Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Hán Nôm (Mã số: 9 22 01 04) với đề tài "Nghiên cứu văn bia tỉnh Nam Định" do nghiên cứu sinh Trần Đại An thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Khắc Mạnh, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2022.

  • Tính cấp thiết của đề tài: Trong hệ thống di sản thành văn của dân tộc, văn bia Hán Nôm giữ vị trí quan trọng của văn hóa thành văn và văn học cổ điển phương Đông. Văn bia là nguồn sử liệu trực tiếp, chuẩn xác phản ánh toàn diện các phương diện lịch sử, kinh tế, giáo dục, văn hóa, phong tục tập quán và tôn giáo tín ngưỡng qua các giai đoạn phát triển. Nam Định là vùng đất cổ giàu bản sắc, từng là nơi phát tích và xây dựng hành cung Thiên Trường của vương triều Trần, đồng thời là một trung tâm kinh tế, quân sự và văn hóa lớn của châu thổ sông Hồng. Nguồn tư liệu văn bia trên địa bàn tỉnh có số lượng phong phú, phản ánh quá trình hình thành, phát triển của địa phương và bổ sung nhiều dữ liệu không có trong chính sử.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Trước luận án, các nghiên cứu về văn bia Nam Định chỉ dừng lại ở việc phiên dịch, giới thiệu đơn lẻ một vài văn bia phục vụ việc xếp hạng di tích cục bộ hoặc các bài khảo sát rời rạc trên báo, tạp chí chuyên ngành. Chưa có công trình nào tiến hành kiểm kê, thống kê, phân loại và khai thác giá trị tư liệu của văn bia Nam Định một cách toàn diện, đồng bộ và có hệ thống khoa học trên phạm vi toàn tỉnh.
  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu văn bia Hán Nôm tỉnh Nam Định trên cơ sở khảo sát các bộ sưu tập thác bản và tư liệu hiện vật điền dã.
    2. Phân tích các đặc điểm văn bản học, văn tự, nghệ thuật trang trí, niên đại và đội ngũ tác giả tạo tác văn bia; xác định quy luật phân bố của văn bia theo thời gian và không gian.
    3. Khai thác, minh giải hệ giá trị nội dung của văn bia Nam Định phục vụ nghiên cứu lịch sử, địa lý, kinh tế - xã hội, giáo dục Nho học và tôn giáo tín ngưỡng; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác bảo tồn di sản văn hóa địa phương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bia Hán Nôm tỉnh Nam Định gồm 2.155 đơn vị văn bia (trong đó có 2.151 thác bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và 04 văn bia hiện vật do tác giả phát hiện qua khảo sát điền dã tại địa phương).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Nam Định năm 2020 gồm 10 đơn vị hành chính (01 thành phố Nam Định và 09 huyện: Giao Thủy, Hải Hậu, Mỹ Lộc, Nam Trực, Nghĩa Hưng, Trực Ninh, Vụ Bản, Xuân Trường, Ý Yên).
    • Thời gian: Khảo sát các văn bia có niên đại trải dài từ thời Lý năm 1122 (văn bia sớm nhất) đến năm 1984 (văn bia muộn nhất).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan theo các nhóm tư liệu và công trình cụ thể:

1. Tư liệu Hán Nôm cổ ghi chép về văn bia

  • Tác phẩm Thiền uyển tập anh được tác giả Lê Mạnh Thát chỉ ra là có hai lần dẫn văn bia nhằm mục đích kiểm tra giá trị sử liệu của các tư liệu khác và bổ sung thông tin về tiểu truyện nhân vật.
  • Bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư (quyển VII, kỷ nhà Trần) trích lục tóm lược hai bài văn bia của Trương Hán Siêu và Lê Quát.
  • Tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích tuyển chọn các bài văn bia tiêu biểu.
  • Tập sách Lê triều lịch khoa Tiến sĩ đề danh bi ký do Lê Cao Lãng sao chép 82 văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội vào giữa thế kỷ XIX.

