Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Định với đề tài "Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Âu, châu Mỹ thời thuộc Pháp giai đoạn 1897 - 1945" thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13), được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Ngọc Cơ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngoại thương giữ vai trò liên kết giữa thị trường trong nước và quốc tế, phản ánh tính chất của một nền kinh tế. Theo nhận định của Ch. Robequain được luận án trích dẫn: "Việc nghiên cứu ngoại thương đáng được coi như nguồn chính của những chỉ dẫn cần thiết cho nền kinh tế và sự phát triển của một quốc gia". Thời kỳ thuộc Pháp, đặc biệt từ năm 1897 đến 1945, ngoại thương có phần đóng góp vào tổng thu nhập quốc nội trung bình giai đoạn 1909 - 1943 lên tới 2.900 triệu francs/năm (theo số liệu của Niên giám thống kê Đông Dương). Đây cũng là giai đoạn Việt Nam mở rộng quan hệ giao thương với các quốc gia Âu, Mỹ bên ngoài khu vực truyền thống. Mặc dù kinh tế Đông Dương thời thuộc địa đã được một số học giả quan tâm, mảng đề tài lịch sử ngoại thương, đặc biệt là quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia châu Âu và châu Mỹ từ năm 1897 đến năm 1945, vẫn là vấn đề chưa được khảo cứu một cách toàn diện và có hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định ba mục đích nghiên cứu chính:

  1. Làm rõ cơ sở hình thành và phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ giai đoạn 1897 - 1945.
  2. Làm rõ quá trình phát triển của hoạt động giao thương giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ từ năm 1897 đến năm 1945.
  3. Tìm bản chất và sự tác động của mối quan hệ nêu trên đối với kinh tế - xã hội Việt Nam đương thời.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác định, phân tích những nhân tố cơ bản có tác động ảnh hưởng đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia Âu, Mỹ giai đoạn 1897 - 1945.
  2. Dựng lại tiến trình hoạt động giao thương giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ từ năm 1897 đến năm 1945.
  3. Đánh giá thực trạng, đặc điểm và tác động của quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ đối với tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ trong giai đoạn từ năm 1897 đến năm 1945.
  • Phạm vi không gian: Về phía Việt Nam, nghiên cứu bao quát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam gồm ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ trong cơ cấu Liên bang Đông Dương. Tác giả luận giải việc sử dụng số liệu ngoại thương toàn xứ Đông Dương làm đại diện cho Việt Nam vì: thứ nhất, số liệu riêng lẻ từng xứ rất tản mạn; thứ hai, tài liệu thống kê chính thức (như Statistiques Coloniales, Bulletin économique de l’Indochine, Annuaire statistique de l’Indochine) chủ yếu thống kê chung toàn Đông Dương hoặc gộp Nam Kỳ với Cao Miên; thứ ba, ba kỳ của Việt Nam giữ vai trò huyết mạch và chủ đạo trong ngoại thương Đông Dương (toàn bộ xuất nhập khẩu của Cao Miên đều đi qua cảng Sài Gòn, phần của Ai Lao không đáng kể). Về phía đối tác Âu, Mỹ, luận án tập trung vào bốn quốc gia có giao dịch thương mại thường xuyên và chiếm tỷ trọng lớn: Pháp, Anh, Đức và Hoa Kỳ.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1897 (thời điểm thực dân Pháp bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất) đến tháng 8 năm 1945 (trước thềm Cách mạng tháng Tám).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào phương diện trao đổi, mua bán hàng hóa (xuất nhập khẩu hai chiều), nhìn nhận chủ thể từ phía Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân chia các công trình nghiên cứu trước đây thành hai nhóm chính theo nguồn gốc học giả:

Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước

  • Nhóm nghiên cứu về kinh tế, xã hội thời thuộc Pháp: Nguyễn Khắc Đạm với Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam (1957) phân tích chế độ thuế và nền thương nghiệp thời thuộc địa. Nguyễn Công Bình với Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc (1950) cung cấp số liệu về thương nhân Việt Nam và việc tàu buôn phương Tây ra vào cảng Sài Gòn những năm 1860 - 1862. Trần Khánh trong Vai trò người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á (1992) chỉ rõ tư sản Hoa kiều kiểm soát khoảng 40% bán buôn và 70% bán lẻ, độc quyền xuất khẩu gạo, trong khi người Pháp nắm độc quyền xuất khẩu khoáng sản, cao su và nhập khẩu thiết bị. Châu Thị Hải trong công trình năm 2006 lại đưa ra góc nhìn khác khi nhận định tư bản Hoa kiều có lúc vượt lên tư bản Pháp và vươn tầm sang châu Âu. Các nghiên cứu của Vũ Huy Phúc (1996), Cao Văn Biền (1998), Bùi Thị Tân và Vũ Huy Phúc (1998), Phạm Đình Tân (1959) nghiên cứu về tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp than, chỉ ra vai trò của xuất khẩu đối với sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Nguyễn Văn Khánh (1999) qua Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945) đánh giá quá trình tư bản hóa và quan hệ thương mại với Pháp, Mỹ, châu Âu. Đặng Phong trong Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000 (tập 1, 2002) phân tích chế độ quan thuế bảo hộ làm tăng tỷ lệ hàng Pháp nhập khẩu vào Việt Nam (từ 37% năm 1894 lên 50% năm 1928 và 57% năm 1931), đồng thời thống kê lượng cao su xuất khẩu sang Pháp, Mỹ, Anh, Nhật năm 1929 và 1937. Ngoài ra còn có các chuyên khảo kinh tế của Lê Quốc Sử (1998), Phạm Văn Chiến (2003); luận án của Lê Huỳnh Hoa (2003) về cảng Sài Gòn; các nghiên cứu của Phạm Xanh (2002), Tạ Thị Thúy (2005), Trần Thanh Hương (2012), Nguyễn Văn Phượng (2014).
  • Nhóm nghiên cứu trực tiếp về thương mại, ngoại thương: Thành Thế Vỹ (1961) khảo sát ngoại thương thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX. Đỗ Bang (1997) và Trương Thị Yến (2004) nghiên cứu thương nghiệp triều Nguyễn, xác định chính sách của triều đình đối với phương Tây là "mở cửa nửa vời". Lê Văn Năm (2001) chỉ ra sự chuyển hướng của thị trường lúa gạo Đông Dương giữa hai cuộc thế chiến từ Đông Á sang Pháp và thuộc địa Pháp. Tạ Thị Thúy (2006) nhận định thặng dư thương mại lớn phản ánh sự bóc lột của chính quốc. Đặc biệt, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Tùng (2014) khảo sát quan hệ giao thương giữa Việt Nam với khu vực Đông Bắc Á giai đoạn 1897 - 1945.

Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài

  • Công trình tiếng Pháp: P. Gourou (1929) trong L’Indochine française khái quát 10 trang về ngoại thương Đông Dương và kim ngạch một số mặt hàng với Anh, Bỉ, Hoa Kỳ năm 1927. Vital Talon (1932) với Le régime douanier de l’Indochine phân tích hệ thống thuế quan từ luật năm 1892 đến luật ngày 13 tháng 4 năm 1928. Paul Bernard (1934) trong Le problème économique indochinois khảo sát hoạt động xuất nhập khẩu năm 1931, đặc biệt là thị trường gạo và cao su. M. Carsow (1935) phân tích danh mục 45 mặt hàng nhập khẩu vào Pháp năm 1913, 1926, 1933. A. Grandel (1936) đưa ra tỷ trọng Pháp chiếm 56% (1932) và 54% (1933) trong ngoại thương Đông Dương. J-P. Aumiphin (1994) ghi nhận chỉ khoảng 25% ngoại thương Nam Kỳ thuộc về người Pháp, còn lại nằm trong tay Hoa thương. Pierre Brocheux và Daniel Hémery (1995) chỉ ra cán cân thương mại Đông Dương - Pháp luôn nghiêng về xuất siêu của chính quốc vào thuộc địa. Kham Vorapheth (2004) nghiên cứu lịch sử các công ty thương mại Pháp như Denis - Frères.
  • Công trình tiếng Anh: Robert Hopkins Miller (1990) trong The United States and Vietnam 1787 – 1941 ghi nhận sự kiện Thomas Jefferson tìm hiểu việc mua gạo Nam Kỳ năm 1787 và việc Hoa Kỳ lập lãnh sự quán tại Sài Gòn, nhưng không đi sâu vào diễn biến buôn bán giai đoạn 1897 - 1941. Các nghiên cứu của Shiraishi Takashi (1993), Shiraishi Saya (1993), Fukuda Shozo (1995) tập trung vào yếu tố Nhật Bản và người Hoa.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây chỉ đề cập ngoại thương như một phần phụ trong bức tranh kinh tế chung, hoặc tập trung cục bộ vào cuộc khủng hoảng 1929 - 1933, hoặc chỉ nghiên cứu thương mại với chính quốc Pháp hay khu vực châu Á. Luận án của Nguyễn Thị Định là công trình chuyên khảo đầu tiên trực tiếp phục dựng có hệ thống toàn bộ tiến trình, cơ cấu hàng hóa, đặc điểm và tác động của quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước phương Tây (Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Đức) trong toàn bộ khung thời gian 1897 - 1945.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan niệm khái niệm

