Luận án tiến sĩ quan hệ thương mại giữa việt nam với các nước châu âu châu mỹ thời thuộc pháp giai đoạn 1897 1945

Khám phá quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Âu & Châu Mỹ thời thuộc Pháp (1897-1945), những tác động kinh tế và giao thương quốc tế.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

1945

206
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ TRONG NƯỚC

1.3. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI

1.4. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN KẾ THỪA

1.5. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ TỪ NĂM 1897 ĐẾN NĂM 1945

2.1. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI

2.2. SỰ BIẾN CHUYỂN VỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI, THÔNG TIN LIÊN LẠC VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

2.3. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VÀ SỰ MỞ CỬA CỦA CÁC QUỐC GIA CHÂU Á

2.4. CHIẾN TRANH THẾ GIỚI VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

2.5. TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC

2.6. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI VIỆT NAM NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX

2.7. CHẾ ĐỘ ĐỘC QUYỀN CỦA THỰC DÂN PHÁP ĐỐI VỚI NGOẠI THƯƠNG Ở VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA

2.8. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ TRƯỚC NĂM 1897

3. CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ TỪ NĂM 1897 ĐẾN NĂM 1945

3.1. HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ GIAI ĐOẠN 1897 – 1929

3.2. TRONG THỜI KỲ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ NHẤT (1897 – 1914)

3.3. TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 – 1918)

3.4. TRONG THỜI KỲ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI (1919 – 1929)

3.5. HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

3.6. TRONG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ (1930 – 1933)

3.7. TỪ SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN NĂM ĐẦU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1934 – 1939)

3.8. TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939 – 1945)

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ TỪ NĂM 1897 ĐẾN NĂM 1945

4.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ

4.2. VỀ SỰ TIẾN TRIỂN TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI

4.3. VỀ VỊ THẾ CỦA CÁC ĐỐI TÁC TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI VIỆT NAM

4.4. VỀ CHỦNG LOẠI HÀNG HÓA

4.5. TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ÂU, MỸ THỜI THUỘC PHÁP ĐỐI VỚI KINH TẾ, XÃ HỘI VIỆT NAM

4.5.1. TÁC ĐỘNG VỀ KINH TẾ

4.5.2. TÁC ĐỘNG VỀ XÃ HỘI

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Quan hệ thương mại Việt Nam Châu Âu Châu Mỹ thời thuộc Pháp 1897 1945

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Châu ÂuChâu Mỹ trong giai đoạn 1897-1945 là một chủ đề quan trọng trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Thời kỳ này đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương dưới sự kiểm soát của thực dân Pháp. Việt Nam trở thành một phần của hệ thống thương mại toàn cầu, với các hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu tập trung vào các mặt hàng nông sản và khoáng sản. Châu ÂuChâu Mỹ là những đối tác thương mại chính, đặc biệt là Pháp, Anh, Đức và Hoa Kỳ. Các yếu tố như chính sách độc quyền của Pháp, sự phát triển của giao thông vận tải, và các biến động kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ thương mại này.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính sách thương mại

Giai đoạn 1897-1945 là thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Chính sách độc quyền thương mại của Pháp đã định hình quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Châu ÂuChâu Mỹ. Pháp áp dụng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu, nhằm tối đa hóa lợi nhuận từ thuộc địa. Các mặt hàng chính như gạo, cao su, than đá được xuất khẩu sang Châu ÂuChâu Mỹ, trong khi Việt Nam nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp như máy móc, vải vóc. Chính sách thuế quanhạn ngạch cũng được áp dụng để bảo vệ lợi ích của Pháp, hạn chế sự cạnh tranh từ các quốc gia khác.

1.2. Các đối tác thương mại chính

Trong giai đoạn này, Pháp là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, chiếm phần lớn kim ngạch xuất nhập khẩu. Các quốc gia Châu Âu khác như AnhĐức cũng có vai trò quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nhập khẩu máy móc và công nghệ. Hoa Kỳ nổi lên như một đối tác thương mại tiềm năng, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu cao su. Các hoạt động thương mại này không chỉ mang lại lợi nhuận cho các công ty Pháp mà còn góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang một nền kinh tế có sự tham gia của các yếu tố công nghiệp và thương mại quốc tế.

