CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Giới thuyết chung về biểu tượng 1. Khái niệm biểu tượng Biểu tượng xuất hiện sớm trong tư duy nhân loại ngay từ thời nguyên thuỷ, khi chưa có ngôn ngữ, con người đã biết sử dụng những tín/kí hiệu để đánh dấu và giao tiếp. Khởi nguyên của biểu tượng (Symbol) bắt nguồn từ tập quán Hy Lạp cổ đại, một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại.
Hai người mỗi người giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và kẻ đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này, ráp hai mảnh với nhau, họ sẽ nhận ra mối thân tình xưa, món nợ cũ hay tình bạn ngày trước. Biểu tượng chia ra và lại kết lại với nhau như vậy nên nó chứa hai ý nghĩa phân ly và tái hợp. Điều này cũng có nghĩa mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ, ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ trong cái vừa gãy vừa nối kết những phần đã bị vỡ ra. Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày, trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng nhằm diễn đạt một ý nghĩa mang tính trừu tượng.
Trong lịch sử đã có nhiều triết gia đã đề cập đến biểu tượng như Chu Hy - Nhà dịch số Trung Hoa thần bí, Hêghen - nhà triết học duy tâm khách quan Đức, sau này là Singmund Freud - Bác sĩ thần kinh, tâm thần người Áo rồi đến C.Jung… Theo quan niệm của Freud: "Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng" [55, tr.Jung, ông cho rằng: "Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng phải một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh" [55, tr.XXIV] hay "Cái mà chúng ta gọi là biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh, ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng những ý nghĩa khác, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của nó" [55, tr. 12 Theo Chu Hy, nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131-1200) trong "Dịch thuyết cương lĩnh" khi bàn về biểu tượng đã viết: "Tượng là lấy hình ảnh này để tỏ nghĩa kia" [12, tr.58] Biểu tượng được nghiên cứu và tiếp nhận khá sớm trong lịch sử, đứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau nhưng mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra khái niệm riêng phù hợp với ngành khoa học của mình như Triết học, Tâm lí học, Xã hội học. Theo Từ điển Tâm lý học Biểu tượng là “hình ảnh các vật thể, bối cảnh và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng.
Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính chất khái quát. Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai" [16, tr.41] Dưới góc độ xã hội học, biểu tượng được hiểu là “hình thức dùng hình này để tỏ nghĩa nọ” hay nói khác đi “mượn một cái gì đó để tượng trưng cho một cái gì khác” [36, tr.11] Dưới góc độ văn hóa học, biểu tượng “là bất kì thực thể nào có chứa nghĩa và có thể quy chiếu sang thực thể khác, chúng được sử dụng và được diễn giải như là một đại diện cho một loại thông tin nào đó căn cứ vào một tương ứng loại suy” [19, tr. Cũng theo tác giả, “Để con người có thể tư duy và thông báo với nhau bức tranh về thế giới ý niệm nằm trong đầu anh ta, con người đã sáng tạo ra một thế giới biểu tượng làm vật thay thế, làm cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới thực tại bằng cách mô phỏng một hiện tượng tự nhiên và cấp cho nó một ý nghĩa, một thông tin” [19, tr. Dù đứng trên quan điểm của những ngành khoa học khác nhau nhưng chúng ta vẫn có thể thấy điểm chung của biểu tượng: Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế nhưng cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể.
Nó vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp, được hình thành do sự phối hợp bổ sung lẫn nhau của các giác quan và sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp. Vì vậy, biểu tượng phản ánh đặc trưng của các sự vật, hiện tượng một cách khái quát nhất. Nhà nghiên cứu Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng: "Tự bản chất của biểu tượng, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các 13 thái cực lại trong cùng một ý niệm. Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà không nắm bắt được.
Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của một biểu tượng" [55, tr. Nói như Georges Gurvitch: "Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ" [55, tr.XIV] Con người với khả năng biểu trưng hóa có thể tiếp nhận hình ảnh trong thực tại bằng các biểu tượng và mở rộng khả năng nội hàm của nó. Theo phạm vi nghiên cứu và mục đích của luận văn, chúng tôi làm rõ nội hàm của hai khái niệm cơ bản: biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật. Biểu tượng văn hoá Văn hoá là một khái niệm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau dưới con mắt của nhiều ngành khoa học, văn hóa liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của con người.
