Tổng quan luận án
Tình trạng suy giảm diện tích và chất lượng rừng tự nhiên đang đặt ra nhiều thách thức đối với hệ thống quản trị của Nhà nước. Dữ liệu lịch sử cho thấy năm 1943 diện tích rừng cả nước đạt khoảng 14.000 ha với độ che phủ 43,7%, đến năm 1990 giảm xuống còn 9.000 ha (độ che phủ 28%), và sau những nỗ lực phục hồi, diện tích đạt 10.292 ha vào năm 2000 (33,2%) rồi đạt khoảng 12.000 ha với độ che phủ 36,7%. Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, rừng tự nhiên còn chiếm khoảng 35% diện tích tự nhiên của tỉnh, tương đương hơn 205 ngàn ha (chiếm khoảng 67% tổng diện tích đất lâm nghiệp). Đứng trước thực trạng tài nguyên rừng bị suy thoái, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải xác lập địa vị pháp lý, phát huy vai trò của cộng đồng địa phương cùng các giá trị văn hóa truyền thống trong việc bảo vệ, quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng.
Người Cơ Tu tại tỉnh Thừa Thiên Huế có đời sống gắn bó mật thiết với rừng trên cả phương diện vật chất lẫn tinh thần. Trong tổ chức xã hội truyền thống, làng (vil, vel) là đơn vị cơ bản và duy nhất nắm quyền sở hữu và quản lý đất rừng thông qua luật tục. Đồng thời, cộng đồng thừa nhận quyền chi phối tối cao của hệ thống thần linh (Yang). Gắn liền với cấu trúc sở hữu này là hình thái krung điêng — loại rừng kiêng kỵ, cấm đoán đặc thù, bao gồm rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn và rừng cấm giáp ranh. Tuy nhiên, các chính sách quản lý đất đai tập trung sau năm 1975, cùng làn sóng di dân phát triển kinh tế mới từ năm 1986, việc thành lập lâm trường, khu bảo tồn và xây dựng các công trình công nghiệp (thủy điện, nhà máy xi măng) đã làm biến đổi sâu sắc phương thức quản lý đất rừng, làm suy giảm diện tích krung điêng và làm xói mòn niềm tin tâm linh của người dân bản địa. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc nhận diện có hệ thống loại hình krung điêng, phân tích các giá trị tích cực để lồng ghép vào chính sách lâm nghiệp hiện đại.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát và đánh giá đặc trưng, giá trị, vai trò cùng những biến đổi của krung điêng truyền thống của người Cơ Tu ở tỉnh Thừa Thiên Huế dưới góc độ liên ngành Khu vực học; từ đó đề xuất giải pháp duy trì, bảo tồn các giá trị tích cực của krung điêng và vận dụng vào công tác bảo vệ, quản lý, khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên rừng.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 mục tiêu cụ thể:
- Nhận diện krung điêng truyền thống của người Cơ Tu;
- Mô tả thực trạng, sự biến đổi và các thách thức đặt ra đối với krung điêng hiện nay;
- Chỉ ra được các đặc điểm, giá trị của krung điêng; làm sáng tỏ vai trò của krung điêng trong đời sống người Cơ Tu nói chung và bảo vệ môi trường, tài nguyên rừng nói riêng;
- Đề xuất việc duy trì, bảo tồn và phát huy các giá trị tích cực của krung điêng trong việc thực hiện có hiệu quả các chính sách về đất đai như giao đất giao rừng, thực hiện sự “đa dạng pháp luật”, quản lý tài nguyên dùng chung, tài nguyên đất công, tài nguyên rừng, sinh kế của cộng đồng và hướng tới sự phát triển bền vững trong quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên rừng.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các krung điêng truyền thống và hiện nay trong khu vực sinh thái của người Cơ Tu ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba loại rừng cơ bản cấu thành krung điêng gồm rừng thiêng, rừng ma (bônl ping), rừng đầu nguồn; khảo sát, phân tích các đặc trưng, giá trị và vai trò của krung điêng truyền thống nhằm vận dụng vào quản lý rừng bền vững.