Luận án tiếp cận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận sử học mác-xít, vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc và kinh tế học chính trị.

  • Khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa hẹp của thời kỳ cận đại tại một nước thuộc địa: là quá trình mua bán, lưu thông hàng hóa hai chiều (xuất khẩu và nhập khẩu) giữa Việt Nam với thị trường ngoài nước.
  • Đơn vị tiền tệ chính sử dụng trong hệ thống thống kê thuộc địa là đồng bạc Đông Dương (piastre), được quy đổi biến động tương ứng với đồng Franc của Pháp, Đô la Mỹ (USD), Yên Nhật (Yen) và Đô la Hồng Kông (HKD).
Năm Francs USD Yen HKD
1913 2,50 2,08 1,02 0,99
1915 2,46 2,29 1,12 1,05
1918 4,25 1,30 0,69 0,99
1920 11,57 1,24 0,65 1,07
1925 11,95 1,77 0,73 1,00
1928 12,77 2,01 0,93 1,00
1930 10,00 2,56 1,27 0,88
1933 10,00 2,14 0,54 0,60
1936 10,00 1,68 0,49 0,53
1939 10,00 4,01 1,04 1,08
1940 10,00 4,41 1,11 —

(Nguồn số liệu: Service de la Statistique Générale, IDEO, Hanoi, 1941; dẫn theo luận án).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp hai phương pháp nghiên cứu lịch sử chuyên ngành và các phương pháp liên ngành:

  1. Phương pháp lịch sử: Dựng lại tiến trình vận động cụ thể của các dòng lưu chuyển hàng hóa, kim ngạch xuất nhập khẩu, chính sách thuế quan qua từng thời kỳ lịch sử từ năm 1897 đến năm 1945.
  2. Phương pháp lôgic: Khảo sát các mối quan hệ nhân quả giữa bối cảnh quốc tế (chiến tranh, khủng hoảng kinh tế), chính sách bảo hộ mậu dịch của Pháp và cơ cấu kinh tế thuộc địa, từ đó rút ra các đặc điểm và bản chất của nền ngoại thương.
  3. Phương pháp bổ trợ: Vận dụng phương pháp định lượng và thống kê học để xử lý hệ thống số liệu kim ngạch, sản lượng, giá trị hàng hóa; phương pháp so sánh lịch sử nhằm làm rõ vị thế đối tác thương mại giữa Pháp với Anh, Hoa Kỳ, Đức và khu vực châu Á.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tài liệu lưu trữ: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội), gồm các nghị định, sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương, hiệp định thương mại, biểu thuế quan, hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu, báo cáo cung cấp hàng hóa quân sự.
  • Tài liệu niên giám và báo cáo thống kê thời thuộc Pháp: Annuaire statistique de l’Indochine, Statistiques coloniales, Bulletin économique de l’Indochine, Rapport général sur les statistiques des douanes de l’Indochine, Indices économiques indochinois.
  • Tài liệu tham khảo: Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học trong nước và sách tiếng Pháp, tiếng Anh xuất bản qua các thời kỳ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này dành 25 trang tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích chi tiết từng hướng tiếp cận của các thế hệ học giả:

