Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nêu khái quát chung về văn bia và tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam cũng như văn bia tỉnh Nam Định. Chương 2: Khảo sát văn bia tỉnh Nam Định Tập trung khảo sát văn bia tỉnh Nam Định, hệ thống hóa văn bia theo không gian và thời gian, từ đó nêu lên đặc điểm văn bia tỉnh Nam Định. Chương 3: Giá trị tư liệu văn bia tỉnh Nam Định trong nghiên cứu lịch sử, địa lp va kinh té Nghiên cứu giá trị nội dung văn bia góp phần làm sáng tỏ những vẫn đề về điên cách địa danh lịch sử và phát triển kinh tế ở Nam Định thời kỳ trung đại. Chương 4: Giá trị tư liệu văn bia tỉnh Nam Định trong nghiên cứu văn hóa, giáo dục và tôn gido tn nguéng Nghiên cứu giá trị nội dung văn bia góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng ở Nam Định thời kỳ trung đại.
PHAN NOI DUNG CHUONG 1 TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN Việc nghiên cứu văn bia Việt Nam nói chung, nghiên cứu văn bia theo từng vùng miền nói riêng,. đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Trong chương tổng quan này, chúng tôi tiễn hành hệ thống hóa các công trình khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài. Qua đó, đưa ra các phân tích, đánh giá và nêu rõ những thành công và mức độ thành công của các công trình đi trước trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đề tài luận án và các vấn đề cần được giải quyết trong luận án.
Chương này, chúng tôi trình bày làm rõ tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án với những nội dung: mới /à tìm hiểu các khái niệm về nguồn gốc hình thành văn bia và các giới thuyết liên quan; fai /à tìm hiểu về tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam; ba /a tim hiểu tình hình, nghiên cứu, bảo tồn văn bia tỉnh Nam Định; öốn jà xác định hướng nghiên cứu của đề tài. Khái niệm và giới thuyết 1.L Khái niệm Bi Theo cuédn Tir nguyén chinh tuc bién hop dinh ban # RE #421 K, do Thương vụ ấn thư quán ïï#$# # #š ấn hành năm 1939 (tức năm thứ 28 Trung Hoa dân quốc) có ghi: “Bi (“#) “Bi # y thiết, âm “bi #8” chỉ vận” dựng đá vậy, nó sử dụng không giống nhau. Ngày xưa dùng [bi] để đánh dấu ánh mặt trời ở trong cung. Theo [Nghi lễ sính lễ trịnh chú]: “Trong cung tất có bi, sở đĩ để đánh đấu ánh mặt trời, dẫn âm đương vậy”.
hoặc lấy nó dé buộc con vật cúng tế. [Lễ tế nghĩa]: “Vua đắt con vật tế lễ vào trong miéu buộc vào bí”. Lại lấy bi để kéo quan tài. [Lễ đàn cung chú]: “Bia lớn (phong bi), đẽo cây gỗ to để làm nó, hình đáng giống như bia đá (thạch bị), dựng nó ở bến góc phía trước, phía sau của quan tài, đục (16) ở giữa làm con lăn, khi ha quan tài lấy dây thừng to quấn quanh.
Bậc Thiên tử dùng sáu dây thừng to và bốn bị, chư hầu dùng bốn dây thừng to và hai bi, quan đại phu dùng hai dây thừng to và hai bị, hoc trò kẻ sĩ dùng hai-đây thừng to và không dùng bi. Từ đời Hán về sau khắc chữ viết vào đá, dựng ở trong cung thất, nhà miễu, hoặc dé trong mộ cũng gọi là bia. [Lưu Hi thích danh] bia để kéo quan tài vậy. Thần tử (bề tôi và con) truy thuật lại công lao (đức hạnh) đẹp của vua và cha, viết chữ lên trên bia, người sau nhân đó mà dựng ở đầu đường phố, nơi dễ nhìn thấy, viết tên những người nỗi tiếng, tựu chung đều gọi là bia vậy” ' [301, tr.
