CHƯƠNG 1: HỘI AN – ĐIỂM ĐẾN CỦA CÁC THƯƠNG NHÂN Vào thế kỷ XVI – XVII, Hội An là một trong những trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của nước ta. Trong quá trình đi tìm thị trường, thương nhân các nước đã chọn nơi đây làm đầu mối trao đổi hàng hóa, khiến nó trở thành một trung tâm buôn bán của khu vực miền trung và cả nước. Hội An đã hội đủ những nhân tố khiến cho nó có vị trí quan trọng trong hệ thống thương mại với nước ngoài và là nơi hấp dẫn đối với những thương nhân ngoại quốc vào thế kỷ XVI, XVII. Điều kiện tự nhiên.Vị trí địa lý.
Là một quốc gia nằm ở vùng bán đảo, Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3. Bằng đường biển và giao thương trên biển, Việt Nam có quan hệ với nhiều quốc gia trong khu vực và mối quan hệ đó đã trở nên rộng mở vào thế kỷ XVI – XVIII khi các tuyến thương mại thế giới chạy qua vùng lãnh hải Việt Nam. Thế kỷ XV – XVII được coi là thời đại thương mại (the Age of Commerce). Ở Châu Á, từ thời cổ đại và trung đại, ngoài những con đường giao thương trực tiếp giữa các quốc gia, đã sớm hình thành hai hệ thống giao lưu kinh tế - văn hóa lớn là “con đường tơ lụa trên bộ” và “con đường tơ lụa trên biển”.
Từ thế kỷ VIII – IX do thuận tiện của đường biển và do những tiến bộ của kỹ thuật hàng hải, “con đường tơ lụa trên biển” ngày càng chiếm ưu thế. Hệ thống thương mại Á châu này có quan hệ và tác động đến quan hệ giao thương của các nước châu Á, nhất là những nước ven bờ đại dương như Việt Nam. Từ khoảng thế kỷ VII – VIII, Đàng Trong đã trở thành địa chỉ hấp dẫn các thuyền buôn Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập…đến trao đổi buôn bán. Trong Tân Đường thư, Địa lí chí, ở thế kỷ VII – X, trên con đường từ Quảng Châu đến Bagda (Ả Rập), thuyền bè quốc tế Trung Hoa, Ba tư, Ả Rập, Srivijaya (Giava) bao giờ cũng ghé qua Chiêm Bất Lao (Cù lao Chàm – cửa Đại – cửa Hàn ).
Có thể nói, người Chăm đã có cái nhìn về biển đúng đắn, biết tham dự và dấn thân tích cực vào luồng thương mại quốc tế trên biển.5] Với một vị trí địa – thương mại được xác lập từ sớm trong lịch sử, thương nhân các nước Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập… cũng đã quen thuộc với thị trường này. Đến thế kỷ XV – XVI, khi người Việt vào định cư với số đông, các cảng này đã trở thành những cảng Việt hưng thịnh. Về độ trù mật của cảng thị, C. Borri đã viết: “về hải cảng thì thật lạ lùng, chỉ trong khoảng hơn trăm dặm một chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều thuận lợi để cập bến và lên đất liền”.91] Trong hệ thống bến cảng đó, thương cảng Hội An trở thành cửa ngõ thông thương quan trọng nhất Đàng Trong.
Đây là một cảng sông ở cửa biển vốn đã phồn thịnh từ thời đại Champa. Khi chuyển sang cảng Việt, Hội An đã có những cơ hội phát triển mới và đã đạt đến sự phồn thịnh vào các thế kỷ XVI – XVII. Nếu nhìn vào bản đồ thương mại trong khoảng thời gian đó thì Đàng Trong với cảng thị Hội An gần như nằm ở trung tâm của khu vực thương mại thế giới. Điều đó cũng khẳng định rằng, thương cảng Hội An nằm ở vị trí chiến lược, là đầu mối quan trọng trong mạng lưới giao thương khu vực và thế giới.