  • Các nghiên cứu kinh tế - xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc đã phác họa được chính sách khai thác thuộc địa, bóc lột thuế khóa và sự hình thành của các tầng lớp xã hội, nhưng chỉ xem ngoại thương là vấn đề thứ yếu hoặc chỉ dẫn số liệu phân tán.
  • Các công trình chuyên sâu của học giả Pháp thời kỳ 1929 - 1936 (như Talon, Bernard, Carsow, Grandel) phản ánh tương đối chân thực số liệu giai đoạn khủng hoảng kinh tế thừa, song đứng trên giác độ quyền lợi của nền kinh tế đế quốc.
  • Tác giả xác lập tính kế thừa đối với các dữ liệu thực chứng về đầu tư, tài chính của J-P. Aumiphin, Brocheux, Vorapheth; đồng thời khẳng định việc nghiên cứu toàn diện quan hệ thương mại với các nước Âu, Mỹ giai đoạn 1897 - 1945 là nhiệm vụ chưa từng có công trình nào giải quyết trọn vẹn trước đó.

Chương 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ từ năm 1897 đến năm 1945

Chương 2 phân tích các yếu tố tiền đề tác động đến quan hệ ngoại thương trên cả hai bình diện quốc tế và đối nội:

  • Bối cảnh thế giới: Bước nhảy vọt về giao thông vận tải hàng hải và đường sắt đã rút ngắn khoảng cách địa lý. Kênh đào Suez mở năm 1869 giúp rút ngắn thời gian hành trình từ Bordeaux/Marseille tới Sài Gòn từ 12 - 13 tuần xuống dưới 5 tuần, cước phí tàu biển giảm từ 950 francs/tấn năm 1869 xuống 172 francs năm 1880 và 86 francs năm 1889. Kênh đào Panama đưa vào vận hành năm 1914 thúc đẩy giao thông giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Sự phát triển của mạng lưới thông tin liên lạc (điện tín, cáp ngầm, điện thoại) tạo điều kiện cho các phương thức mậu dịch hiện đại (đặt hàng qua thư tín dụng, catalogue). Sự vươn lên của chủ nghĩa tư bản biến thuộc địa thành nơi cung ứng khoáng sản, cao su, nông sản và thị trường tiêu thụ hàng chế biến công nghiệp. Việc Trung Quốc mở cửa và Hồng Kông trở thành cảng miễn thuế đã tạo nên trạm trung chuyển hàng hóa trọng yếu nối Đông Dương với Anh, Mỹ và châu Âu. Hai cuộc đại chiến thế giới và khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 gây gián đoạn các luồng mậu dịch và đẩy mạnh chính sách kinh tế chỉ huy.
  • Bối cảnh trong nước: Vị trí địa lý thuận lợi của bán đảo Đông Dương với mạng lưới cảng biển quan trọng như Sài Gòn, Hải Phòng. Chính sách độc quyền ngoại thương của Pháp thông qua biểu thuế quan bảo hộ khắt khe (đặc biệt là chế độ đồng hóa thuế quan theo luật năm 1892 và biểu thuế bảo hộ năm 1928) nhằm biến thị trường Việt Nam thành "sân sau" độc quyền tiêu thụ hàng công nghiệp chính quốc và ngăn chặn sự thâm nhập của hàng hóa các nước Anh, Mỹ, Đức.

