CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số vấn đề lý thuyết về trường nghĩa 1. Khái niệm trường nghĩa Lí thuyết về trường nghĩa đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra vào những thập kỉ 20 và 30 của thế kỉ XX. Từ khi ra đời đến nay lí thuyết này đã được vận dụng vào nghiên cứu nhiều kiểu trường nghĩa khác nhau.
Kiểu trường nghĩa được nghiên cứu phổ biến nhất là: “Nhóm từ vựng ngữ nghĩa”. Đó là kiểu trường nghĩa được xác lập dựa trên từ khái quát biểu thị các khái niệm chung nhất, trung hòa và trừu tượng nhất. Ví dụ: Trường nghĩa về con người, trường nghĩa về thiên nhiên, trường nghĩa động vật, trường nghĩa thực vật, trường nghĩa về hoa, trường nghĩa chỉ hoạt động của con người… Tiếp đến là kiểu trường nghĩa được xác lập theo một khái niệm chung nhất cho tất cả các từ của nhóm: nhóm các từ ngữ chỉ sự di chuyển trong không gian, nhóm các từ ngữ chỉ trạng thái của con người. Những kết cấu ngữ nghĩa của những từ đa nghĩa cũng được gọi là trường nghĩa và được nghiên cứu dựa trên lí thuyết về trường nghĩa, bởi lẽ giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa bao giờ cũng có một yếu tố chung, tạo nên trung tâm ngữ nghĩa để thu hút các từ có quan hệ với nó.
Ví dụ: Trường nghĩa của từ tấm, từ chân, từ chấm, từ tay, từ mắt… Lí thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây. Tư tưởng cơ bản của lí thuyết này là khảo sát từ vựng một cách có hệ thống. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa. Nhưng có thể quy vào hai khuynh hướng chủ yếu.
Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện. Đại diện cho khuynh hướng này là L. 11 Khuynh hướng thứ hai cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học. Trường nghĩa không phải phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa.
Đại biểu là Ispen. Ferdinand de Saussure là người đã khai sinh ra lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại. Trong các tài liệu của ông đã phân tích kỹ và làm rõ tính cấu trúc của ngôn ngữ, theo ông: Ngôn ngữ là một hệ thống trong đó mọi yếu tố không tách rời nhau, các yếu tố này tương tác phụ thuộc lẫn nhau và trong đó giá trị của yếu tố này chỉ là hệ quả của sự tồn tại đồng thời của những yếu tố khác [9, tr.202] và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng”. Những luận điểm về tính cấu trúc ở trên đã làm tiền đề để hình thành lý thuyết về các trường và là cơ sở để xác lập các trường nghĩa, cùng với việc khảo sát từ vựng một cách hệ thống sẽ thuận lợi cho việc nghiên cứu ngôn ngữ sau này.
Ngoài những tiền đề nói trên, đặc biệt lí thuyết trường nghĩa còn bắt ngôn ngữ, về quan hệ có tính võ đoán giữa hai bình diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt của một tín hiệu ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học đã xây dựng lý thuyết về trường nghĩa trên cơ sở các mối quan hệ của ngôn ngữ (quan hệ dọc và quan hệ ngang) và giữa các tín hiệu ngôn ngữ. Trường theo quan hệ dọc còn được gọi là trường trực tuyến - trường hệ thống hay trường đẳng lập (Paratactic field) còn trường theo quan hệ ngang được gọi là trường tuyến tính - trường tập hợp hay trường từ vựng - cú pháp (syntactic field). Theo mối quan hệ dọc tiêu biểu có các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như: J.Trier là người đầu tiên đưa ra lí thuyết về trường nghĩa, qua đó ông đã “mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngôn ngữ học” dựa trên những thành tựu nghiên cứu của mình.
Trong ngôn ngữ học thuật ngữ “trường” được đưa ra lần đầu tiên bởi J. Nhưng những nghiên cứu của ông chỉ dừng lại ở trường khái niệm 12 và trường từ vựng chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu trường ngữ nghĩa. Tập hợp các khái niệm có quan hệ với nhau được tổ chức một cách có hệ thống xung quanh một khái niệm trung tâm được gọi là trường khái niệm. Trong hệ thống trường khái niệm mỗi từ sẽ tương ứng với một khái niệm và mỗi trường khái niệm được hình thành bởi nhiều từ.
Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một trường khái niệm.Trier đã chia toàn bộ từ vựng thành những trường cấp cao, trường cấp cao lại chia thành các trường cấp thấp hơn,. cho đến những từ rời. Từ trong hệ thống đó chỉ có vai trò phụ.Trier cũng đã đưa ra những kết luận cho rằng trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường. Ông đã nghiên cứu, tìm hiểu rất kỹ về trường khái niệm, trường từ vựng để đúc rút ra những khái niệm trên.
Trong luận văn này chúng tôi dựa trên định nghĩa: “Trường nghĩa là một tổ chức các từ và các biến thể sử dụng từ có quan hệ với nhau làm thành một hệ thống”. Hệ thống này cho thấy mối liên kết giữa các thành phần kết cấu của chúng. Ví dụ những từ như tay, chân, lưng, bụng, đùi, gáy… đều thuộc về trường nghĩa chỉ các bộ phận của cơ thể người. Có thể hiểu: “mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa.
Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”. Từ đó ta thấy trường nghĩa là tập hợp một nhóm từ có mối quan hệ với nhau thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng một ngôn ngữ. Việc xác lập một trường nghĩa phải dựa trên những quy tắc và tiêu chí ngôn ngữ nhất định. Trường nghĩa cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu từ các tác giả ở Việt Nam như: Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, … Trong số các tác giả nghiên cứu về trường nghĩa tiêu biểu có Đỗ Hữu Châu, ông là người tiên phong đưa ra lý thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù ngôn ngữ liên quan đến trường nghĩa.
Cơ sở để ông xây dựng lý thuyết trường nghĩa của mình đó là việc nghiên cứu và vận dụng các lý thuyết về trường nghĩa của các tác giả khác ở nước ngoài. Sự phân lập trường của ông: Thứ nhất, ông phân chia từ vựng thành các trường từ vựng - ngữ 13 nghĩa để từ đó phát hiện ra tính hệ thống và tính cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa. Việc phân chia này giải thích cho các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị từ và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp; Thứ hai, ông đã phân biệt ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm cơ sở để phân lập trường là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của các từ. Cho nên, có thể phân ra hai loại trường từ vựng - ngữ nghĩa lớn là trường biểu vật và trường biểu niệm chứ không phải là trường sự vật và trường khái niệm.
Đỗ Hữu Châu định nghĩa: Các từ có sự tương đồng với nhau về ngữ nghĩa tập hợp lại thành một tiểu hệ thống ngữ nghĩa và được gọi là một trường nghĩa [6, tr. Qua định nghĩa trên ta thấy tiêu chí ngữ nghĩa là yếu tố cơ sở để phân lập trường nghĩa. Đỗ Hữu Châu coi đây là một tiêu chí quan trọng và nó cũng là tiêu chí định hướng cho các quan niệm về trường nghĩa của các nhà Việt ngữ khác sau này. Luận văn của chúng tôi lấy quan niệm về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu.
Tiêu chí phân lập trường nghĩa Việc phân định và xác lập một trường nghĩa về cơ bản có thể được dựa trên 7 tiêu chí sau. Tiêu chí thứ nhất: Phân lập dựa vào tiêu chí ngôn ngữ - những ý nghĩa ngôn ngữ. Ý nghĩa của ngôn ngữ được hình thành qua ý nghĩa của các từ, cơ sở để tập hợp các từ thành trường. Từ mang tư cách từ vị (lexeme), được xét trong những mối quan hệ: quan hệ hệ hình, quan hệ cú pháp, quan hệ phái sinh ngữ nghĩa.
Tiêu chí thứ hai: Trong trường nghĩa luôn luôn có một từ trọng tâm người ta gọi đó là trường hợp điển hình hay còn gọi là từ điển hình. Vậy tiêu chí thứ hai là phải tìm ra được các từ trung tâm - từ điển hình, chỉ mang cái đặc trưng từ vựng - ngôn ngữ được coi là cơ sở. Theo tiêu chí này, trường nghĩa có ranh giới tương đối, có thể độc lập hoặc giao nhau, bao hàm lẫn nhau, gồm trường hợp 14 điển hình (trung tâm) và trường hợp kém điển hình (ngoại vi). Hudson đã nói khá rõ điều này khi phân tích các cấp độ cơ bản của khái niệm.
Vận dụng kết quả nghiên cứu tâm lý học, nhân chủng học, Hudson cho rằng “trong các khái niệm cơ bản có ít nhất một vài cấu trúc thứ bậc”, chúng “được sắp xếp thứ tự quanh khái niệm cơ bản. Tiêu chí ba: dựa vào các lớp ý nghĩa biểu vật và biểu niệm, có thể phân biệt trường biểu vật và trường biểu niệm. Tiêu chí bốn: với trường biểu vật, tiêu chí xác lập chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu vật. Tiêu chí năm: với trường nghĩa biểu niệm, tiêu chí xác lập cũng chỉ là đồng nhất ở một nét nghĩa biểu niệm.
Tiêu chí sáu: với trường tuyến tính, là dựa hẳn vào ngữ nghĩa từ trung tâm. Từ trung tâm này có quan hệ mật thiết với các từ khác trong trường về ngữ nghĩa và cả ngữ pháp. Tiêu chí bảy: dùng để xác lập trường liên tưởng. Cơ sở tạo lập trường này là các nghĩa ngữ dụng (meaning in use) của từ trung tâm.
Đó là những nghĩa mới được tạo ra trong quá trình từ hành chức, chứa nhiều ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa. Khi đó, chúng sẽ tạo thành một trường nghĩa liên tưởng mà các từ có quan hệ với nhau nhờ những mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó. Các loại trường nghĩa Đỗ Hữu Châu đã dựa vào quan hệ dọc và quan hệ ngang để chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại khác nhau: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm (hai trường nghĩa dựa vào quan hệ dọc); trường nghĩa tuyến tính (dựa vào quan hệ ngang) và trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa quan hệ dọc và quan hệ ngang) 1.