Như vậy, Bi (2#) là những phiến đá đựng ở trong cung để đánh dấu ánh nắng mặt trời, hay những phiến đá dựng ở giữa sân tông miếu để buộc con vật cúng tế hoặc những phiến đá dùng để mai táng người chết hay trên phiên đá có ghi công đức của vua chúa hoặc cha mẹ mình. Bắt đầu từ nhà Hán trở về sau này người ta mới khắc chữ lên mặt phiến đá. Nội dung ghi trên phiến đá gọi là văn bia. Khái niệm văn bia (bị văn 2# %) Theo cuỗn Từ nguyên chính tục biên hợp đính bản Â* ÿ§ # tR §w@-3T #, do Thương vụ ấn thư quán TR Ÿ§ ÉP # #È ân hành năm 1939 (tức năm thứ 28 Trung Hoa dân quốc) có ghi: “Bi kiệt (248) là phiến đá được khắc văn tự, phiến đá vuông gọi là bì (Z#), phiến đá tròn gọi là kiệt (Z5), về sau thường hay dùng lẫn lộn”.
Như vậy, văn bia (ð¡ văn/ ## %) là nội dung văn tự được khắc trên phiến đá, có khi còn được khắc trên vật liệu gỗ. Theo nhà nghiên cứu người Trung Quốc, Chu Kiếm Tâm ®#|*> trong Kửn thạch họcl& ##: “Sử ký, Tân Thủy Hoàng bản kỷ ghi việc Thủy Hoàng (221 - 207 trước Công Nguyên - TCN) tuần du phương Đông, có 6 khắc đá: lên Trâu Dịch, lên Thái Sơn, lên Lang Nha, lên Chi Phù, lên Kiệt Thạch, lên Cối Kê, nhiều thuyết cho là khắc vào núi đá hoặc khắc vào tắm đá rồi dựng lên. Lại nói việc Nhị Thể (207 - 136 TCN) tuần du các quận huyện phía đông đều có khắc lên 3š 8] #2. È l218H#, [4È#WGS] ae, PVR AE.
SRR, RUZ BI. RAR RAR, RAZ Sl de; RIA +] 3.74 k 7À 2 1Ó ER HENKROAEZLEYPZMARE; PHEUAM, AFR OM, 3š 1á w 8 —⁄;, kk—## S1, + — H t & đt; l3 VÀ 14 tã Xi 6 3 2© g # BỊ B 5 R2 RỊ 3, HR x, [#| K4 % ] 24 VÀ 5| Tế b,, E † ¡6 ¡š 8 l3 2) %X, V83. & 14 lễ 2©1§ fa > ý§ BR R, G HL, ZRALAL, RAZ ° Nguyên văn: 248; GLMWMLFH. FHAP DEAR ASEM, tấm đá mà Thủy Hoàng đã dựng,.
Cái tên khắc thạch bắt đầu từ đó”. Chu Kiếm Tâm phân chia văn khắc trên đá thành các loại sau: khắc thạch 3] # (dùng để ghi công việc cho đời sau thường là những chủ đề như các bậc vua chúa đi tuần thú săn bắn để ca tung công đức, việc chỉnh phạt, đánh nhau giữ đất để ca ngợi công lao, hay việc hệ trọng của quốc gia như xây thành, đắp đê.); bi kiệt #48 (thudng để ghi lại nội dung tôn sùng bậc thành nhân, ca ngợi kẻ hiền tài, biểu dương người trung hậu, vua đi tuần thú, xây dựng trùng lăng tâm chùa đình miếu hay công văn và các sáng tác của văn nhân. [302] Ở Việt Nam, văn bia ra đời muộn hơn và theo Trịnh Khắc Mạnh thì: “Những nguyên tắc lập bia và những quy định về nội dung khi soạn bài văn, để khắc vào đá như nêu ở trên được Chu Kiếm Tâm nêu ra, theo chúng tôi chỉ có thể đúng với thời kì hình thành khai sáng ra thể loại văn bia mà thôi. Còn trên thực tế, trong quá trình phát triển, việc lập bia và soạn văn để khắc vào đá đã diễn ra hết sức phong phú, đa dạng.