- Phạm vi thời gian: Luận án sử dụng mốc năm 1975 để phân chia tương đối giữa krung điêng truyền thống và krung điêng hiện nay; nghiên cứu các chuyển biến chính sách đất đai, lâm nghiệp sau năm 1975 và tác động của quá trình di dân, sắp xếp lại dân cư từ năm 1986 đến nay.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Nam Đông, tập trung vào 21 thôn/làng thuộc 4 xã: Thượng Long (8 thôn: Ca Đông, A Xăng, Cha Ke, A Gông, Tà Vạc, A Chiếu, A Giai, Aprung), Thượng Nhật (5 thôn: La Vân, A Xách, Ta Lu, A Tin, Ta Rinh), Thượng Lộ (3 thôn: Dỗi, La Hồ, Cha Măng), Thượng Quảng (5 thôn: 1, 2, 3, 4, 5). Để đối sánh liên vùng, tác giả khảo sát mở rộng tại 7 thôn/làng: thôn Paring, Arom (xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế); thôn A Réc 1, A Réc 2, Aur (xã A Vương, huyện Tây Giang, Quảng Nam); thôn Tà Vạc (thị trấn Prao, huyện Đông Giang, Quảng Nam); thôn Pa Nai (xã Tà Lu, huyện Đông Giang, Quảng Nam).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề rừng cộng đồng và rừng tín ngưỡng đã được nhiều học giả quốc tế quan tâm nghiên cứu:
- Nhóm lý thuyết rừng cộng đồng: H. Conklin (1980) nghiên cứu mối quan hệ môi trường - văn hóa - xã hội tại Bắc Luzon; D. Wangchuk (1986) nghiên cứu lâm nghiệp xã hội; D. Cernea (1989) phân tích quản lý tài nguyên thiên nhiên sở hữu chung; M. Poffenberger (1990, 1999) khảo cứu vai trò cộng đồng quản lý rừng tại Đông Nam Á; Donald A. Messerschmitdt (1996) cung cấp thư mục có chú dẫn về quản lý rừng cộng đồng tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.
- Nhóm tri thức bản địa và quản lý tài nguyên: D. Werner (1980), R. Fisher (1989), D. Tititola (1989), D. Slikkerveer (1991) khẳng định giá trị của hệ thống tri thức dân gian trong việc thích ứng môi trường và phát triển bền vững.
- Nhóm phát triển bền vững rừng cộng đồng: J. Campbell (1986), D. Brokensha (1986), J. Euphrat (1987) đề cao việc kết hợp văn hóa bản địa vào lâm nghiệp cộng đồng ở Nepal.
- Nhóm rừng thiêng, rừng cấm, rừng tôn giáo: R. Homchoen (1985) nghiên cứu kiêng kỵ bảo vệ rừng ở Đông Bắc Thái Lan; J. Mansberger (1991), Harish Chandra Das (1997), Pandey và Deep Narayan (1998) nghiên cứu rừng thiêng và lâm nghiệp dân tộc học; A. Johnson (1989), M. Nagaraja (1990), D. Wechakit (1990) nghiên cứu rừng chùa chiền; William Balée (2013) tiếp cận khái niệm "rừng văn hóa" tại Amazon; A. Sollart (1986) và A. Vink (1986) khảo sát rừng cấm tại châu Phi.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào các hướng chính:
- Rừng cộng đồng và quyền sở hữu đất đai: Bảo Huy, Trần Hữu Nghị (1999), Vương Xuân Tình, Bùi Minh Đạo (2000), Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng (2000), Lương Thị Thu Hằng (2008) phân tích tập quán sở hữu đất rừng truyền thống của các tộc người thiểu số ở Tây Bắc và Tây Nguyên.
- Cơ chế quản lý rừng có sự tham gia và giao đất giao rừng: Viện Khoa học Lâm nghiệp (2001), Nguyễn Hồng Quân, Phạm Xuân Phương (2003), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Nguyễn Quang Tân, Thomas Sikor (2012), Đỗ Đình Sâm, Lê Quang Trung (1999), Hoàng Xuân Tý (2000), Bảo Huy và cộng sự (2000), Dương Viết Tình (2010).
- Rừng kiêng, cấm và tín ngưỡng: Vũ Long (2002), Lê Thị Diên (2002), Trần Văn Tuấn (2004), Nguyễn Hùng Mạnh (2014), Trần Vân Hạc, Sầm Văn Bình (2015), Viện Nghiên cứu Văn hóa (2006).
