi Tự lực văn đoàn?
- Miền Bắc: Vận dụng chủ yếu hệ hình nghiên cứu xã hội học mác-xít; tập trung đánh giá nội dung tư tưởng chống phong kiến, giải phóng cá nhân nhưng phê phán lập trường cải lương; nhìn nhận còn dè dặt về mặt nghệ thuật (ngoại trừ công trình của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ có đi sâu vào thi pháp và tâm lý).
- Miền Nam: Vận dụng đa dạng hệ hình nghiên cứu (xã hội học, triết - mỹ, tâm lý học văn học); đánh giá cao và khẳng định thành tựu nghệ thuật, kỹ thuật xây dựng tiểu thuyết, cấu trúc trần thuật và sự cách tân câu văn quốc ngữ của nhóm.
4. Luận án chỉ ra đóng góp tiêu biểu nhất của Hoàng Đạo ở thể loại văn xuôi phi hư cấu nào?
Luận án chỉ ra đóng góp nổi bật của Hoàng Đạo ở thể loại phóng sự (ký tự sự) với tác phẩm Trước vành móng ngựa, nơi tác giả tái hiện chân thực, sắc bén chốn pháp đình và sự bất công của xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Đồng thời, Hoàng Đạo cũng được ghi nhận là cây bút sở trường về nghị luận, châm biếm và tiểu phẩm xã hội.
5. Nguồn tư liệu báo chí gốc nào được tác giả khảo sát để thống kê tác phẩm văn xuôi của Tự lực văn đoàn?
Nghiên cứu sinh đã khảo sát, thống kê và phân loại toàn bộ các tác phẩm văn xuôi hư cấu và phi hư cấu được đăng tải trên hai cơ quan ngôn luận chính thức của Tự lực văn đoàn là tuần báo Phong Hóa (từ số 56 ra ngày 22/7/1933) và tuần báo Ngày Nay, được hệ thống hóa chi tiết trong danh mục bảng biểu và các phụ lục của luận án.
Kết luận
Luận án "Đóng góp của văn xuôi Tự lực văn đoàn từ góc nhìn thể loại" của tác giả Hồ Thị Xuân Quỳnh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát và có hệ thống về toàn bộ di sản văn xuôi của nhóm văn phái quan trọng bậc nhất thế kỷ XX tại Việt Nam. Bằng việc xác lập khung lý thuyết loại hình vững chắc và tiếp cận đa chiều từ thi pháp học, tự sự học đến văn học sử, luận án đã làm sáng rõ những cách tân mang tính bước ngoặt của Tự lực văn đoàn trên cả hai trục văn xuôi hư cấu và phi hư cấu. Công trình khẳng định vai trò lịch sử của văn phái trong việc chuyển đổi căn bản hệ hình văn học trung đại sang hiện đại, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học dân tộc.