Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước Từ năm 1954 trở lại đây, trong nước có tới hàng nghìn công trình, bài viết về Lịch sử Việt Nam thời thuộc Pháp được biên soạn, công bố. Vấn đề quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Âu, