Chương I: Văn bản Hán Nôm ở đình, đền, miếu Chương II: Văn bản Hán Nôm ở chùa Phần 4: Phần nghiên cứu tổng kết, đánh giá các di sản đã tìm được. Sau đó chúng tôi đưa ra một số ý kiến đóng góp trước thực trạng của di sản Hán Nôm đang được lưu trữ trong các chùa, đền, đình, miếu. Ngoài ra chúng tôi còn đưa ra một số hình ảnh minh họa được thực hiện ở các cơ sở khảo sát. 1 Di sản Hán Nôm trong các đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn Quận 6 PHẦN I : PHẦN DẪN NHẬP I.
MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Mục đích Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, với trên 50 dân tộc anh em, dẫn đến việc hình thành một nền văn hóa đa dạng và phong phú. Việc tìm hiểu sự đa dạng của nền văn hóa đó chính là đã trực tiếp góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. Lịch sử mấy nghìn năm văn hiến với bao thăng trầm của những cuộc chiến để giành độc lập, xây dựng đất nước, chống ngoại xâm,… đã minh chứng một cách hùng hồn cho truyền thống yêu nước, đoàn kết chống ngoại xâm, và hơn nữa là một tinh thần sáng tạo ham học hỏi để tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Trở về quá khứ hơn ngàn năm trước, đất nước ta chìm trong ách thống trị của phong kiến phương Bắc, chúng muốn đồng hóa nhân dân ta thành người của chúng, biến đất Nam thành đất Bắc.
Vì thế, văn hóa phương Bắc tràn sang dữ dội và mạnh mẽ, việc bị ảnh hưởng của nền văn hóa ấy không thể tránh khỏi. Trong cuộc đồng hóa ấy, chúng đã mang theo chữ viết của mình để truyền bá, sử dụng ở nước ta - chữ Hán. Thế nhưng cha ông ta không vì sử dụng thứ chữ ấy mà mất đi tinh thần dân tộc. Khi âm mưu đồng hóa ấy thất bại, chữ Hán trở thành thứ chữ được dùng để bảo lưu những tinh hoa văn hóa của người dân nước ta.
Bằng chữ Hán nhưng bên trong là tâm tư tình cảm, là mơ ước khát vọng của người Việt. Và dựa trên thứ chữ ấy, cha ông ta đã sáng tạo ra chữ Nôm cho chính mình, khẳng định tinh thần ý chí của dân tộc. Từ đây, chữ Hán - Nôm đã tạo thành một di sản văn hóa của người Việt Nam. Các di sản Hán Nôm hiện nay chỉ còn tồn tại phần lớn ở các đình, chùa, đền, miếu, những nơi thờ cúng linh thiêng.
Tuy nhiên, một điều đáng nói là tất cả chúng chỉ được xem là vật trang trí mà thôi, người biết tới chúng và quan tâm tới chúng cũng ít đi rất nhiều, chưa kể những thứ chữ ấy giờ hiếm người biết đến, đặc biệt là giới trẻ bây giờ. Các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo được xây dựng từ lâu ở nước ta, có lưu trữ nhiều di 2 Di sản Hán Nôm trong các đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn Quận 6 sản Hán Nôm, trong đó có chứa rất nhiều nội dung tư tưởng nhân sinh quan và tồn tại cho tới ngày nay. Mặt khác chùa, đền, đình, miếu đi vào đời sống tâm linh của người Việt Nam như một món ăn tinh thần không thể thiếu, thế nên, là những sinh viên ngành Hán Nôm chúng tôi không thể không trăn trở trước thực trạng các di sản Hán Nôm ngày càng bị mai một. Với khả năng và kiến thức của mình chúng tôi đã chọn một mảng nhỏ để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Đó là: Sưu tầm và phiên dịch di sản Hán Nôm trong các đình chùa đền miếu thuộc địa bàn Quận 6 - thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua đề tài chúng tôi đã chọn, mong rằng chúng tôi có thể góp tiếng nói của mình phần nào vào việc gìn giữ bảo vệ các di sản Hán Nôm, đồng thời cũng là dịp cho chúng tôi sử dụng những kiến thức đã học để góp phần thiết thực vào việc gìn giữ và phát huy tinh thần văn hóa dân tộc.2 Ý nghĩa đề tài Với mục đích như vừa nêu trên, chúng tôi hy vọng đề tài này có thể góp phần vào việc bảo tồn các di tích Hán Nôm trên địa bàn khu vực Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Mặt khác chúng tôi phiên dịch và chú thích các di tích Hán Nôm, dựa trên cơ sở này đây chính là nguồn tư liệu có ý nghĩa không nhỏ đối với những người muốn tìm hiểu về lịch sử văn hóa nước nhà. Đồng thời đây cũng là nguồn cung cấp một cách khá đầy đủ, chính xác cho các ngành du lịch, văn hóa, … và cho những ai muốn tìm hiểu.
Ngoài ra, qua việc thực hiện đề tài chúng tôi có thể nâng cao khả năng thực hiện khả năng ứng xử xã hội, làm việc theo nhóm, khả năng nghiên cứu khoa học, và hơn nữa là nâng cao kiến thức của bản thân. Đồng thời sản phẩm của chúng tôi có thể trở thành tư liệu học tập cho các ngành như: Văn học, Ngôn ngữ, Văn hóa, Hán Nôm, Lịch sử, Du lịch, Địa lý… Trong quá trình thực hiện công trình, chắc hẳn không tránh khỏi sự sai sót, chúng tôi kính mong được sự góp ý của các độc giả. 3 Di sản Hán Nôm trong các đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn Quận 6 I.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài khoa học này là các văn bản Hán Nôm được lưu trữ ở các đình, đền, chùa, miếu trên địa bàn Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh; bao gồm: Hoành phi, câu đối, văn thơ, sắc lệnh,… gắn liền với không gian văn hóa đình, đền, chùa, miếu.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Phương pháp điền dã và khảo sát thực tế: Khảo sát và ghi chép các văn bản Hán Nôm. Khảo sát kiến trúc của các chùa, đền, đình, miếu.
Chụp hình các văn bản Hán Nôm làm minh họa. - Phương pháp mô hình hóa và mô tả bằng lời: Xác định vị trí và vẽ sơ đồ Tìm hiểu và nghiên cứu, mô tả kiến trúc các chùa, đình, đền, miếu. - Phương pháp phỏng vấn trực tiếp - Phương pháp văn bản học: Tập hợp và tiến hành phiên âm dịch nghĩa các văn bản Hán Nôm đã ghi chép sưu tầm được Chú thích từ ngữ I.4 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 4. Mặt thuận lợi Trong quá trình thực hiện đề tài, sự giúp đỡ tận tình và sự chỉ dẫn của một số vị phụ trách, trông coi, quản lý các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo, đã tạo điều kiện cho nhóm đề tài có được sự hỗ trợ và cung cấp các tài liệu cần thiết.
Và nhất là nhóm được sự quan tâm giúp đỡ, theo dõi của thầy hướng dẫn. Nếu không có những sự giúp đỡ ấy, nhóm đề tài sẽ không hoàn thành được đề tài một cách hoàn chỉnh. Các thành viên của nhóm thực hiện đề tài tỏ ra khá quan tâm nên đã cố gắng hoàn thành tốt công việc của mình. Lần đầu thực hiện một đề tài nghiên cứu không tránh khỏi 4 Di sản Hán Nôm trong các đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn Quận 6 những bỡ ngỡ, nhưng các thành viên trong nhóm luôn cố gắng vượt qua những khó khăn ấy để thực hiện đề tài.2 Mặt khó khăn Bên cạnh những mặt thuận lợi như vừa nêu trên, nhóm đề tài đã gặp không ít khó khăn như sau: - Quận 6 tương đối rộng, số lượng chùa, đình, đền, miếu cũng tương đối nhiều, trên 70 cơ sở thờ tự, các cơ sở này được phân bố rộng khắp.