Theo quan điểm của Keith W. Taylor thì đây là “ một nơi đô hội được nhắc đến chỉ có thể ám chỉ địa điểm tập trung người Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha và những người thương nhân khác, nơi được người Châu Âu biết đến với cái tên Faifo và được người Việt Nam hiện nay gọi là Hội An, nằm không xa về phía Nam của thành phố Đà Nẵng hiện đại. Cảng buôn này được đặt một cách thích hợp trên tuyến đường giữa Malacca và Macao, người Bồ Đào Nha đã thiết lập như những địa điểm trung gian quan trọng trên đường vào Trung Quốc và Nhật Bản trong nửa sau thế kỷ XVI”. 163] Nhìn trên bản đồ Việt Nam, Hội An – Đà Nẵng là trung tâm nối liền các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên bởi hệ thống đường biển, đường sông, đường bộ thời bấy giờ.
Các tỉnh miền Trung đều hướng ra mặt biển, còn phía sau là Tây nguyên có cơ sở kinh tế, chỗ dựa vững chắc cho vùng duyên hải. Đô thị Hội An vốn được thiên nhiên ưu đãi để trở thành một thương cảng lớn. Nằm bên bờ sông Thu Bồn, Hội An là một cảng sông tiện lợi. Từ Hội An có thể ngược dòng Thu Bồn theo sông Vu Gia lên miền thượng du, theo sông Trường Giang vào đến Tam Kỳ.
Nhưng Hội An chỉ cách cửa biển Đại Chiêm chừng 5 km nên còn là một cảng biển. Nhìn rộng hơn về mặt địa lý, Hội An nằm ở điểm mũi nhô ra biển nhiều nhất trên bờ biển hình vòng cung của nước ta nên đón nhiều thương thuyền dừng chân. Hội An chỉ cách dinh trấn Quảng Nam, thủ phủ thứ hai của Đàng Trong khoảng 8 km. Vì vậy, Hội An là một vị trí lưu thông trao đổi buôn bán tốt, là cửa ngõ quan yếu của Quảng Nam nói riêng và Đàng Trong nói chung.
Nếu cả miền Trung là một ngôi nhà thì mặt tiền của nó mở ra biển và cửa chính là Hội An – Đà Nẵng. Điều này tự nó đã nói lên yếu tố “thị” và vai trò của nó trong sự đi lên của các tỉnh miền Trung. Vào thời chúa Nguyễn đã có nhiều điểm thương mại dọc theo ven biển miền Trung nhưng vị trí trung tâm vẫn là Hội An – Đà Nẵng. Hội An là trung độ của cả nước, đồng thời có đường biển nối liền các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Vì thế thật dễ hiểu khi từ thế kỷ XVI – XVII thương nhân nước ngoài đến đây thường xuyên với số lượng nhiều nhất như người Trung Quốc, người Nhật, người Hà Lan…. Tất cả tình hình thế giới và khu vực trên đều tác động đến nền ngoại thương Việt Nam nói chung và đời sống của thương cảng Hội An nói riêng. Với vị trí gần bên con đường hàng hải quốc tế sôi động đương thời, với những bến cảng tốt và với sự trù phú của xứ Quảng, Hội An đã nhanh chóng gia nhập vào các hoạt động mậu dịch quốc tế trong khu vực.Điều kiện tự nhiên và đặc điểm thủy văn vùng cửa biển. Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, Hội An mang tính chất một thành phố sông với đặc điểm vừa hội nhân vừa hội thủy, vừa cận thị lại vừa cận giang.
