CHƯƠNG 1 CÁC YEU TO TÁC ĐỘNG DEN QUAN HE THUONG MẠI GIỮA CAC TINH VAN NAM, QUANG TAY (TRUNG QUOC) VA BAC KY (VIET NAM) 1. Điều kiện tự nhiên va tiềm năng kinh tế 1. Vị trí địa lý và diéu kiện tự nhiên Vân Nam và Quảng Tây là hai tỉnh nằm phía cực Nam và Tây Nam Trung Quốc, có đường biên giới giáp với Việt Nam. Tỉnh Vân Nam, phía Đông giáp với Quảng Tây và Quý Châu, phía Bắc giáp với tỉnh Tứ Xuyên, và phía Tây Bắc giáp với Tây Tạng.
Vân Nam có đường biên giới phía Tây giáp với Myanma, phía Nam giáp Lào, và phía Đông Nam giáp với Việt Nam. Quảng Tây nằm ở phía Nam Trung Quốc, giáp giới với Vân Nam phía Tây, Quý Châu phía Bắc, Hồ Nam phía Đông Bắc, và Quảng Đông phía Đông Nam. Phía Tây Nam, Quảng Tây có biên giới với Việt Nam. Hai tinh Quang Tây và Vân Nam là vùng đất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, với đa dạng các loài động - thực vật, và tập trung nhiều loại khoáng sản.
Vân Nam không những là địa phương có sự đa dạng sinh học vào bậc nhất Trung Quốc, với đủ các loài thực vật nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới, ma còn có nhiều loài thực vật cổ. Trong số khoảng 30.000 loài thực vật tại Trung Quốc thì trên địa bàn Vân Nam có tới khoảng 18. Đây cũng là nơi nhiều loài động vật quý hiếm trên thế giới sinh sống, đặc biệt là hồ, voi và bò tót. Nếu Vân Nam có sự đa dạng sinh học cao thì Quảng Tây với đặc thù của vùng khí hậu cận nhiệt đới, các loài thực vật ở đây cũng mang tính chất của vùng khí hậu này.
Tại Quảng Tây có khoảng 6.000 loài thực vật, trong đó có 113 loài có nguy cơ tuyệt chủng và được Trung Quốc đưa vào diện cần bảo vệ [111]. 10 Nhìn chung, hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây là vùng đất có sự đa dạng sinh học vô cùng to lớn, với nhiều loài thực vật mang tính chất của khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới với nhiều loài thực vật cổ. Hon thế, vùng đất này còn tập trung nhiều loài động vật quý hiếm không những của riêng Trung Quốc mà còn của châu Á và thế giới. Sự đa dạng sinh học này là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một nền kinh tế với đa dạng các sản phẩm mang tinh chất riêng của mình.
Tiềm năng tự nhiên ở đó có thé khiến cho Việt Nam, Trung Quốc có thể phát triển thương mại với những vùng khác của Trung Quốc cũng như với thị trường nước ngoài. Tinh Vân Nam, Quảng Tây là vùng đất có vị trí địa lý đặc thù, ở vùng cực Nam và Tây Nam Trung Quốc, có đường biên giới tiếp giáp với Việt Nam, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giao lưu buôn bán giữa hai nước. Hơn nữa, với tính chất đa dạng của điều kiện khí hậu đã tạo ra sự phong phú về số lượng và chủng loại các loài động - thực vật vào bậc nhất Trung Quốc. Đây chính là sự ưu đãi của thiên nhiên cho vùng đất này có thể phát triển da dạng các sản phẩm từ trồng trọt và chăn nuôi cung cấp cho thị trường Trung Quốc và khu vực.
Hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây còn là nơi tập trung một số lượng lớn các loại khoáng sản với trữ lượng lớn. Tài nguyên khoáng sản Trên địa bàn Vân Nam, Quảng Tây tập trung một khối lượng khoáng sản không những đa dạng, phong phú về chủng loại mà nơi đây còn có trữ lượng khoáng sản lớn vào bậc nhất Trung Quốc. Theo thống kê, riêng trên địa ban tỉnh Vân Nam người ta đã phát hiện hơn 200 loại khoáng sản. Khoáng sản ở đây chủ yếu thuộc các loại khoáng sản có chứa kẽm, chì, thiếc, mang gan, cadmi, indi, tali và crocidolit.