2. Các công trình thư mục và tổng tập thác bản văn bia

  • Thư mục văn bia (Ban Hán Nôm, 1978, 29 tập) xây dựng trên cơ sở 11.275 thác bản do Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) sưu tầm.
  • Thư mục bia giản lược (Hoàng Lê chủ biên, 1996, 30 tập đánh máy tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
  • Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Tuyển chọn và lược thuật (Nguyễn Quang Hồng chủ biên, NXB Khoa học Xã hội, 1992), tuyển chọn 1.919 thác bản, trong đó giới thiệu 40 văn bia của Nam Định.
  • Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm (Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin chỉ đạo, 2006–2010, 22 tập) công bố 22.000 ký hiệu thác bản do EFEO in rập.
  • Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh chủ biên, 11 tập, xuất bản từ 2007 đến 2020).

3. Các tuyển tập biên dịch và công bố văn bia

  • Bộ Thơ văn Lý - Trần (Viện Văn học, 3 tập, 1977–1988) dịch 18 văn bia, trong đó có 2 bia Nam Định: Viên Quang tự bi minh tịnh tự (1121/1122) tại chùa Nghĩa Xá và Phụng Dương công chúa thần đạo bi minh tịnh tự (1293) tại đình Cao Đài.
  • Tuyển tập văn bia Hà Nội (Ban Hán Nôm, 1978, 2 tập).
  • Văn bia thời Mạc (Đinh Khắc Thuân, 1996, bổ sung 2010 gồm 162 bia).
  • Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (tập I) Từ Bắc thuộc đến thời Lý (1998) và Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Trần triều 1226 - 1400) (2000).
  • Văn bia Quốc tử giám Hà Nội (Đỗ Văn Ninh, 2000) và Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh).
  • Tuyển tập văn bia Lê sơ (Phạm Thị Thùy Vinh, NXB Khoa học Xã hội, 2014), dịch 67 văn bia, có 01 bia Nam Định là bia Vỗ đê (1472) tại xã Phù Sa Thượng, Nghĩa Hưng.
  • Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu văn bia (Trịnh Khắc Mạnh chủ biên), công bố 2 bia Nam Định: Tam bảo thị/ Hưng công đức ký (Mỹ Xá) và Tân lập Hoàng thị/ Linh bi minh ký (Lập Vượng, Vụ Bản).
  • Văn bia thời Trần (Thích Đức Thiện, Đinh Khắc Thuân đồng chủ biên, 2016), giới thiệu 2 văn bia tại Nam Định: bia Phụng Dương công chúa và Sùng Hưng tự điền bi (Tiểu Liêm, Mỹ Lộc).

4. Các nghiên cứu lý luận, chuyên đề và địa phương

  • Nghiên cứu lý luận: Công trình của Trần Văn Giáp (1969); Một số vấn đề về văn bản học Hán Nôm (1983); Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại của Ngô Đức Thọ (1997); Khảo sát giám định niên đại thác bản văn bia của Nguyễn Văn Nguyên (2007); Một số vấn đề về Văn bia Việt Nam (2008) và Bi ký học và văn bản bi ký Hán Nôm Việt Nam (2013) của Trịnh Khắc Mạnh; Các thể văn chữ Hán Việt Nam của Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm (2010).
  • Nghiên cứu theo chủ đề: Luận án Phó Tiến sĩ của Trịnh Khắc Mạnh (Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, 1990); luận án của Nguyễn Hữu Mùi (2006, văn bia khuyến học), Trần Thị Thu Hường (2015, bia Hậu thần), Vũ Thị Lan Anh (2019, văn bia Tạo lệ), Đỗ Thị Bích Tuyển (2013, văn bia chữ Nôm).
  • Nghiên cứu văn bia theo địa phương: Phạm Thị Thùy Vinh (1996, xứ Kinh Bắc), Nguyễn Thị Kim Hoa (2012, Hải Phòng), Nguyễn Kim Măng (2014, Ninh Bình), Nguyễn Hoàng Thân (2015, Quảng Nam), Đoàn Trung Hữu (2015, Thừa Thiên Huế), Phạm Ngọc Hường (2018, TP. Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn Phong (2016, Bắc Giang).
  • Nghiên cứu về Nam Định: Bài viết của Nguyễn Huy Thức (1987, khảo sát 192 thác bản tại Nam Trực và Trực Ninh); Nguyễn Thị Bình (2003, khảo cứu bia lập trại Sĩ Lâm của Phạm Văn Nghị); Trần Đại An (2020, văn bia huyện Mỹ Lộc và văn bia quai đê lấn biển tại Nam Định); đề tài khoa học cấp tỉnh "Sưu tầm, biên dịch và xuất bản di văn Hán Nôm tỉnh Nam Định" do Trịnh Khắc Mạnh làm chủ nhiệm.