Theo tác giả Nguyễn Văn Hậu, “Biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm và được coi như “hạt giống” của đời sống văn hóa”. “Cách tiếp cận văn hoá bằng các hình thái biểu tượng không có sự đối lập hoàn toàn với các cách tiếp cận văn hoá khác. Bởi ở góc độ nào đó để nghiên cứu về văn hoá đi chăng nữa thì văn hoá không có gì khác là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích luỹ được trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội. Hệ thống giá trị xã hội đó được khách thể hoá - biểu tượng hoá trở thành các biểu tượng nhờ vào năng lực tượng trưng hoá - một năng lực đặc trưng cơ bản của hoạt động người.
Biểu tượng được xem như là "tế bào"của văn hoá, nó làm nên toàn bộ đời sống văn hoá và chi phối mọi hoạt động, mọi ứng xử của con người trong đời sống xã hội.”3 F 2 Biểu tượng văn hóa bao gồm những biểu tượng vật thể như trong các ngành hội họa, điêu khắc, kiến trúc (tượng Nữ thần tự do là biểu tượng của nước Mỹ, chợ Bến Thành là biểu tượng của Việt Nam,…) đồng thời là biểu tượng phi vật thể (tín ngưỡng, phong tục, văn học),… Biểu tượng có khả năng mở rộng ý nghĩa hơn chính hình thức cảm tính, tồn tại và phát triển trong một hệ thống ổn định, đặc trưng cho Nguyễn Văn Hậu (19/4/2009), “Biểu tượng như là đơn vị cơ bản của văn hóa”, Tạp chí Văn hóa học 3 (http://vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/llvhh-nhung-van-de-chung/1186-nguyen-van-hau-bieu-tuong- nhu-la-don-vi-co-ban-cua-van-hoa.html) 14 nền văn hóa từng dân tộc. Tác giả Jean Chevalier cho rằng “biểu tượng có khả năng cùng lúc thâm nhập vào tận bên trong cá thể xã hội”, hiểu ý nghĩa biểu tượng là tiếp cận bản sắc văn hóa của dân tộc đó. Các biểu tượng văn hóa xuất hiện sâu rộng và có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần mỗi dân tộc, là nguồn mạch dân gian nuôi dưỡng những giá trị tâm linh. Mối quan hệ giữa biểu tượng văn hóa và con người tạo nên thế tương liên, đối thoại và sự quy ước chung theo chiều sâu.
Mỗi quốc gia có những biểu tượng đặc trưng cho mình, có khi cùng một biểu tượng nhưng ở mỗi nước lại có cách giải thích nghĩa khác nhau. Biểu tượng văn hóa cùng với sự phát triển trong đời sống ngày càng bồi đắp thêm ý nghĩa, ngày càng có nhiều biểu tượng mới xuất hiện theo cá tính sáng tạo của nhà văn. Đó là sự mở rộng nội hàm ý nghĩa, một đặc trưng của biểu tượng làm cho văn bản trở nên đa chiều tiếp thu và tiếp biến. Con người tư duy bằng biểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng và thể hiện tâm tư, tình cảm sâu kín nhất, những khát vọng của mình cũng bằng biểu tượng.
Vì thế đi sâu tìm hiểu những biểu tượng văn hoá là tìm thấy những giá trị khoa học và nhân văn của cả dân tộc. Biểu tượng nghệ thuật Biểu tượng nghệ thuật là một biến thể của biểu tượng văn hóa xét trên một ngành khoa học cụ thể như hội họa, âm nhạc,. Biểu tượng văn học là loại biểu tượng đa nghĩa, được xây dựng trong sáng tác văn chương.Jung: “Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng mối quan hệ liên cận, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng. Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che giấu đối với chúng ta” [55, tr.29] So với hình tượng, khả năng tạo nghĩa của biểu tượng vô cùng phong phú, hình tượng chỉ gói gọn trong phạm vi nghĩa nhất định còn biểu tượng tạo chiều sâu cho văn bản.
Từ một biểu tượng, chúng ta có thể hiểu nhiều hình tượng riêng biệt, tạo nên tính thống nhất hệ thống biểu tượng. Biểu tượng gần gũi với kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ… nhưng nếu kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ tạo ra những mối liên hệ lâm thời, rời rạc, những quy ước đơn giản giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, có tác dụng biểu 15 nghĩa thì biểu tượng tạo được sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa khác. Các tác giả “Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới” đã chỉ ra rằng: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu là một qui ước tuỳ tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [55, tr. Gilbert Durand cũng khẳng định: “biểu tượng rộng lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh” [55, tr.