II. Diễn biến hoạt động thương mại 1897 1945

Hoạt động thương mại giữa Việt Nam và các nước Châu Âu, Châu Mỹ trong giai đoạn 1897-1945 trải qua nhiều biến động, chịu ảnh hưởng của các sự kiện lịch sử lớn như Chiến tranh thế giới thứ nhất, Khủng hoảng kinh tế 1929, và Chiến tranh thế giới thứ hai. Các giai đoạn này đánh dấu sự thay đổi trong cơ cấu xuất nhập khẩu, cũng như sự điều chỉnh trong chính sách thương mại của Pháp. Việt Nam từng bước hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu, mặc dù vẫn chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ thực dân Pháp.

2.1. Giai đoạn 1897 1914 Khai thác thuộc địa lần thứ nhất

Giai đoạn 1897-1914 là thời kỳ Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất tại Việt Nam. Hoạt động thương mại tập trung vào xuất khẩu các mặt hàng nông sản như gạo, cao su, và nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp từ Châu Âu. Pháp áp dụng các biện pháp độc quyền, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động xuất nhập khẩu. Các công ty Pháp như Société des Caoutchoucs de l’Indochine đóng vai trò chủ đạo trong việc khai thác và xuất khẩu cao su. Việt Nam trở thành một phần quan trọng trong hệ thống thương mại của Pháp, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế thuộc địa.

2.2. Giai đoạn 1914 1945 Chiến tranh và khủng hoảng

Giai đoạn 1914-1945 chứng kiến sự biến động mạnh mẽ trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Châu Âu, Châu Mỹ. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) làm gián đoạn các hoạt động thương mại, trong khi Khủng hoảng kinh tế 1929 dẫn đến sự sụt giảm mạnh trong kim ngạch xuất nhập khẩu. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) tiếp tục gây ra những khó khăn lớn, đặc biệt là sự kiểm soát của Nhật Bản đối với Việt Nam. Mặc dù vậy, các hoạt động thương mại vẫn được duy trì, với sự tham gia của các đối tác mới như Hoa Kỳ trong lĩnh vực xuất khẩu cao su.

III. Đặc điểm và tác động của quan hệ thương mại

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Châu Âu, Châu Mỹ trong giai đoạn 1897-1945 có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh bối cảnh lịch sử và chính sách của thực dân Pháp. Các hoạt động thương mại này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho Pháp mà còn có tác động sâu sắc đến kinh tếxã hội của Việt Nam. Sự phát triển của ngoại thương đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình đô thị hóa, và hình thành các tầng lớp xã hội mới.

3.1. Đặc điểm của quan hệ thương mại

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Châu Âu, Châu Mỹ trong giai đoạn 1897-1945 có những đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, Pháp giữ vai trò độc quyền trong các hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm soát chặt chẽ các nguồn lực kinh tế. Thứ hai, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông sản và khoáng sản, trong khi nhập khẩu chủ yếu là các sản phẩm công nghiệp. Thứ ba, quan hệ thương mại này chịu ảnh hưởng lớn từ các sự kiện lịch sử toàn cầu như chiến tranh và khủng hoảng kinh tế. Những đặc điểm này phản ánh sự phụ thuộc của Việt Nam vào hệ thống thương mại thuộc địa.