- Vùng người Cơ Tu và Thừa Thiên Huế: Nguyễn Văn Mạnh (1998), Lê Quang Minh (2001), Nguyễn Đình Dũng (2001), Nguyễn Quang Hoà Anh (2009), Nguyễn Xuân Hồng, Hồ Viết Hoàng (2011), Nguyễn Xuân Hồng (2012). Đặc biệt, Nikolas Århem (2008, 2009, 2014) nghiên cứu vũ trụ luận, niềm tin tâm linh và động vật rừng của người Cơ Tu tại Quảng Nam; Nguyễn Xuân Hồng (1998, 2010) và Trần Hữu Nghị (2015) khảo sát rừng tâm linh tại huyện A Lưới.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Phần lớn công trình trước đây mới dừng lại ở việc mô tả hiện trạng hoặc nghiên cứu phân tán từng loại hình riêng lẻ (rừng thiêng hoặc rừng cấm), chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, hệ thống về krung điêng như một chỉnh thể văn hóa tâm linh gắn với đất công của người Cơ Tu tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Các nghiên cứu trước chưa phân tích đầy đủ cơ chế quản trị kết hợp giữa luật tục của cộng đồng làng và quyền sở hữu tối cao của thần linh, cũng như chưa đặt krung điêng vào mối quan hệ đối sánh khu vực để kiến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách giao đất giao rừng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên hai khung lý thuyết khoa học liên ngành:
- Lý thuyết Khu vực học: Nghiên cứu không gian tổng thể giải thích các thiết chế kinh tế, xã hội, văn hóa trên khuôn viên địa lý môi trường. Luận án phân tích đa chiều qua các lát cắt: không gian tộc người (phân bố dân cư và mối quan hệ với các tộc người lân cận như Tà Ôi, Bru - Vân Kiều, Kinh); không gian lịch sử - xã hội (tiến trình tụ cư, biến động thiết chế làng bản); không gian chính sách (sự can thiệp của pháp luật lâm nghiệp sau năm 1975); không gian văn hóa (hệ thống tín ngưỡng, luật tục và biểu tượng tâm linh).
- Lý thuyết Sinh thái nhân văn: Khung phân tích của Terry Rambo (1984) và Lê Trọng Cúc, nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa hệ thống xã hội loài người và hệ sinh thái tự nhiên, làm rõ cơ chế con người thích ứng và định hình cảnh quan rừng thông qua các hành vi văn hóa.
Các khái niệm cơ bản được luận án chuẩn hóa và sử dụng gồm:
- Vùng văn hóa và không gian văn hóa: Tiếp thu quan niệm của M. Trêbốcxarốp và Ngô Đức Thịnh, coi không gian văn hóa tộc người là không gian sinh tồn gắn với lãnh thổ lịch sử và các mối liên kết sinh thái.
- Tri thức bản địa: Định nghĩa theo Ngô Đức Thịnh, Roy Ellen và Ngân hàng Thế giới, là toàn bộ hiểu biết về tự nhiên, xã hội được tích lũy qua lịch sử, truyền miệng và thực hành xã hội.
- Thế giới quan: Tiếp cận theo Emili A. Lavenda, Adamson Hoebel và Ngô Đức Thịnh, phản ánh cảm nhận về thế giới nơi con người và tự nhiên là một hợp thể, vạn vật hữu linh.
- Rừng cộng đồng: Theo định nghĩa của FAO (1991), luận án khu biệt loại rừng cộng đồng do làng tự quản truyền thống và loại rừng do Nhà nước giao; trên địa bàn Thừa Thiên Huế có 5 hình thức rừng cộng đồng.
- Krung điêng: Thuật ngữ tiếng Cơ Tu, ghép từ krung (rừng) và điêng (kiêng kỵ, cấm đoán), chỉ các khu rừng kiêng cấm tâm linh (rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn, rừng cấm).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính dựa trên các kỹ thuật:
- Điền dã dân tộc học: Quan sát tham dự, phỏng vấn sâu cá nhân (các già làng, trưởng thôn, nghệ nhân am hiểu luật tục) và thảo luận nhóm tập trung tại 21 thôn thuộc 4 xã nghiên cứu trọng điểm và 7 thôn đối sánh. Tác giả có lập bảng hỏi điều tra khảo sát, song do các biến can thiệp không bảo đảm độ sạch dữ liệu (rào cản ngôn ngữ, tâm lý e ngại), thông tin từ phiếu điều tra chỉ dùng làm tư liệu tham khảo.
- Phương pháp phân tích văn bản: Khảo cứu các chủ trương, văn bản luật về đất đai, lâm nghiệp, giao đất giao rừng, số liệu thống kê dân tộc học và hành chính của địa phương.
