mở đầu cho thời kỳ Angkor. Trong thời kỳ này, các vua Campuchia đã không ngừng tiến hành rất nhiều cuộc xâm lược các nước láng giềng, xây dựng rất nhiều đền đài nguy luan an nga, tráng lệ: “sự say sưa chiến công, xa hoa, lãng phí của các ông vua Angkor làm cho kinh tế đất nước ngày càng kiệt quệ, khiến nhân dân thêm khổ cực và bất mãn. Đó là nguyên nhân khiến cho đế chế Angkor suy sụp” [1, tr. Sau thời kỳ Angkor huy hoàng, Campuchia rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài.
Nước Đại Việt sau thời Lê sơ cũng lâm vào khủng hoảng và bị chia cắt. Trái lại, Vương quốc Xiêm trẻ trung ngày càng phát tiển, trở thành một Vương quốc hùng mạnh bậc nhất của khu vực. Trong bối cảnh đó Campuchia mặc nhiên trở thành đối tượng xâm lược triền miên của người Thái. Những cuộc chiến tranh với người Thái đã làm cho Vương quốc Campuchia suy yếu trầm trọng.
Từ đầu thế kỷ XVII, thông qua quan hệ hôn nhân, vua Campuchia Chey Chestha II (1618-1625) cưới Ngọc Vạn con gái chúa Nguyễn Phước Nguyên làm hoàng hậu. Dưới sự bảo trợ của của bà hoàng hậu người Việt này, cư dân người Việt tới làm ăn sinh sống ở lưu vực sông Đồng Nai ngày càng nhiều. Những hoạt động của cộng đồng cư dân ngày càng đông của người Việt đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúa Nguyễn từng bước hợp pháp hóa sự kiểm soát của mình đối với vùng đất đã được người Việt khai khẩn. Chính vì vậy các chúa Nguyễn ở Đàng trong đã bước đầu xác lập được ảnh hưởng với triều đình Campuchia.
Năm 1623, chúa Nguyễn được vua Campuchia Chey Chestha II cho phép: “Lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Sài Gòn để thu thuế” [67, tr. Năm 1658, Chân lạp xâm phạm lãnh thổ của chúa Nguyễn ở vùng Thuận - Quảng. Chúa Nguyễn sai quân đi đánh tan buộc Chân Lạp “làm phiên thần hàng năm nộp cống” [7, tr.000 quân tướng nhà Minh (Trung Quốc) của Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến. không chịu quy phục nhà Thanh đến Đà Nẵng xin được quy phục chúa Nguyễn.
Chúa Nguyễn chấp nhận và khiến vua Chân Lạp cho họ tới lập nghiệp ở Đông Phố vùng đất Đồng Nai. Cùng thời gian này, Mạc Cửu người Quảng Đông (Trung Quốc), cũng vì không khuất phục triều Thanh, tới Chân Lạp “chiêu tập dân siêu dạt đến các nơi Phú Quốc, Cần Bột, Gía Khê, Luống cày, Hương úc, Cà Mau (thuộc tỉnh Hà Tiên) thành lập 7 xã thôn” [7, tr.122], biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên thành khu vực cát cứ của dòng họ mình, hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc vào chính quyền Chân Lạp nữa. luan an Năm 1693, khi chúa Nguyễn thu phục được vùng đất Chiêm Thành thì Chân Lạp mới là nước láng giềng trực tiếp của Việt Nam. Mặc dù vùng đất châu thổ sông Cửu Long lúc đó danh nghĩa thuộc Chân Lạp, nhưng trong thực tế còn hoanh vu, dân cư thưa thớt, triều đình Chân Lạp chưa quản lý được.
Yêu cầu về nhân lực để khai phá vùng đất này rất lớn. Đúng lúc đó làn sóng di cư ngày càng đông đảo của nông dân người Việt, Hoa, Chăm đã kéo đến cùng người Khmer sống từ trước tại đây ra sức khai phá, cải tạo thiên nhiên, chinh phục vùng đất bồi ven biển. Trong việc khai phá, cải tạo này, vai trò của người Việt rất lớn, sự có mặt của họ lúc đó rõ ràng là rất cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Với đà phát triển về mọi mặt của vùng đất này, nơi đây đã trở thành địa bàn cư trú chủ yếu của người Việt đến lập nghiệp và vùng đất này đã được sát nhập vào bản đồ Việt Nam không bằng bạo lực, mà bằng con đường hòa hợp chung sống hòa bình, rõ ràng: “Người Việt đến Chân Lạp không chỉ có những đội quân được đưa sang Chân Lạp chống lại quân Xiêm hoặc lực lượng thân Xiêm theo yêu cầu của các vua Chân Lạp, không phải dùng gươm để chiếm lấy đất đai mà là do sự trả công một cách tự nguyện của người Chân Lạp” [30, tr.
Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đông Phố: “Bắt đầu đặt phủ Gia Định, Sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh lượt đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy sứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ) dựng dinh phiên Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên trấn (tức Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất đai nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những người dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về Nam cho đến ở cho đông” [7, tr. Từ đó Gia Định đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa và hành chính - chính trị của Nam Bộ. Trước sự phát triển nhanh chóng của vùng Gia Định dưới chính quyền chúa Nguyễn, năm 1708, Mạc Cửu đem toàn bộ vùng đất Hà Tiên do mình cai quản về với chúa Nguyễn.