3.2. Tác động đến kinh tế và xã hội Việt Nam

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Châu Âu, Châu Mỹ đã có những tác động sâu sắc đến kinh tếxã hội của Việt Nam. Về kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp và nông nghiệp, đồng thời tạo ra nguồn thu lớn cho chính quyền thuộc địa. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào xuất khẩu nông sản cũng khiến Việt Nam dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế toàn cầu. Về xã hội, sự phát triển của ngoại thương đã dẫn đến sự hình thành các tầng lớp mới như tư sản và công nhân, đồng thời thúc đẩy quá trình đô thị hóa tại các thành phố lớn như Hà Nội và Sài Gòn.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ quan hệ thương mại giữa việt nam với các nước châu âu châu mỹ thời thuộc pháp giai đoạn 1897 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước Từ năm 1954 trở lại đây, trong nước có tới hàng nghìn công trình, bài viết về Lịch sử Việt Nam thời thuộc Pháp được biên soạn, công bố. Vấn đề quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Âu, Mỹ thời kỳ này đã được giới nghiên cứu khai thác ở một số khía cạnh và mức độ nhất định trong hai nhóm tài liệu sau đây: 1.

Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp Nhóm tài liệu này chiếm số lượng khá lớn, chủ yếu tập trung vào những vấn đề như: chính sách của thực dân Pháp, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, lịch sử kinh tế Việt Nam nói chung, các lĩnh vực kinh tế cụ thể thời Pháp thuộc (thủ công nghiệp, công nghiệp.), sự biến đổi kinh tế - xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc… Tình hình ngoại thương, quan hệ thương mại của Việt Nam chỉ được nghiên cứu chung hoặc đề cập gián tiếp. Trước hết là tác phẩm kinh điển về “Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam” (Nguyễn Khắc Đạm, Nxb Văn Sử Địa, năm 1957). Với trên 300 trang, tác giả đã phân tích, đánh giá khá rõ nét chính sách bóc lột của thực dân Pháp và tình hình kinh tế Việt Nam từ 1858 đến 1954 trên các mặt: nông nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp, ngân hàng, vận tải… Chương IV làm rõ chính sách thuế qua các giai đoạn thời thuộc Pháp; đặc điểm nền thương nghiệp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc; cuối cùng là danh sách hãng buôn Pháp ở Việt Nam. Tác giả khái quát thực trạng, đặc điểm hoạt động ngoại thương của Việt Nam nói chung nhưng không đề cập đến quan hệ thương mại với một quốc gia hay khu vực cụ thể nào.

Trong số chùm bài viết, công trình nghiên cứu về giai cấp tư sản Việt Nam (xuất bản cuối những năm 1950)3, "Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp 3 Minh Tranh (1956), “Thử bàn về sự hình thành giai cấp tư sản Việt Nam”, Văn Sử Địa, 17, tháng 5 Minh Tranh, Nguyễn Kiến Giang (1959), Về giai cấp tư sản Việt Nam: một số ý kiến về sự hình thành và 10 thuộc" (Ngyễn Công Bình, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1950) là công trình dày dặn hơn cả. Đi sâu nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển, hoạt động và đặc điểm của giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, tác giả đã đề cập đến chính sách độc quyền ngoại thương, chính sách chèn ép, bóc lột về thương mại của tư bản Pháp; đồng thời cung cấp một số thông tin liên quan đến hoạt động buôn bán của tư bản Âu, Mỹ trên thị trường Việt Nam đương thời. Nguyễn Công Bình cho biết, cửa biển Sài Gòn trong những năm 1860 – 1862 đã có khoảng 400 tàu và thuyền buôn ra vào của Pháp, Anh, Đức, Mỹ, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc. Nhận định của tác giả về tiềm lực của tư sản Việt Nam rất đáng lưu ý: sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều thương nhân Việt Nam đã có tàu và thuyền buôn trực tiếp buôn bán với nước ngoài; nhiều công ty thương mại hoạt động trên thị trường Việt Nam và có tiếp xúc với thị trường ngoài nước như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore, Pháp… [11; tr.