- Phương pháp so sánh, đối sánh liên vùng: So sánh krung điêng giữa các nhóm Cơ Tu (nhóm cao, nhóm giữa, nhóm thấp) và giữa người Cơ Tu với người Tà Ôi, Bru - Vân Kiều.
Nguồn tư liệu gồm tài liệu thành văn chính sách, các công trình nghiên cứu đi trước và nguồn tư liệu điền dã sơ cấp được tác giả ghi chép, phỏng vấn trực tiếp tại địa bàn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan địa bàn, tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày bối cảnh tự nhiên và nhân văn của địa bàn nghiên cứu cùng cơ sở khoa học của đề tài. Về tự nhiên, địa bàn cư trú của người Cơ Tu tại Thừa Thiên Huế nằm ở sườn đông dãy Trường Sơn và vòng cung núi Bạch Mã, nơi có độ cao từ 500m đến trên 1.000m với các đỉnh núi như Động Ngại (1.774m), Động Ruy (1.444m), núi Mang (1.702m), núi A Tin (1.298m). Vùng này có lượng mưa lớn nhất cả nước, tại khu vực Bạch Mã và Nam Đông đạt trên 4.000 mm/năm; mạng lưới thủy văn dày đặc gồm các khe suối đầu nguồn hợp thành sông Bồ, Tả Trạch và Hữu Trạch. Thổ nhưỡng gồm đất feralit đỏ vàng và đất mùn vàng đỏ trên núi. Hệ thực vật rừng tự nhiên có trên 1.728 loài (riêng Vườn Quốc gia Bạch Mã có 1.406 loài) thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới.
Về nhân văn, người Cơ Tu nói tiếng Môn - Khơme (ngành Katuic), chia thành ba nhóm địa phương: Cơ Tu cao (Dal/Zal), Cơ Tu giữa (Pnal/Na Gông Bo/Phuang), và Cơ Tu thấp (Ếp/Dup). Làng (vil, vel) là tổ chức xã hội cơ bản, duy nhất, khép kín, cấu trúc hình tròn hoặc ô-van hướng tâm về nhà Gươl. Nền kinh tế truyền thống dựa trên nương rẫy hỏa canh (trồng lúa, ngô, sắn), chăn nuôi thả rông và kinh tế tước đoạt (săn bắt bằng ná, lao, hệ thống bẫy đá, bẫy hầm, bẫy chông; hái lượm; đánh bắt cá). Mọi thành viên trong làng bình đẳng về quyền tiếp cận tài nguyên dưới sự điều tiết của già làng, hội đồng già làng và luật tục.
Bảng số liệu dân cư tại địa bàn nghiên cứu trọng điểm được tác giả tổng hợp từ nguồn báo cáo hành chính:
| Đơn vị (Xã/Thị trấn) |
Tổng số hộ |
Tổng số khẩu |
Hộ người Kinh |
Khẩu người Kinh |
Hộ người Cơ Tu |
Khẩu người Cơ Tu |
| Toàn huyện Nam Đông (2014) |
6.368 |
25.688 |
3.527 |
14.519 |
2.748 |
11.082 |
| Xã Thượng Long |
509 |
2.228 |
25 |
111 |
484 |
2.117 |
| Xã Thượng Nhật |
486 |
2.072 |
34 |
145 |
452 |
1.927 |
| Xã Thượng Lộ |
340 |
1.390 |
17 |
70 |
323 |
1.320 |
| Xã Thượng Quảng |
572 |
2.298 |
229 |
919 |
343 |
1.379 |
| Xã Hương Sơn |
312 |
1.315 |
0 |
0 |
312 |
1.315 |
| Xã Hương Hữu |
785 |
3.522 |
47 |
211 |
738 |
3.311 |
(Nguồn: Luận án trích xuất từ số liệu của UBND huyện Nam Đông, 2014)
Số liệu cho thấy người Cơ Tu chiếm tỷ lệ áp đảo tại các xã vùng cao phía nam (Hương Sơn 100%, Thượng Long 95%, Thượng Lộ 95%, Thượng Nhật 93%), trong khi người Kinh chiếm 56,5% dân số toàn huyện và tập trung tại các vùng thung lũng, ven đường giao thông.