Theo đánh giá ngày nay, trong số tài nguyên khoáng san tại đây thì, đến hon 40% sô khoáng sản là các loại khoáng sản cung cap nhiên liệu, 7,33% là khoáng sản 11 kim loại và 52,7% là các loại khoáng sản phi kim loại. Trên địa bàn hai tỉnh này có khoảng 13% trong số các loại khoáng sản trầm tích có trữ lượng lớn nhất trong số các mỏ khoáng sản tại Trung Quốc, và 2/3 các trầm tích có trữ lượng lớn nhất tại lưu vực sông Dương Tử và miền Nam Trung Quốc [10, 47]. Không phong phú về chủng loại khoáng sản như ở Vân Nam nhưng Quảng Tây được mệnh danh là “đô thị của khoáng sản phi kim loại”. Nơi đây tập trung 145 loại khoáng sản thì trong đó có đến 97 loại là khoáng sản phi kim loại.
Các loại khoáng sản có trữ lượng lớn có mặt tại Quang Tây phải ké đến: mangan, bạc, thiếc, sắt, asen, bentonit, vanadi, vonfram, indi, chì, kẽm, antimon, bạc. Sự phong phú về chủng loại và tập trung với trữ lượng lớn khoáng sản trên địa bàn hai tỉnh là điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản phát triển. Và hơn thế, sự giàu có tài nguyên thiên nhiên nơi đây còn tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc phát triển quan hệ thương mại giữa vùng đất này với các nước khác. Tuy là vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhưng đến cuối thế kỷ XIX, nơi đây vẫn là vùng đất nghèo nàn, cư dân chủ yếu vẫn sống băng nông nghiệp với lối canh tác truyền thống thô sơ, lạc hậu, người dân ở đây chủ yếu phải yên phận với cuộc sống nghèo đói.
Đánh giá về thực trạng kinh tế Vân Nam vào những năm cuối thé kỷ XIX — đầu thé ky XX, học giả người Pháp Paul Marabail viết: “. mặc cho những tài nguyên đủ loại vốn có của mình, tỉnh Vân Nam vẫn không sản xuất đủ cho việc tiêu thụ của bản thân mình” [10, 47]. Điều kiện giao thông Vân Nam và Quảng Tây vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có điều kiện giao thông lạc hậu. Do địa hình chủ yêu là núi cao và rừng rậm, nên hệ 12 thống giao thông đường bộ nơi đây chủ yếu dựa vào những lỗi mòn, vận chuyền chủ yếu bằng những phương tiện thô sơ như: ngựa, la, lừa.
Tuy nhiên, nơi đây cũng có hệ thống sông, suối rất thuận lợi cho việc vận chuyền hàng hóa với bên ngoài. Từ tỉnh Vân Nam, có thể vận chuyền sản vật theo ba con sông lớn, gồm sông Hồng, sông Lô và sông Quảng Châu (Canton). Trong khi sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam, đồ vào Việt Nam qua các tinh Cao Bang và Tuyên Quang, khó có thé ra biển Đông: sông Quang Châu chảy ra phía Đông dẫn tới Quảng Châu, thì sông Hồng, từ Vân Nam tới Hải Phòng, đến biển Đông chỉ có độ dài 750km. Ở đây cũng cần lưu ý rằng con đường từ Vân Nam tới các trung tâm xuất nhập khâu khác là khá xa, như: Vân Nam - Rangoum (Myanma) với độ dài 1.827km; Vân Nam — Hán Khẩu (Hồ Bắc) có độ dài 1.700km; Vân Nam — Quảng Châu (Quảng Đông) là 1.