Khoảng trống luận án giải quyết: Khắc phục tình trạng nghiên cứu phân tán, luận án tiến hành giám định, xử lý trùng lặp giữa hai kho thác bản EFEO và Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thiết lập cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh 2.155 văn bia trên phạm vi toàn tỉnh Nam Định, đồng thời khai thác có hệ thống các giá trị lịch sử, địa lý, kinh tế, giáo dục và tôn giáo tín ngưỡng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý thuyết:
    • Luận án vận dụng lý thuyết Minh văn học (Epigraphy) / Bi ký học, coi văn bia là những "trang sử đá", tác phẩm văn bản thành văn phản ánh hiện thực lịch sử văn hóa. Lý thuyết này định hướng cho việc thống kê, phân loại, giải thích và minh giải cấu trúc, chức năng của hệ thống văn bia theo thời gian và không gian.
    • Các khái niệm công cụ: Khái niệm "Bi" (phiến đá nguyên thủy dùng đo bóng mặt trời, buộc tế vật, táng quan, sau khắc chữ), "Bi văn" (nội dung văn tự khắc trên đá hoặc gỗ), "Bi kiệt" (phiến đá vuông gọi là bi, phiến đá tròn gọi là kiệt), "Thác bản" (bản in dập từ mặt bia đá sang giấy để lưu trữ và nghiên cứu).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    1. Phương pháp văn bản học: Giám định hình thức, cấu trúc, dị bản, tự dạng chữ húy và đối chiếu thác bản với hiện vật đá để xác định các bản thiện bản đáng tin cậy.
    2. Phương pháp định lượng: Ứng dụng các thao tác thống kê toán học, lập bảng đối chiếu, xử lý trùng lặp mã thư viện, phân loại 2.155 văn bia theo triều đại, niên đại, đơn vị hành chính và loại hình di tích.
    3. Phương pháp phiên dịch học: Phiên âm, dịch nghĩa, chú giải các thuật ngữ lịch sử, địa danh, chức quan và điển cố trong văn bia.
    4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức Hán Nôm học với sử học, địa lý học lịch sử, xã hội học và tôn giáo học nhằm giải mã đa chiều nội dung văn bản.
    5. Phương pháp khảo sát điền dã: Thực địa tại các di tích ở Nam Định để đối chiếu thác bản với bia đá thực tế, thu thập tư liệu về không gian bảo tồn và phát hiện bổ sung 04 văn bia chưa có thác bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  • Nguồn tư liệu: 2.151 thác bản văn bia lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 04 văn bia hiện vật khảo sát tại Nam Định, cùng hệ thống chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư), địa chí (Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Đồng Khánh địa dư chí, Nam Định tỉnh địa dư chí...).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương 1 làm rõ lịch sử biến đổi địa lý hành chính của Nam Định qua các thời kỳ: thời Hùng Vương (bộ Lục Hải); thời Bắc thuộc (Tống Châu, Giao Châu); thời Lý - Trần (lộ Thiên Trường, phủ Ứng Phong); thời Lê (Nam Đạo, Thừa tuyên Thiên Trường, Thừa tuyên Sơn Nam, xứ Sơn Nam); thời Nguyễn (trấn Nam Định, lập tỉnh Nam Định năm 1831, tách tỉnh Thái Bình năm 1890); các thay đổi sáp nhập sau năm 1945 (tỉnh Nam Hà, Hà Nam Ninh) và tái lập tỉnh Nam Định năm 1996 với 10 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố ổn định từ năm 1997.

Chương này tập trung xử lý dữ liệu và loại trừ hiện tượng trùng lặp mã thác bản giữa hai đợt sưu tầm của EFEO và Viện Nghiên cứu Hán Nôm:

  • EFEO sưu tầm 568 đơn vị thác bản, qua đối chiếu phát hiện 07 đơn vị bị in dập 2 lần, số thực tế là 561 đơn vị.
  • Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm 1.785 đơn vị thác bản.
  • Số lượng thác bản EFEO trùng với thác bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm là 195 đơn vị.
  • Tác giả điền dã bổ sung 04 văn bia chưa có thác bản.
  • Tổng số văn bia thực tế được xác lập chính xác: $561 + 1.785 + 4 - 195 = 2.155$ văn bia.
STT Đơn vị hành chính Số lượng EFEO Số lượng VNCHN NCS sưu tầm Tổng số thác bản Thác bản trùng EFEO - VNCHN Số lượng thực tế
1 Tp. Nam Định 213 177 0 390 69 321
2 Huyện Giao Thủy 0 36 0 36 0 36
3 Huyện Hải Hậu 9 224 0 233 1 232
4 Huyện Mỹ Lộc 95 47 0 142 12 130
5 Huyện Nam Trực 34 136 0 170 12 158
6 Huyện Nghĩa Hưng 38 36 0 74 14 60
7 Huyện Trực Ninh 2 432 4 438 4 434
8 Huyện Vụ Bản 37 201 0 238 16 222
9 Huyện Xuân Trường 29 254 0 283 8 275
10 Huyện Ý Yên 111 207 0 318 31 287
Tổng Toàn tỉnh 568 (thực 561) 1.785 4 2.350 195 2.155

CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT VĂN BIA TỈNH NAM ĐỊNH

Chương 2 phân loại và phân tích 2.155 văn bia trên các bình diện thời gian, không gian, hình thức thể loại, tác giả và văn tự:

1. Phân bố theo thời gian và triều đại

  • Văn bia có ghi niên đại: 1.469 bia; Không ghi niên đại: 571 bia (26,50% - chủ yếu là nhóm bia bầu Hậu, gửi giỗ); Ghi theo Can - Chi: 97 bia (4,50%); Niên đại Trung Quốc: 01 bia (Quang Tự năm 1879 tại chùa Phổ Minh); Dựng sau năm 1945: 24 bia (1,11%).
STT Triều đại lịch sử Số lượng văn bia Tỷ lệ (%)
1 Thời Lý (1010 - 1225) 1 0,05%
2 Thời Trần (1225 - 1400) 2 0,09%
3 Thời Lê sơ (1428 - 1527) 1 0,05%
4 Thời Mạc (1527 - 1592) 12 0,56%
5 Thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788) 135 6,26%
6 Thời Tây Sơn (1788 - 1802) 6 0,28%
7 Thời Nguyễn (1802 - 1945) 1.305 60,56%
8 Sau Cách mạng tháng 8/1945 24 1,11%
9 Không ghi niên đại 571 26,50%
10 Ghi niên đại theo Can - Chi 97 4,50%
11 Ghi niên đại triều đại Trung Quốc 1 0,05%
Tổng 2.155 100%
  • Chi tiết các niên đại tiêu biểu: Niên đại có số bia nhiều nhất là Bảo Đại với 360 bia (16,71%), tiếp theo là Tự Đức với 323 bia, Thành Thái 181 bia, Khải Định 128 bia, Duy Tân 121 bia, Minh Mệnh 50 bia, Cảnh Hưng 33 bia, Chính Hòa 28 bia, Vĩnh Thịnh 15 bia.

2. Phân bố theo không gian địa giới hành chính

  • Văn bia phân bố không đồng đều giữa các huyện: Huyện Trực Ninh có số bia lớn nhất toàn tỉnh với 434 bia (20,14%), riêng chùa Cổ Lễ lưu giữ 264 bia. Đứng thứ hai là Tp. Nam Định với 321 bia (14,90%), Ý Yên có 287 bia (13,32%), Xuân Trường có 275 bia (12,76%), Hải Hậu có 232 bia (10,77%), Vụ Bản có 222 bia (10,30%), Nam Trực có 158 bia (7,33%), Mỹ Lộc có 130 bia (6,03%), Nghĩa Hưng có 60 bia (2,78%). Huyện Giao Thủy có số lượng ít nhất với 36 bia (1,67%) do đa phần giáo dân theo đạo Công giáo thuộc Giáo phận Bùi Chu.