Chương 3: Hoạt động thương mại giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ từ năm 1897 đến năm 1945

Chương 3 tái hiện diễn biến thực tế của dòng luân chuyển hàng hóa theo hai thời kỳ lớn với 6 giai đoạn cụ thể:

  1. Giai đoạn 1897 – 1929:
    • Thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914): Ngoại thương phát triển gắn với việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng (cảng biển, đường sắt). Hàng xuất khẩu chủ yếu gồm lúa gạo, than đá, kim loại; hàng nhập khẩu tập trung vào máy móc, thiết bị đường sắt, vải sợi và hàng tiêu dùng từ Pháp.
    • Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918): Hoạt động thương mại với châu Âu bị hạn chế do thiếu hụt phương tiện vận tải đường biển và chính sách trưng dụng thời chiến của Pháp. Quan hệ mậu dịch với Hoa Kỳ và Anh có xu hướng tăng lên để bù đắp sự thiếu hụt hàng hóa từ chính quốc.
    • Thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 – 1929): Dòng vốn đầu tư của tư bản Pháp đổ mạnh vào đồn điền cao su và khai mỏ. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh; cao su nổi lên thành mặt hàng xuất khẩu chiến lược sang thị trường Pháp, Hoa Kỳ và Anh.
  2. Giai đoạn 1930 – 1945:
    • Trong khủng hoảng kinh tế (1930 – 1933): Giá nông sản và khoáng sản sụt giảm nghiêm trọng, sức mua suy giảm, mậu dịch sút giảm mạnh. Pháp tăng cường các biện pháp thắt chặt bảo hộ và trợ giá để gom nguồn hàng xuất khẩu thuộc địa về thị trường chính quốc.
    • Giai đoạn phục hồi và trước Chiến tranh thế giới thứ hai (1934 – 1939): Phục hồi sản xuất và thương mại; thị phần hàng hóa Pháp chiếm ưu thế áp đảo theo biểu thuế 1928, trong khi hàng hóa của Anh, Đức, Hoa Kỳ chỉ chiếm thị phần nhỏ lẻ ở một số chủng loại như xăng dầu, cơ khí chuyên dụng.
    • Thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945): Tuyến hàng hải sang châu Âu và châu Mỹ bị phong tỏa hoàn toàn. Sau khi quân đội Nhật Bản tiến vào Đông Dương, mậu dịch với các nước phương Tây chấm dứt, kinh tế thuộc địa bị khống chế phục vụ khối quân phiệt Nhật cho đến tháng 8 năm 1945.

Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ từ năm 1897 đến năm 1945

Tác giả đúc kết các luận điểm về bản chất quan hệ ngoại thương thời thuộc địa:

  • Đặc điểm quan hệ thương mại:
    • Sự tiến triển bất bình đẳng và phụ thuộc: Tăng trưởng ngoại thương phụ thuộc chặt chẽ vào chính sách thực dân và chu kỳ kinh tế tư bản chính quốc chứ không bắt nguồn từ nhu cầu nội tại của kinh tế bản xứ.
    • Vị thế đối tác: Nước Pháp luôn nắm giữ vị thế chi phối tuyệt đối nhờ hàng rào thuế quan bảo hộ và hệ thống doanh nghiệp mậu dịch độc quyền (như hãng Denis - Frères). Các cường quốc Âu, Mỹ khác (Anh, Hoa Kỳ, Đức) dù có tiềm lực công nghiệp vượt trội nhưng chỉ giữ vị thế thứ yếu tại Đông Dương, chủ yếu đóng vai trò nhập khẩu nguyên liệu cao su hoặc cung cấp một số mặt hàng mà Pháp không thể đáp ứng (như dầu mỏ từ Hoa Kỳ).
    • Cơ cấu chủng loại hàng hóa: Mang tính chất thuộc địa điển hình: Việt Nam chuyên xuất khẩu nguyên liệu thô sơ chế (lúa gạo, cao su, than đá, kẽm, xi măng) và nhập khẩu sản phẩm công nghiệp chế biến, hàng tiêu dùng (vải sợi bông, kim loại, thiết bị máy móc, rượu vang, đồ xa xỉ phẩm).
  • Tác động kinh tế - xã hội:
    • Tác động kinh tế: Từng bước gắn kết kinh tế Việt Nam vào thị trường tư bản thế giới, kích thích một số ngành sản xuất hàng hóa (trồng cao su, khai mỏ, xay xát gạo) phát triển; tuy nhiên làm nền kinh tế bị què quặt, hoàn toàn phụ thuộc vào biến động thị trường bên ngoài và kìm hãm sự phát triển của công nghiệp chế tạo nội địa.
    • Tác động xã hội: Làm thay đổi cơ cấu giai cấp xã hội, dẫn tới sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân tại các mỏ than, đồn điền, bến cảng; sự hình thành tầng lớp tư sản và tiểu tư sản thương nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo ra mạng lưới phân phối trung gian nằm dưới sự chi phối của tư sản ngoại kiều (Pháp và Hoa thương).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học