51 – 61] Dưới sự tác động tự nhiên của sông, biển và một phần của con người, từ đầu Công nguyên đến nay đã làm cho vùng cửa sông Thu Bồn phát triển nhanh chóng theo phương thức delta lấp đầy, hình thành các cồn cát với đồng lầy. Vào khoảng đầu Công nguyên, lúc biển tiến đạt tới mức cực đại thì vùng cửa sông Thu Bồn là một vụng biển, cửa sông loe như hình phễu. Dấu vết rõ rệt của vụng biển cổ đó là vùng đầm lầy Trà Quế (Cẩm Châu). Sau đó, biển rút dần và các địa hình có nguồn gốc khác nhau được tạo thành.
Những địa hình cao con người có thể sinh sống được lúc bấy giờ là ven bờ vụng biển, là các thềm tích tụ biển rải rác và thành một dải dọc theo chân bờ xói lở. Thềm tích tụ biển tương đối cổ và cao là doi cát từ Hội An đến Cồn Tàu. Hai bên bờ bắc và nam cửa Thu Bồn, hai dải tích tụ cát nhô lên khỏi mặt nước, biến vùng nước phía trong thành các đầm phá. Thế kỷ XVII, cửa sông Thu Bồn đổ ra biển qua hai cửa: Đại Chiêm hải khẩu (cửa Đại) và Tiểu Chiêm hải khẩu (cửa Tiểu) và tàu thuyền từ phía Nam lên có thể cập bến Hội An bằng cửa Đại.
Bên cạnh đó, còn một hải trình nối liền cửa Đại Hội An với cửa Hàn Đà Nẵng (Turon hay Touron). Dấu tích còn lại hiện nay là dòng sông Cổ Cò đang bị bồi lấp và chỉ còn lại từng đoạn nhỏ hay những ao đầm. Vào thế kỷ XVII, đường thủy này còn khá lớn và rất tiện cho việc tàu thuyền từ phía Bắc qua cửa Hàn – Đà Nẵng vào Hội An. Chính giáo sĩ C.
Borri sống ở Đàng Trong từ năm 1618 đến 1622, đã xác nhận có hai cửa ngõ vào Hội An từ cửa biển Pulluciampello (Cù Lao Chàm) tức cửa Đại và từ Touron tức cửa Hàn.91] Đến cuối thế kỷ XVIII, cửa Khâu bị lấp, ép dòng nước chảy tập trung vào cửa phía Nam khiến cho bờ Nam Cửa Đại liên tục bị phá hủy, các tuyến đường sông luôn thay đổi, bị lấp dần. Khoảng thế kỷ XIX sự bồi đắp đó gây khó khăn cho tàu thuyền đi lại hoặc neo đỗ trên sông, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của Hội An không thuận lợi như trước nữa.87] Cũng vì nằm ở vị trí ven sông, giáp biển như vậy nên Hội An không khỏi bị tác động mạnh từ hai mùa gió trong năm. Tiếp theo đó, sự thay đổi dòng chảy, lượng mưa, mức sóng và dao động mực nước biển cũng trở thành những tác nhân tạo nên tính đa dạng, khắc nghiệt ở một vùng khí hậu. Tại Hội An, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa lũ, gió bão, rét từ tháng 9 đến tháng 1.
Mùa khô mát từ tháng 2 đến tháng 8. Gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Gió có hướng Bắc, Đông Bắc là chủ yếu. Tốc độ gió cao hơn các vùng khác, đạt cực đại tới 15 – 25 m/s.
Mùa hè chuyển hướng Đông và Đông Nam, thường dẫn đến bão và áp thấp nhiệt đới. Vào cuối tháng 10 tức cuối mùa hè mức gió nhiều khi lên tới tốc độ 40m/s.87 – 97] Cửa Hội An gần như nằm giữa tiếp điểm trên đường cong lồi của khúc miền Trung, nơi giao thoa hứng gió hai mùa: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc mua bán tại thương cảng Hội An, hình thành mùa mậu dịch hay còn gọi là Hội chợ. Mùa khô là mùa thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động thương nghiệp ngoài trời.
Mùa khô ráo cũng là mùa biển lặng cho tàu thuyền đi biển và cập bến.