3. Phân bố theo loại hình di tích

STT Loại hình di tích Số lượng văn bia Tỷ lệ (%)
1 Chùa 1.317 61,11%
2 Đền, miếu, điện, phủ 251 11,65%
3 Từ đường (nhà thờ họ) 223 10,35%
4 Đình làng 203 9,42%
5 Cầu, cống, đê điều 71 3,29%
6 Văn từ, văn chỉ 50 2,32%
7 Lăng mộ 21 0,97%
8 Nhà thờ Công giáo 13 0,60%
9 Chợ 6 0,28%
Tổng 2.155 100%

CHƯƠNG 3. GIÁ TRỊ TƯ LIỆU VĂN BIA TỈNH NAM ĐỊNH TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ VÀ KINH TẾ

Chương 3 khai thác dữ liệu từ văn bia để giải quyết các vấn đề lịch sử, địa lý và phát triển kinh tế địa phương thời trung - cận đại:

  • Lịch sử và địa lý:
    • Văn bia bảo lưu thông tin về diên cách tên gọi làng xã, sự chia tách và sáp nhập các đơn vị hành chính tổng, huyện, phủ qua các triều đại phong kiến.
    • Tái hiện diện mạo lịch sử của phủ Thiên Trường - trung tâm quyền lực thứ hai của Đại Việt thời Trần; cung cấp tư liệu minh chứng về nguồn gốc, quan hệ tông tộc và các nhân vật lịch sử thuộc dòng họ nhà Trần.
  • Kinh tế và xã hội:
    • Công cuộc quai đê lấn biển: Văn bia ghi nhận chi tiết quá trình khai hoang, mở mang ruộng đất ven biển tại Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thủy; ghi nhận công lao của các danh nhân như Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, Tam Đăng Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (bia lập trại Sĩ Lâm tại xã Nghĩa Lâm), Tiến sĩ Đỗ Phát (mở đất tổng Tân Khai), cùng công tích của các bậc tiền nhân "tứ tính, cửu tộc" khai sáng xã Quần Anh năm 1511.
    • Hạ tầng giao thông và thủy lợi: Văn bia cầu, cống, đường sá (71 văn bia) ghi nhận việc đóng góp tiền của xây dựng cầu đá, đắp đê ngăn mặn bảo vệ mùa màng.
    • Mạng lưới chợ truyền thống: Văn bia chợ (tiêu biểu như bia chợ Tam Bảo tại Mai Xá, bia chợ Hoàng tại Lập Vượng) phản ánh sự hình thành điểm giao thương, quy định thời gian họp chợ, lệ thu thuế và hoạt động trao đổi hàng hóa của cư dân nông thôn.

CHƯƠNG 4. GIÁ TRỊ TƯ LIỆU VĂN BIA TỈNH NAM ĐỊNH TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG

Chương 4 khảo cứu đời sống tinh thần, giáo dục khoa cử và tín ngưỡng của vùng đất Nam Định:

  • Giáo dục Nho học:
    • 50 văn bia tại các văn từ, văn chỉ phản ánh truyền thống hiếu học, sự tôn vinh đạo Nho và việc tổ chức tế tự khuyến học tại các làng xã.
    • Ghi danh các danh nhân khoa bảng đỗ đạt của Nam Định như Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Trạng nguyên Vũ Tuấn Chiêu, Trạng nguyên Trần Văn Bảo, Trạng nguyên Đào Sư Tích, cùng nhiều vị Tiến sĩ Nho học qua các thời kỳ.
  • Lịch sử di tích văn hóa:
    • Văn bia cung cấp biên niên sử chuẩn xác về các đợt trùng tu, quy mô kiến trúc của các di tích tiêu biểu: Quần thể đền Trần và chùa Phổ Minh (phường Lộc Vượng, Tp. Nam Định), Chùa Cổ Lễ (Trực Ninh - nơi thờ Đức Thánh tổ Nguyễn Minh Không, lưu giữ 264 bia đá), Chùa Đại Bi (Nam Trực - thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh), Chùa Thần Quang / chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường).
  • Tôn giáo và tín ngưỡng:
    • Tục bầu Hậu và bia Hậu: Chiếm số lượng lớn trong các chùa, đình, đền; ghi lại tục lệ gửi giỗ, cúng giỗ của Hậu Phật, Hậu Thần, Hậu Hiền nhằm duy trì hương hỏa và trợ giúp công quỹ làng xã.
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu: Tư liệu văn bia tại quần thể di tích Phủ Dầy (Vụ Bản) và phủ Quảng Cung (Ý Yên) phản ánh nguồn gốc, sự tích giáng sinh và nghi lễ phụng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
    • Công giáo và Hội Từ thiện: 13 văn bia Công giáo ghi chép quá trình truyền bá đạo Gia Tô và sự tiếp biến văn hóa; văn bia của các Hội Từ thiện phản ánh tinh thần tương thân tương ái, cứu tế xã hội trong cộng đồng làng xã truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Tổng kiểm kê và định lượng toàn diện: Luận án là công trình khoa học đầu tiên tập hợp, kiểm kê, xử lý trùng lặp và xác lập danh mục chuẩn xác 2.155 văn bia Hán Nôm tỉnh Nam Định (gồm 2.151 thác bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và 04 văn bia hiện vật do tác giả sưu tầm thực địa).
  2. Phân loại khoa học theo chuẩn Minh văn học: Hệ thống hóa toàn bộ văn bia Nam Định trên hai trục: trục thời gian (phân theo triều đại từ thời Lý đến sau năm 1945 và 40 niên đại lịch sử cụ thể) và trục không gian (10 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố và 9 nhóm loại hình di tích), chỉ ra đặc điểm phân bố mật độ văn bia tại vùng châu thổ sông Hồng.
  3. Đặc trưng văn bản và đội ngũ tạo tác: Phân tích hình thức văn bản, nghệ thuật chạm khắc hoa văn trang trí, thống kê tự dạng chữ húy và khảo sát cơ cấu đội ngũ tác giả soạn tác bia đá (từ quan chức, văn thân đỗ Tiến sĩ đến trí thức địa phương và thợ đá).
  4. Khai thác giá trị tư liệu đa ngành: Làm sáng tỏ các giá trị lịch sử - địa lý (diên cách địa danh, diện mạo phủ Thiên Trường, dòng họ Trần), kinh tế (quai đê lấn biển, giao thông, chợ búa), giáo dục Nho học (khoa bảng, văn chỉ) và tín ngưỡng tôn giáo (bia Hậu, đạo Phật, thờ Mẫu, Công giáo). Đồng thời tuyển dịch, khảo chú và giới thiệu toàn văn 10 văn bia tiêu biểu của tỉnh Nam Định.
  5. Đề xuất ứng dụng thực tiễn: Đưa ra cơ sở dữ liệu thư mục giúp ngành văn hóa địa phương hoạch định phương án bảo tồn, số hóa, tu bổ di tích lịch sử và phát huy giá trị di sản Hán Nôm trong phát triển văn hóa - du lịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nguồn tư liệu của luận án chủ yếu dựa trên các thác bản in rập lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; việc khảo sát điền dã đối chiếu trực tiếp hiện vật đá tại di tích chỉ mới thực hiện ở các trường hợp nghi vấn văn bản và một số di tích trọng điểm.
    • Số lượng văn bia dựng sau năm 1945 và các bia hiện vật rải rác trong các tư gia, họ tộc tại các làng xã thực tế có thể còn nhiều hơn số lượng đã được phát hiện và thống kê.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng điều tra điền dã toàn diện trên toàn địa bàn 10 huyện, thành phố của tỉnh Nam Định nhằm dập bổ sung thác bản các bia đá hiện vật còn thất lạc trong dân gian.
    • Tiến hành phiên dịch toàn văn, chú giải và xuất bản toàn bộ kho tư liệu văn bia Hán Nôm tỉnh Nam Định.
    • Đi sâu nghiên cứu chuyên đề về từng nhóm văn bia đặc thù như: hệ thống văn bia quai đê lấn biển vùng ven biển Nam Định, văn bia Hậu thế kỷ XVII - XVIII, hoặc các minh văn trên chuông đồng, khánh đá.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên chuyên ngành Hán Nôm, Lịch sử, Văn hóa học, Địa lý học lịch sử: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tiếp cận Minh văn học, phương pháp định lượng và xử lý trùng lặp mã thác bản trong nghiên cứu văn khắc địa phương.
  • Đối với các nhà quản lý văn hóa và cơ quan bảo tồn di tích: Cung cấp bộ hồ sơ tra cứu dữ liệu gốc về niên đại, lịch sử xây dựng, trùng tu của các di tích đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn tỉnh Nam Định phục vụ công tác xếp hạng di tích và bảo tồn di sản.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng thống kê định lượng phân bố văn bia (Chương 2), các tư liệu về công cuộc quai đê lấn biển và mạng lưới chợ cổ (Chương 3), cùng dữ liệu về lịch sử các di tích chùa Cổ Lễ, chùa Phổ Minh, đền Trần và tục bầu Hậu (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng số lượng văn bia Hán Nôm tỉnh Nam Định được luận án xác định chính xác là bao nhiêu và cách xử lý trùng lặp ra sao?
Luận án xác định tổng số văn bia thực tế của tỉnh Nam Định là 2.155 văn bia. Số liệu này được tính toán sau khi đối chiếu hai kho tư liệu: EFEO có 568 thác bản (loại trừ 7 thác bản in 2 lần còn 561 đơn vị), Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 1.785 thác bản, loại trừ 195 thác bản trùng giữa EFEO và Viện Nghiên cứu Hán Nôm, và cộng thêm 04 văn bia hiện vật do tác giả điền dã sưu tầm ($561 + 1.785 - 195 + 4 = 2.155$).