Một số cơ sở đã thay đổi địa chỉ hay đã bị giải tỏa, hoặc không còn tồn tại, gây khó khăn trong việc khảo sát thực tế. - Phương tiện đi lại thiếu thốn, kinh phí lại eo hẹp. Khoảng cách từ nơi cư trú đến địa điểm khá xa, chủ yếu di chuyển bằng xe buýt, chưa kể nhiều bạn trong nhóm nghiên cứu bị say xe nên việc đi lại gặp khá nhiều khó khăn. - Tình trạng xuống cấp trầm trọng của một số cơ sở thờ tự.
- Có nhiều cơ sở tận tình cung cấp thông tin nhưng cũng có nơi không chịu hợp tác như chùa Thiên Ý, đình Bình Phú,… đã có thái độ kiên quyết từ chối, thậm chí có cơ sở đã giữ phương tiện của nhóm thực hiện đề tài. - Một số nơi thờ tự lại không có hoặc vắng mặt người quản lý nên một số nơi chúng tôi không thực hiện được phần lược sử. - Lần đầu tiên nhóm thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học nên còn nhiều bỡ ngỡ. Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi cá nhân lại khác nhau nên công tác thực hiện đề tài cũng gặp nhiều trở ngại, nhưng chúng tôi đã cố gắng khắc phục bằng cách chia thành từng nhóm nhỏ để phối hợp thực hiện tốt hơn.
Thuận lợi cũng nhiều mà khó khăn cũng không ít, bất cứ công trình nghiên cứu nào cũng không tránh khỏi những khó khăn nhất định. Chúng tôi cố gắng phát huy những mặt thuận lợi, khắc phục bớt những khó khăn để tạo hiệu quả cho công trình này. 5 Di sản Hán Nôm trong các đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn Quận 6 I.5 TÌNH HÌNH DI SẢN HÁN NÔM THUỘC ĐỊA BÀN QUẬN 6 Trên địa bàn quận 6, hiện có 36 ngôi chùa, 01 tịnh xá thuộc phái Nam tông, 10 tịnh xá thuộc phái Khất Sĩ, 11 tịnh xá thuộc phái Hoa tông, 06 tịnh thất, 09 ngôi đình và 03 ngôi miếu cổ. Theo cách hiểu truyền thống, Chùa chủ yếu là nơi thờ Phật, nơi định vị của các tăng đồ Phật giáo, một tôn giáo tiêu biểu, phổ biến nhất ở các vùng nông thôn và đô thị Việt Nam, nghĩa là nơi thuần tuý mang tính chất tôn giáo.
Trong các ngôi chùa lớn, thường có cả tháp, cầu, giếng, am, phủ, lầu, điện, các… và cũng có đủ cả bia, chuông, khánh, biển, hoành phi, câu đối… ghi lại các sự tích, công trạng của các vị sư từng kế tục trụ trì và viên tịch tại chùa, đồng thời cũng tái hiện lai lịch của chùa từ khi khởi công xây dựng đến các lần trùng tu, ghi tên tuổi, công đức của những người đóng góp xây dựng và trùng tu chùa. Trong số 36 ngôi chùa Phật giáo thuộc quận 6, ngoài một số ngôi có lịch sử tương đối lâu đời, bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ 18, như chùa Sắc Tứ Từ Ân, thành lập năm 1752; chùa Giác Hải, thành lập năm 1780; chùa Tây Thiên, thành lập năm 1850; chùa Tuyền Lâm, lập năm 1858; chùa Kiển Phước, lập năm 1866;…đại đa số các chùa có lịch sử hình thành tương đối muộn, tức từ những năm 50 thuộc thế kỷ 20.