  • Đây là công trình lịch sử đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về toàn bộ tiến trình lịch sử quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Âu và châu Mỹ trong suốt giai đoạn 1897 - 1945.
  • Phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế ngoại thương qua hệ thống số liệu định lượng phong phú từ các báo cáo thống kê lưu trữ của Pháp (Statistiques coloniales, Bulletin économique de l’Indochine, Annuaire statistique de l’Indochine).
  • Luận giải nguyên nhân sâu xa của những bước thăng trầm trong quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với Pháp và các nước phương Tây khác (Anh, Hoa Kỳ, Đức); chứng minh cơ chế bảo hộ mậu dịch khắt khe mà thực dân Pháp áp đặt đã bóp nghẹt sự phát triển tự nhiên của ngoại thương Đông Dương.
  • Góp phần làm rõ bản chất của công cuộc khai thác thuộc địa và "sự nghiệp khai hóa" của thực dân Pháp: ngoại thương thực chất là công cụ hút vét tài nguyên thô phục vụ chính quốc và biến Việt Nam thành thị trường độc quyền tiêu thụ hàng ế thừa của tư bản Pháp.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp nguồn tư liệu và hệ thống bảng biểu thống kê phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử Việt Nam cận đại, lịch sử kinh tế Việt Nam và lịch sử quan hệ quốc tế.
  • Đúc rút những bài học kinh nghiệm lịch sử về cơ chế thuế quan, cán cân thanh toán, cấu trúc mặt hàng xuất nhập khẩu và sự phụ thuộc thị trường, gợi mở hàm ý tham khảo cho công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển ngoại thương hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các giới hạn tư liệu mà văn bản luận án thừa nhận:

  • Về nguồn số liệu thống kê: Các tài liệu thống kê chính thức của chính quyền thuộc địa không tách rời triệt để số liệu ngoại thương của ba xứ Việt Nam với toàn Đông Dương, đồng thời số liệu thương mại của Nam Kỳ thường bị tính gộp chung với Cao Miên.
  • Về phương diện kỹ thuật thống kê: Nguồn tư liệu lưu trữ của thời kỳ thuộc địa không phân biệt rõ ràng giữa "thương mại chung" (commerce général) và "thương mại đặc biệt" (commerce spécial).
  • Về góc độ tiếp cận: Luận án khảo sát chủ yếu từ phía nguồn tài liệu lưu trữ tại Việt Nam, nhìn nhận Việt Nam là chủ thể, chưa đối sánh trực tiếp với nguồn hồ sơ lưu trữ hải quan tại các nước đối tác như Anh, Hoa Kỳ hay Đức.
  • Phạm vi đối tác: Luận án chỉ giới hạn tập trung vào 4 quốc gia phương Tây tiêu biểu (Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Đức) mà chưa khảo sát toàn bộ các quốc gia khác ở châu Âu và châu Mỹ có hiện diện buôn bán tại Đông Dương thời kỳ này.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cụ thể đối với nhiều đối tượng học thuật:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Lịch sử: Tham khảo phương pháp tiếp cận lịch sử kinh tế, cách xử lý và tổng hợp các nguồn tư liệu niên giám thống kê tiếng Pháp, kỹ thuật bóc tách và phân kỳ lịch sử ngoại thương.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế: Sử dụng hệ thống tư liệu chương 2, chương 3 và bảng tra cứu tỷ giá quy đổi đồng bạc Đông Dương, hệ thống bảng biểu xuất nhập khẩu để biên soạn bài giảng lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc.
  • Chuyên gia nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế: Phần phân tích tác động tiêu cực của chính sách bảo hộ cực đoan và việc đơn phương lệ thuộc vào một thị trường cung ứng - tiêu thụ là tư liệu thực chứng hữu ích để nghiên cứu bài học quản trị rủi ro ngoại thương.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lại sử dụng số liệu ngoại thương toàn Đông Dương để nghiên cứu về ngoại thương của Việt Nam?
Luận án giải thích do ba lý do thực tế: (1) Tài liệu thống kê riêng rẽ từng xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) rất tản mạn, không đủ cấu thành chuỗi số liệu hoàn chỉnh; (2) Các ấn phẩm thống kê chính thức của Pháp thời kỳ này đều gộp chung số liệu toàn Đông Dương, hoặc gộp Nam Kỳ với Cao Miên; (3) Ba xứ của Việt Nam chiếm vị trí áp đảo tuyệt đối trong kinh tế mậu dịch Đông Dương (Ai Lao hầu như không đáng kể, toàn bộ hàng hóa của Cao Miên đều đi qua cảng Sài Gòn), do đó các chỉ số của Đông Dương phản ánh căn bản diện mạo ngoại thương của Việt Nam.