Chương 2. Krung điêng truyền thống và hiện nay của người Cơ Tu ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Nội dung chương tập trung làm rõ quan niệm, cấu trúc và những biến đổi của krung điêng qua các thời kỳ:
- Quan niệm và phân loại: Xuất phát từ thế giới quan vạn vật hữu linh, người Cơ Tu tin rằng mọi thực thể tự nhiên đều có linh hồn. Rừng không chỉ là tư liệu sản xuất mà là không gian thiêng liêng nơi cư ngụ của các thần linh (Yang krung). Krung điêng gồm các phân loại chính:
- Rừng thiêng: Nơi trú ngụ của các vị thần tối cao, nghiêm cấm mọi hành vi chặt cây, săn bắn, xâm phạm nếu không có sự cho phép qua nghi lễ hiến tế.
- Rừng ma (bônl ping): Nơi chôn cất người chết, đưa linh hồn trở về thế giới bên kia, mang tính cấm kỵ tuyệt đối đối với người ngoài dòng họ hoặc khi chưa làm lễ bỏ mả.
- Rừng đầu nguồn: Nơi giữ nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, bảo vệ các loài động thực vật quý (dây leo Đha Vân, cây kim giao, chim Tring, cá Axiu Proông).
- Rừng cấm phân định ranh giới giữa hai làng.
- Krung điêng truyền thống: Vị trí thường gắn với các địa hình hiểm trở, đỉnh núi cao, rừng rậm nguyên sinh. Dấu hiệu nhận biết tự nhiên gồm cây cổ thụ, hang đá, mỏm đá có hình thù kỳ dị, thác nước sâu; dấu hiệu nhân văn là các dấu khắc, bùa kiêng cắm mốc. Về quyền sở hữu, cộng đồng làng nắm quyền sở hữu tập thể, thần linh nắm quyền sở hữu tối thượng. Mọi hành vi xâm phạm đều bị chế tài bằng luật tục (bắt nộp phạt lợn, trâu, chén đồng để cúng tạ tội với thần rừng và làng).
- Krung điêng hiện nay và nguyên nhân biến đổi: Sau năm 1975, sự can thiệp của các chính sách lâm nghiệp, việc quốc hữu hóa đất rừng, thành lập các lâm trường quốc doanh và phân định ranh giới hành chính đã làm thay đổi địa vị pháp lý của làng. Sự xuất hiện của 14.519 người Kinh tại Nam Đông làm gia tăng sức ép khai thác tài nguyên. Hạ tầng giao thông, thủy điện, nhà máy xi măng chia cắt không gian sinh thái. Quy mô krung điêng bị thu hẹp đáng kể, ranh giới cấm kỵ mờ nhạt, niềm tin tâm linh bị suy giảm trong một bộ phận giới trẻ, dẫn tới tình trạng vi phạm luật tục rừng thiêng.
Chương 3. Giá trị, đặc điểm của krung điêng và giải pháp bảo tồn, phát huy krung điêng trong phát triển bền vững tài nguyên rừng hiện nay của người Cơ Tu ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương này khái quát các giá trị, đặc trưng và hệ thống giải pháp chính sách:
- Giá trị của krung điêng:
- Giá trị lịch sử và giáo dục truyền thống: Lưu giữ ký ức di cư và cội nguồn tộc người.
- Giá trị cố kết cộng đồng và bảo tồn luật tục: Củng cố thiết chế tự quản của làng thông qua các quy ước chung và nghi lễ hiến sinh.
- Giá trị bảo vệ môi trường: Bảo tồn nguyên vẹn các dải rừng đầu nguồn, giữ ẩm, chống xói mòn, bảo tồn đa dạng sinh học và các nguồn gen quý.
- Giá trị kinh tế gián tiếp: Cung cấp nguồn nước ổn định cho nông nghiệp và điều hòa khí hậu tiểu vùng.
- Đặc điểm của krung điêng: Là dạng đất công đặc thù thuộc sở hữu làng; kết tinh tri thức bản địa tích lũy qua nhiều thế hệ; mang tính tâm linh rừng sâu sắc; có tính kế thừa truyền thống bền bỉ.
- So sánh đối sánh: Người Cơ Tu tại Nam Đông duy trì hình thái krung điêng khép kín hơn so với nhóm Cơ Tu tại Quảng Nam (nơi giao lưu sớm hơn) và nhóm Cơ Tu thấp tại Hương Trà; đồng thời có sự tương đồng lớn với người Tà Ôi ở huyện A Lưới trong quan niệm về rừng ma và rừng thiêng.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường trong các chương trình phát triển miền núi.