Lấy đối tượng nghiên cứu là tư sản người Hoa, trong công trình “Vai trò người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á” (Nxb Hà Nội, Hà Nội, 1992), tác giả Trần Khánh chỉ rõ, dưới thời Pháp thuộc, người Hoa chiếm vị trí quan trọng trong thị trường nội địa Việt Nam, kiểm soát khoảng 40 % buôn bán sỉ và 70 % buôn bán lẻ. Còn trong lĩnh vực ngoại thương, người Hoa chỉ chiếm độc quyền việc xuất khẩu gạo. Ông khẳng định, người Pháp độc quyền xuất khẩu các sản phẩm từ khai thác mỏ, cao su và kiểm soát các mặt hàng nhập khẩu như máy móc, thiết bị giao thông vận tải, vật liệu xây dựng, hàng hóa sản xuất ở nước ngoài. Người Hoa đảm nhiệm chức năng môi giới, ăn hoa hồng, hoặc mua lại để phân phối cho các nhà bán lẻ, đặc biệt là các mặt hàng nhu yếu phẩm nhập ngoại [43; tr.

Những số liệu, nhận định về vai trò kinh tế của người Hoa ở Đông Nam Á là một trong những cơ sở để nhìn nhận, so sánh vai trò, thị phần của người Âu trên thị trường Đông Dương. Những năm cuối thập niên thứ 9 của thế kỷ XX được đánh dấu bởi sự ra đời của nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế thủ công nghiệp, công nghiệp Việt Nam phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Đào Hoài Nam (1959), “Góp vào việc nghiên cứu tình hình và đặc điểm giai cấp tư sản Việt Nam trong thời thuộc Pháp”, Nghiên cứu Lịch sử, 3, tr. 56 – 71 11 thời Pháp thuộc4. Mặc dù không bàn về ngoại thương, các nghiên cứu trên cũng góp thêm thông tin về các mặt hàng tham gia giao dịch thương mại ngoài khu vực.

Đặc biệt, người viết đã có những gợi mở về mối liên hệ, tác động của hoạt động ngoại thương đối với sự phát triển thủ công nghiệp, công nghiệp. Trong công trình Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 – 1945 (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996), tác giả Vũ Huy Phúc đã nhìn nhận hết sức khách quan về nguyên nhân phát triển của thủ công nghiệp Việt Nam thời cận đại. Ông khẳng định: “Điều đầu tiên dễ dàng nhận thấy là nền tiểu thủ công nghiệp Việt Nam thời cận đại phát triển hơn bản thân nó dưới thời quân chủ nửa đầu thế kỷ XIX… Sự gia tăng về mọi nhu cầu sinh hoạt của con người, phát sinh từ quá trình thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội, về các yếu tố thị trường trong và ngoài nước đã mở rộng diện hoạt động của của các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp” [73; tr. 243]… Và “Sự xuất khẩu sản phẩm tiểu thủ công nghiệp bao giờ cũng là đòn bẩy kích thích sản xuất mạnh bên trong tiểu thủ công nghiệp” [73; tr.

Cuối những năm 1990 cũng là thời điểm tác giả Nguyễn Văn Khánh công bố loạt bài viết, sách chuyên khảo về biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa5. Trong đó, “Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945)” (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999) là công trình tiêu biểu. Xem vấn đề ngoại thương là một bộ phận trong tổng thể cơ cấu kinh tế gồm nhiều ngành, lĩnh vực nghiên cứu, tác giả đã cung cấp những thông tin chung về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với nước ngoài, chủ yếu là Pháp. Tác giả cũng khẳng định, ngoài Pháp, Trung Quốc và Hong Kong, Việt Nam còn buôn bán với nhiều nước trong khu vực, cũng như với Mỹ 4 Gồm các công trình: Vũ Huy Phúc (1996), Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 – 1945, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Cao Văn Biền (1998), Công nghiệp than Việt Nam thời kỳ 1888 – 1945, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Bùi Thị Tân, Vũ Huy Phúc (1998), Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế.