Cuối năm 1755, do mắc lỗi với chúa Nguyễn, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên chạy về Hà Tiên, nương nhờ Mạc Thiên Tứ (con Mạc Cửu). Năm 1756, Nặc Nguyên luan an xin hiến đất hai phủ Tâm Bôn, Lôi Lạp và nạp bù lễ cống còn thiếu trong những năm trước để chuộc tội [7, tr. Những người kế ngôi tiếp theo của các vua Chân Lạp tiếp tục dâng các vùng đất Nam Bộ cho chúa Nguyễn. Với việc dâng đất tiếp theo của Nặc Tôn năm 1757, hầu như toàn bộ vùng đất Nam Bộ thực tế đã hoàn toàn thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn, tức là chủ quyền của Việt Nam.
Như vậy có thể nói, do kết quả của những cuộc di dân của những lưu dân người Việt, Hoa, Chăm cũng như những thỏa thuận của các lực lượng trong triều đình Campuchia với các chúa Nguyễn để đổi lấy sự ủng hộ của các chúa Nguyễn trong cuộc đấu tranh giành quyền lực ở Campuchia, vào cuối thế kỷ XVIII, toàn bộ vùng đất Nam Kỳ đã thuộc về chính quyền các chúa Nguyễn. Năm 1802 triều Nguyễn được thành lập, Việt Nam trở thành một quốc gia phong kiến thống nhất. Sự ra đời của triều Nguyễn đã làm thay đổi sâu sắc tương quan lực lượng trên bán đảo Đông Dương và có tác động tới quan hệ giữa hai nước Campuchia - Việt Nam, hai nước thường cử sứ giả qua lại giao hảo. Tuy nhiên, trong những năm Vua Gia Long mới lên ngôi, nhà Nguyễn do phải lo củng cố chính quyền trên cả nước và tìm kiếm sự ủng hộ, thừa nhận của nhà Thanh nên vẫn chưa có điều kiện tăng cường ảnh hưởng chính trị ở Campuchia, mặc dù triều Nguyễn và cá nhân vua Gia Long nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề này đối với an ninh quốc gia ở biên giới Tây Nam.
Để giảm áp lực và sự o ép của Xiêm, vua Ang Chan quyết định dựa vào triều Nguyễn. Tháng 9 năm 1807 Ang Chan cử sứ giả sang Huế xin triều Nguyễn phong Vương. Đề nghị của Ang Chan được triều Nguyễn chấp nhận ngay. Với việc Ang Chan xin thần thuộc, triều Nguyễn đã có một cơ hội thuận lợi để tăng cường đáng kể ảnh hưởng của mình ở Campuchia.
Đến cuối thế kỷ XIX, giai cấp phong kiến đầu hàng thực dân Pháp, nhân dân Campuchia liên kết với các nghĩa sĩ Việt Nam trong phong trào Trương Công Quyền - Pôkumpao để chống xâm lược phương Tây. Sự hỗ trợ lẫn nhau trong những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược là những minh chứng thể hiện sự hợp tác chặt chẽ của hai dân tộc cùng chống kẻ thù chung trong tiến trình lịch sử: “Chính sự thống trị luan an của thực dân Pháp đã đưa Campuchia - Việt Nam lại với nhau thành một đơn vị chính trị” [15, tr15]. Từ năm 1930 trở đi với sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, truyền thống đoàn kết chiến đấu của hai dân tộc được nâng lên một bước, biến đổi về chất, thấm đượm tinh thần cách mạng. Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc trường kỳ kháng chiến từng bước thắng lợi.
Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ (1954) đã mang lại thắng lợi to lớn cho cả ba nước trên bán đảo Đông Dương. Đó là điều kiện lịch sử vô cùng thuận lợi để nhân dân Campuchia tiếp tục đấu tranh đưa đất nước Campuchia thoát khỏi sự ràng buộc của đế quốc Pháp (25.1955) chấm dứt 100 năm đô hộ của chế độ thực dân. Tuy nhiên, nhân dân Campuchia và nhân dân Việt Nam lại phải tiếp tục đoàn kết chiến đấu trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai kéo dài từ năm 1954 đến năm 1975 với sự thắng lợi hoàn toàn của nhân dân Đông Dương. Trong thập niên 1960, Campuchia tuyên bố trung lập, mặc dù chưa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội nhưng Campuchia đã cho: “Quân đội Bắc Việt vào đóng trong lãnh thổ, làm căn cứ đánh Miền Nam Việt Nam” [20, tr.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân hai nước Campuchia - Việt Nam đã phối hợp cùng đánh thắng hàng loạt các chiến lược quân sự của Mỹ và tay sai như chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ Việt Nam hóa, Campuchia hóa chiến tranh. Nhân dân hai nước đã đánh bại các cuộc hành quân chiến lược của Nich xơn như “Chen La I”, “Lam Sơn 719”, “Chen La II”. Trên đà thắng lợi ngày càng có tính chất quyết định trên chiến trường, mùa xuân năm 1975, cuộc tổng tấn công và nổi dậy của quân dân Việt Nam đánh vào hang ổ cuối cùng của quân ngụy Sài Gòn đã tạo thời cơ thuận lợi cho quân và dân Campuchia tổng công kích quân ngụy, Phnôm Pênh đã giành thắng lợi ngày 17 tháng 4 năm 1975. Quan hệ Campuchia - Việt Nam 1975 - 1985.
Chính sách đối ngoại của tập đoàn Pônpôt giai đoạn 1975-1979. Việt Nam vừa được hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước ngày 30 tháng 4 năm 1975, thì ngày 01 tháng 5 năm 1975 , tập đoàn Pônpôt đã dùng lực lượng quân sự tấn công, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam từ Hà Tiên đến Tây Ninh. luan an Cùng với việc thanh trừng nội bộ, chính quyền Pônpôt xua đuổi và giết hại Việt kiều sinh sống hợp pháp trên đất Campuchia từ nhiều năm, chuyển dân Campuchia sống ở vùng biên giới với Việt Nam vào sâu trong nội địa Campuchia và từ thành phố về nông thôn sinh sống.