- Vận dụng các giá trị văn hóa và tri thức bản địa của krung điêng vào công tác quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên.
- Tăng cường vai trò tự quản của cộng đồng thôn làng, xây dựng quy chế quản lý rừng có sự tham gia thực chất của già làng và hội đồng già làng.
- Thực hiện nguyên tắc “đa dạng pháp luật”, kết hợp linh hoạt và hợp pháp hóa các điều khoản tích cực của luật tục vào hương ước thôn bản và quy định của pháp luật Nhà nước.
- Đẩy mạnh chính sách giao đất giao rừng cho tập thể cộng đồng dân cư thôn (thừa nhận tư cách pháp lý của đất công làng bản), tránh chia nhỏ rừng tự nhiên cho hộ gia đình đơn lẻ.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án ứng dụng khung lý thuyết liên ngành Khu vực học và Sinh thái nhân văn để phân tích toàn diện hiện tượng krung điêng của người Cơ Tu, vượt qua các góc nhìn đơn ngành trước đây.
- Xác lập hệ thống khái niệm và khung phân loại hoàn chỉnh về krung điêng, khẳng định bản chất của krung điêng là một hình thái đất công đặc thù kết hợp giữa sở hữu cộng đồng làng và niềm tin vào quyền năng tối cao của thần linh.
- Làm rõ cơ chế vận hành của tri thức bản địa và tâm linh rừng như một công cụ quản trị tài nguyên tự nhiên hiệu quả, bền vững trong lịch sử tộc người.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực địa chi tiết về sự phân bố, dấu hiệu nhận biết và thực trạng suy thoái của các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn tại 21 thôn thuộc huyện Nam Đông.
- Phân tích rõ các nguyên nhân kinh tế - xã hội, chính sách và di dân tác động tiêu cực đến cấu trúc krung điêng từ sau năm 1975 đến nay.
- Đưa ra cơ sở khoa học để các nhà làm luật và chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách giao đất giao rừng, thực thi nguyên tắc "đa dạng pháp luật", chính thức công nhận quyền quản lý rừng của cộng đồng làng bản nhằm hướng tới quản lý tài nguyên rừng bền vững.
Kiến nghị thực tiễn:
- Đề nghị các cơ quan thẩm quyền công nhận tư cách pháp nhân của cộng đồng làng trong việc nhận giao đất rừng tự nhiên.
- Lồng ghép các hương ước bảo vệ krung điêng vào kế hoạch bảo vệ rừng của các xã, lâm trường và ban quản lý rừng phòng hộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Việc điều tra định lượng bằng bảng hỏi và phiếu khảo sát không đạt được độ sạch dữ liệu theo yêu cầu thống kê do rào cản ngôn ngữ và tính thiếu khách quan trong quá trình trả lời từ hai phía, khiến kết quả bảng hỏi chỉ dừng lại ở giá trị tham khảo.
- Phạm vi khảo sát sâu chủ yếu giới hạn tại huyện Nam Đông (tập trung 4 xã); các địa bàn A Lưới (Thừa Thiên Huế) và Tây Giang, Đông Giang (Quảng Nam) chỉ được khảo sát ở quy mô đối sánh, chưa bao quát toàn bộ vùng sinh thái tộc người Cơ Tu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo sát so sánh toàn diện krung điêng của người Cơ Tu tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam và vùng biên giới Việt - Lào.
- Nghiên cứu cơ chế định lượng hóa giá trị dịch vụ hệ sinh thái của các krung điêng trong bối cảnh thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và tín chỉ carbon.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách lâm nghiệp, tài nguyên môi trường: Tham khảo cơ sở khoa học về quản trị tài nguyên dùng chung, chính sách giao đất giao rừng cho cộng đồng và giải pháp kết hợp luật tục với luật pháp Nhà nước.
- Nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các ngành Việt Nam học, Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học, Lâm nghiệp xã hội: Sử dụng khung lý thuyết Khu vực học, Sinh thái nhân văn và nguồn tư liệu điền dã dân tộc học về tộc người Cơ Tu.
- Các ban ngành công tác dân tộc và chính quyền địa phương tỉnh Thừa Thiên Huế: Ứng dụng giải pháp phát huy vai trò già làng, bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế miền núi.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "krung điêng" trong tiếng Cơ Tu có nghĩa là gì và bao gồm các loại rừng nào?