Trước đó nhiều năm, vấn đề này đã được Phạm Đình Tân đề cập đến trong “Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tình hình công nghiệp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959) 5 Nguyễn Văn Khánh (1999), “Sự hình thành nền kinh tế thuộc địa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX”, Nghiên cứu kinh tế, 249, tháng 2 Nguyễn Văn Khánh (1999), “Cơ cấu kinh tế Việt Nam thời kỳ 1919 – 1945”, Nghiên cứu kinh tế, số 251, tháng 4 Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội 12 và một số nước châu Âu. Đặc biệt, từ thực tế biến đổi kinh tế - xã hội ở Việt Nam thời thuộc Pháp, tác giả đã đưa ra những đánh giá mới khách quan, toàn diện về quá trình tư bản hóa. Điều đó có ý nghĩa định hướng tiếp cận và đánh giá đúng việc nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội thời thuộc địa. Bước sang những năm 2000, nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc tiếp tục được đưa lên diễn đàn sử học.

Năm 2002, nhà nghiên cứu Phạm Xanh công bố bài viết “Hoạt động kinh doanh của các nhà doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài tại Hải phòng trước 1945” (Nghiên cứu lịch sử, số 1, 2002, tr. Tác giả chuyển tải một lượng thông tin lớn và chi tiết về hoạt động doanh nghiệp của Việt Nam và nước ngoài tại đất cảng Hải Phòng qua ba giai đoạn lịch sử: trước 1914; từ 1914 đến 1929; từ 1929 đến 1945. Mặc dù không trực tiếp đề cập đến hoạt động xuất – nhập khẩu qua cảng Hải Phòng, ông đã cung cấp thêm số liệu về lượng tàu ra vào cảng qua các năm, trong đó có tàu của người Âu, người Mỹ; các công ty tàu biển Pháp có mặt ở cảng biển lớn thứ hai ở Việt Nam thời đó. Trong thời gian này, một số công trình, bài viết hướng đến chính sách của nhà cầm quyền Pháp ở những khía cạnh cụ thể hơn.

Công trình “Chế độ thuế của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ từ 1897 đến 1945” (Nxb Chính trị quốc gia, 2003) khi đề cập đến thuế xuất, nhập khẩu đã khẳng định: chế độ đồng hóa thuế quan làm cho Việt Nam hầu như chỉ có thể buôn bán với Pháp. Tác giả công trình tán thành ý kiến của các nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm cho rằng “60% hàng nhập là hàng Pháp, 30% hàng xuất là đưa sang Pháp” [20; tr. Cuốn sách tập trung nghiên cứu một khía cạnh trong chính sách ngoại thương của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam; tác động của nó đối với sự phát triển ngoại thương mới bước đầu được đề cập đến. Đây cũng là đặc điểm của một số công trình, bài viết khác gần chủ đề như: “Hệ thống tiền tệ ở nước ta thời cận đại” (Ngô Văn Hòa, Phạm Quang Trung, Nghiên cứu Lịch sử, 5, 2002, tr.

8 – 22), “Những hoạt động tài chính của chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX” (Tạ Thị Thúy, Nghiên cứu Lịch sử, số 9, năm 2005, tr 35 - 72).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Âu & Châu Mỹ thời thuộc Pháp (1897-1945)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về bối cảnh thương mại quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn thuộc địa. Tài liệu phân tích các mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các quốc gia Châu Âu và Châu Mỹ, đặc biệt là sự ảnh hưởng của chính sách thuộc địa Pháp lên nền thương mại. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự giao thoa văn hóa, kinh tế và chính trị trong thời kỳ này, cũng như cách nó định hình nền kinh tế Việt Nam hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn quan hệ quốc tế Na Uy - Liên minh Châu Âu 1992, nghiên cứu về sự hợp tác giữa các quốc gia Châu Âu. Ngoài ra, Luận văn quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản cung cấp góc nhìn chi tiết về mối quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Cuối cùng, Chiến lược Một Vành đai Một Con đường của Trung Quốc và tác động với Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự ảnh hưởng của các chiến lược kinh tế toàn cầu.

Mỗi tài liệu là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các mối quan hệ quốc tế và tác động của chúng lên Việt Nam.