2. Triều đại và niên đại nào có số lượng văn bia Nam Định chiếm tỷ lệ cao nhất?
Xét theo triều đại, thời nhà Nguyễn (1802 - 1945) có số lượng văn bia nhiều nhất với 1.305 văn bia, chiếm tỷ lệ 60,56%. Xét theo niên đại cụ thể của các vị vua, niên đại Bảo Đại (1926 - 1945) chiếm số lượng lớn nhất với 360 văn bia (tỷ lệ 16,71%), tiếp đến là niên đại Tự Đức (1848 - 1883) với 323 văn bia. Ngoài ra, nhóm văn bia không ghi niên đại chiếm tới 571 bia (26,50%).

3. Đơn vị hành chính cấp huyện nào tại Nam Định có nhiều văn bia nhất và di tích nào lưu giữ số lượng bia lớn nhất?
Huyện Trực Ninh là đơn vị hành chính tập trung nhiều văn bia nhất tỉnh với 434 văn bia (chiếm 20,14%). Di tích có mật độ bia lớn nhất toàn tỉnh là chùa Cổ Lễ (thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh) với 264 văn bia, chiếm 60,83% tổng số văn bia của toàn huyện Trực Ninh.

4. Văn bia tỉnh Nam Định phân bố chủ yếu ở loại hình di tích nào?
Văn bia Nam Định phân bố áp đảo tại các cơ sở Phật giáo: loại hình chùa có 1.317 văn bia, chiếm tỷ lệ 61,11% tổng số văn bia toàn tỉnh. Các loại hình tiếp theo gồm đền/miếu/điện/phủ (251 bia, 11,65%), từ đường dòng họ (223 bia, 10,35%), đình làng (203 bia, 9,42%), cầu/cống/đê (71 bia, 3,29%), văn từ/văn chỉ (50 bia, 2,32%), lăng mộ (21 bia, 0,97%), nhà thờ Công giáo (13 bia, 0,60%) và chợ (6 bia, 0,28%).

5. Văn bia Nam Định phản ánh những sự kiện kinh tế nổi bật nào về công cuộc quai đê lấn biển?
Văn bia phản ánh công cuộc khai hoang, đắp đê ngăn mặn lấn biển qua các thời kỳ: công tích khai sáng xã Quần Anh năm 1511 của nhóm "tứ tính, cửu tộc"; công cuộc lập tổng Cửu An - Nhất Phúc năm 1829 của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ; việc thành lập trại Sĩ Lâm tại Nghĩa Hưng của Tam Đăng Hoàng giáp Phạm Văn Nghị; việc mở đất tổng Tân Khai năm 1864 của Tiến sĩ Đỗ Phát; và việc ghi nhận chiều dài tuyến đê Hồng Đức qua văn bia Vỗ đê (1472) tại Phù Sa Thượng (Nghĩa Hưng).


Kết luận

Luận án "Nghiên cứu văn bia tỉnh Nam Định" của tác giả Trần Đại An là công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn diện kho tàng 2.155 văn bia Hán Nôm tại tỉnh Nam Định từ thế kỷ XII đến thế kỷ XX. Thông qua phương pháp Minh văn học, văn bản học và thống kê định lượng, công trình đã làm sáng tỏ quy luật phân bố không gian - thời gian, đặc trưng văn bản và đội ngũ tác giả tạo tác bia đá. Đồng thời, luận án đã khai thác nguồn sử liệu văn bia để tái hiện bức tranh chân thực về lịch sử địa lý, công cuộc quai đê lấn biển mở đất, giáo dục Nho học và đời sống tôn giáo tín ngưỡng phong phú của vùng đất Nam Định truyền thống. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị cao cho công tác nghiên cứu Hán Nôm học, lịch sử địa phương và quản lý bảo tồn di sản văn hóa.