2. Đóng góp kinh tế của lĩnh vực ngoại thương Đông Dương đạt mức độ nào trong giai đoạn thuộc Pháp?
Theo số liệu từ Niên giám thống kê Đông Dương được luận án trích dẫn, phần đóng góp của ngoại thương vào tổng thu nhập quốc nội đạt trung bình lên đến 2.900 triệu francs mỗi năm trong giai đoạn 1909 - 1943.

3. Sự kiện giao thông vận tải quốc tế nào vào cuối thế kỷ XIX đã tác động mạnh mẽ nhất đến thời gian và cước phí mậu dịch giữa Pháp và Việt Nam?
Đó là sự kiện khánh thành kênh đào Suez vào ngày 17 tháng 11 năm 1869. Tuyến đường biển này đã rút ngắn thời gian hành trình từ Marseille/Bordeaux đến Sài Gòn từ 12 - 13 tuần (vòng qua mũi Hảo Vọng) xuống còn chưa đầy 5 tuần, đồng thời giảm cước phí vận chuyển từ 950 francs/tấn năm 1869 xuống 172 francs năm 1880 và chỉ còn 86 francs vào năm 1889.

4. Chế độ thuế quan của chính quyền thực dân tác động như thế nào đến tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Pháp vào Việt Nam?
Luận án dẫn chứng nhận định của các nhà nghiên cứu cho thấy chế độ đồng hóa thuế quan theo luật năm 1892 và biểu thuế bảo hộ năm 1928 đã bảo bọc tuyệt đối hàng hóa chính quốc, đẩy tỷ lệ hàng Pháp nhập khẩu vào Việt Nam tăng vọt từ 37% (năm 1894) lên 50% (năm 1928) và chạm mức 57% (năm 1931).

5. Vị thế tương quan giữa tư sản Pháp và tư sản người Hoa trong lĩnh vực ngoại thương tại Nam Kỳ được các tài liệu phản ánh ra sao?
Theo nghiên cứu của J-P. Aumiphin được luận án trích lược, toàn bộ thương mại của Đông Dương với Singapore và Trung Hoa nằm trong tay người Hoa; riêng tại Nam Kỳ, tư bản Pháp chỉ nắm giữ khoảng 25% thị phần ngoại thương, trong khi người Hoa kiểm soát mạng lưới thu mua nội địa và độc quyền xuất khẩu gạo.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Định là công trình chuyên khảo lịch sử phục dựng có hệ thống quá trình phát triển của quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Âu, Mỹ giai đoạn 1897 - 1945. Thông qua khối lượng tư liệu lưu trữ và thống kê phong phú, tác giả đã làm sáng tỏ các nhân tố tác động, tiến trình vận động, đặc điểm cơ cấu mặt hàng và vị thế chi phối của các đối tác thương mại phương Tây. Nghiên cứu khẳng định bản chất lệ thuộc, bất bình đẳng của ngoại thương thuộc địa dưới chế độ độc quyền của tư bản Pháp, đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu lịch sử xác thực cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử kinh tế Việt Nam cận đại.