Trong ngôn ngữ Cơ Tu tại tỉnh Thừa Thiên Huế, krung (hoặc crung, kakoong, da ding) có nghĩa là rừng; điêng có nghĩa là kiêng kỵ, cấm đoán. Khái niệm krung điêng dùng để chỉ những khu rừng kiêng, cữ, cấm trong quan niệm bản địa, bao gồm ba loại hình cơ bản: rừng thiêng (nơi cư ngụ của thần linh), rừng ma (bônl ping, nơi chôn cất người chết) và rừng đầu nguồn (nơi giữ nguồn nước, lưu trữ động thực vật quý); ngoài ra còn có rừng cấm phân định ranh giới giữa các làng.
2. Điểm khảo sát thực địa chính của luận án được tiến hành tại những địa bàn cụ thể nào?
Nghiên cứu tập trung tại huyện Nam Đông với 21 thôn/làng thuộc 4 xã: xã Thượng Long (8 thôn: Ca Đông, A Xăng, Cha Ke, A Gông, Tà Vạc, A Chiếu, A Giai, Aprung), xã Thượng Nhật (5 thôn: La Vân, A Xách, Ta Lu, A Tin, Ta Rinh), xã Thượng Lộ (3 thôn: Dỗi, La Hồ, Cha Măng) và xã Thượng Quảng (5 thôn: thôn 1, 2, 3, 4, 5). Địa bàn đối sánh mở rộng gồm 7 thôn thuộc huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế), huyện Tây Giang và Đông Giang (Quảng Nam).
3. Cơ cấu dân số huyện Nam Đông phản ánh điều gì về sự xáo trộn môi trường nhân văn tác động đến krung điêng?
Theo số liệu năm 2014, huyện Nam Đông có 6.368 hộ với 25.688 nhân khẩu; trong đó người Kinh chiếm 14.519 người (hơn 56% dân số), người Cơ Tu có 11.082 người. Người Kinh chỉ mới xuất hiện khoảng 40 năm (từ sau năm 1975) qua các chương trình di dân kinh tế mới nhưng đã chiếm đa số dân cư toàn huyện, tập trung tại các vùng đất bằng phẳng, thung lũng, làm thay đổi cấu trúc dân cư và tạo sức ép trực tiếp lên quỹ đất lâm nghiệp truyền thống của người Cơ Tu.
4. Ai nắm quyền sở hữu và quản lý tối cao đối với krung điêng trong xã hội truyền thống của người Cơ Tu?
Trong xã hội truyền thống, làng (vil, vel) là tổ chức xã hội duy nhất sở hữu đất công và rừng cộng đồng, quản lý thông qua luật tục và vai trò của già làng, hội đồng già làng. Tuy nhiên, quyền sở hữu và quản lý tối cao được quan niệm thuộc về hệ thống thần linh (Yang), đứng đầu là thần rừng (Yang krung). Niềm tin tâm linh vào sự trừng phạt của thần linh là chế tài cao nhất bảo vệ krung điêng khỏi bị xâm phạm.
5. Vì sao dữ liệu điều tra từ bảng hỏi, phiếu khảo sát trong luận án chỉ có giá trị tham khảo?
Tác giả nêu rõ trong văn bản rằng các biến can thiệp dùng để đối chứng không phù hợp, dữ liệu thiếu độ sạch và việc định lượng thông số không đạt hiệu quả do rào cản ngôn ngữ, tâm lý e ngại, thiếu sự trung thực khách quan từ cả hai phía trong quá trình phỏng vấn điều tra tại chỗ. Do đó, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định tính điền dã dân tộc học và quan sát trực tiếp.
Kết luận
Luận án của tác giả Hồ Viết Hoàng là công trình nghiên cứu hệ thống về krung điêng của người Cơ Tu tại tỉnh Thừa Thiên Huế trên nền tảng liên ngành Khu vực học và Sinh thái nhân văn. Công trình đã phân tích bản chất của krung điêng như một hình thái đất công đặc thù được bảo vệ kép bởi luật tục làng xã và niềm tin tâm linh đối với thần linh. Luận án làm rõ thực trạng suy giảm krung điêng dưới tác động của chính sách đất đai sau năm 1975 và quá trình di dân, đô thị hóa. Từ đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp khoa học nhằm kết hợp luật tục với pháp luật Nhà nước, thúc đẩy giao rừng cho cộng đồng làng nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng hiện nay.