Điều này cho thấy việc lựa chọn sông Hồng làm con đường giao lưu thương mại giữa Vân Nam với Bắc Kỳ và ra với thế giới là một sự lựa chọn tối ưu [10, 48]. Giao thông giữa tỉnh Quảng Tây với Lạng Sơn đi vào Bắc Kỳ có thuận lợi hơn. Từ Quang Tây có thé vận chuyển hàng hóa theo hệ thống đường bộ và hệ thống đường thủy. Nếu theo tuyến đường bộ, Quảng Tây có hệ thống giao thông đường bộ tương đối thuận tiện cho việc phát triển quan hệ giao thương với Việt Nam, như: từ Nam Ninh (Quảng Tây) đi Na Sam — Lang Sơn rồi xuống Phủ Lạng Thương; đường từ Long Châu (Quảng Tây) đến Đồng Đăng.
Ngoài hệ thống đường bộ, Quảng Tây cũng có hệ thống giao thông đường thủy nối liền với Bắc Kỳ, rất thuận lợi cho việc phát triển quan hệ giao thương giữa hai vùng. Đó chính là sông Kỳ Cùng, tuy bị cắt ngang vài đoạn, và nhiều thác ghénh, nhưng có thé sử dụng được bat đầu từ Bi Nhi (một điểm 13 giáp ranh biên giới Việt Nam — Trung Quốc trên địa phận Lạng Sơn), điểm cuối cùng của con đường đi từ Phủ Lạng Thương. Về con đường này, người Pháp đã đánh giá là: “Do có con đường thủy sông Ky Cùng, là cho đường Phu Lạng Thương kéo dài, tự nhiên, chúng ta có thể hy vọng đưa sản phẩm của chúng ta vào Trung Quốc với giá rẻ hơn hàng hóa của các nước ngoài khác. Người Anh, người Đức phải mượn đường Pa Khoi hoặc Quảng Đông dài hơn và tốn kém hơn”.
Và “Bằng những Hiệp ước thương mại (sẽ nói ở dưới đây), Long Châu đã mở cửa cho chúng ta, đây chính là một thị trường biên giới quan trọng khi chúng ta biết tận dụng no” [45, 23]. Qua những trình bay trên đây, có thé thay hệ thống giao thông cua hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây vào cuối thế kỷ XIX về cơ bản là tương đối khó khăn cho việc đi lại, vận chuyên hàng hóa trong nội địa cũng như giao thương với các địa phương, quốc gia láng giềng khu vực. Tuy nhiên, hệ thống giao thông thủy, đặc biệt là sông Hồng và sông Kỳ Cùng lại là điều kiện lý tưởng cho việc phát triển quan hệ giao thương giữa vùng này với Bac Kỳ trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Những điều kiện về tự nhiên, tài nguyên khoáng sản là tiềm năng lớn cho việc phát triển quan hệ giao thương giữa Bắc Kỳ và tỉnh Vân Nam, Quảng Tây.
Đặc biệt, với những điều khoản được ký kết giữa thực dân Pháp và nhà Thanh đã kích thích sự đầu tư của Pháp nhằm xây dựng và mở mang hệ thống giao thông nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quan hệ thương mại giữa hai vùng. Quan hệ thương mại giữa Bắc Kỳ và Vân Nam, Quảng Tây còn có khả năng phát triển nữa là, hai vùng đã có truyền thống quan hệ buôn bán, trao đôi hàng hóa rất lâu đời trong lịch sử. Quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam trong lịch sử 1. Quan hệ buôn bán giữa Trung Quốc và Việt Nam thời kỳ cổ trung đại Trung Quốc và Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 1463,4 km [3], ngoài ra còn có chung đường biên giới trên biển.
Khu vực biên giới Trung Quốc tiếp giáp với tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Băng, Lạng Sơn, Quảng Ninh (Việt Nam) bao gồm 2 tỉnh: Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang thuộc tỉnh Quảng Tây. Quan hệ buôn bán giữa Trung Quốc và Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng cũng trải qua nhiều thăng trầm bởi nó cũng chịu tác động của mối quan hệ chính tri giữa hai nước trong từng giai đoạn lich sử.