Có loại còn giữ được đến ngày nay; nhưng cũng có loại không được lưu truyền, điều này diễn ra không chỉ ở chính nơi có truyền thống sáng tạo ra văn bia, mà ở cả các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống này”. Văn bia ở Việt Nam, hiện được biết sớm nhất là văn bia phát hiện tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh vào năm 2012. Bia có niên đại khoảng từ năm 314 đến năm 450, mặt thứ nhất có dòng niên đại Kiến Hưng nhị niên (314), mặt thứ hai có niên đại Tống Nguyên Gia chấp thất niên (450), nét chữ ở cả 2 mặt đều được khắc sâu và rõ nét. Hiện các nhà nghiên cứu Hán Nôm đang tìm biểu và sẽ giới thiệu đầy đủ hơn về tắm bia này trong thời gian tới.
tại Bắc Ninh lại phát hiện tâm bia có niên đại sớm với niên đại đời Tùy (601), tiếp đến tắm bia tìm thấy ở làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tính Thanh Hóa vào năm 1968. Bia có tiêu đề là Đại Tùy Cứu Chân quận Bảo An dao tràng chỉ bi văn kRñ ?L-#§ 1Ñ % 14392 Z£ %, niên đại bia được ghi rõ dựng ngày 8 tháng 4 năm Mậu Dân, niên đại Đại Nghiệp thứ 14 (618). Từ thời Dinh (968 - 980) trở đi, văn bia Việt Nam phát triển mạnh mẽ, rất phong phú về số lượng và đa dạng về thể loại. Thác bản văn bia Theo 7? nguyên chính tục biên hợp đính bản ‡ ⁄§ + tR tà 37 A, do Thuong vu ấn thie quan % ep S 4 ấn hành năm 1939 (tức năm thứ 28 Trung Hoa dân quốc) có ghi: “Bản được in đấu tích từ tắm bia cổ được gọi là thác bản (3£), cũng gọi là ban rập”'[301, tr.
Tại Việt Nam, việc sưu tầm tư liệu văn bia thông qua biện pháp in rập thành thác bản, sau đó đưa vào kho lưu trữ và đưa vào kho lưu trữ để phục vụ công tác nghiên cứu đã được triển khai vào những năm đầu thế kỷ XX, khi đó Viện Viễn đông Bác cổ Pháp (EFEO) tại Hà Nội đã tổ chức đợt in rập quy mô lớn ở 40 tỉnh thành trong phạm vị cả nước thời bấy giờ. Trong Lởi tựa của bộ sách Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam dưới sự chỉ đạo công trình của Trịnh Khắc Mạnh - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin, đây là thành quả của chương trình hợp tác giữa VNCHN của Việt Nam với EFEO và Viện Cao Học Thực Hành (EPHE) của nước Cộng hòa Pháp có ghi: “Tóm lại, chúng ta chỉ có thể khẳng định rằng chương trình in rập văn khắc đã bắt đầu từ năm 1910 với việc đào tạo một số nhân viên mà tên của họ đôi khi được ghi ở lề của các bản rập. Ban đầu nhóm nhân viên này tập trung ở thành phố Hà Nội và vùng phụ cận. Một năm sau đó, với tốc độ nhanh hơn, họ mở rộng ra các vùng nông thôn châu thổ sông Hồng” [65, Tập I, tr.
Như vậy, biện pháp in rap thác bản văn bia ở Việt Nam xuất hiện từ năm 1910 đầu thế kỷ XX. Thác bản văn bia là bản được in rập từ những tấm bia đá hiện vật ở các địa phương. Khi các thác bản được nhập vào kho và lên ký hiệu thư viện, mỗi kí hiệu của thác bản văn bia là một mặt của tâm bia đá được in rập về. Một tắm bia thường có ít Ì Nguyên văn: [2ø ‡-] ŠÝ† 3£b >.
10 nhat 1a một mặt hoặc nhiều hơn, trong đó mỗi một mặt bia tương ứng với một thác bản, tương ứng với một kí hiệu thư viện.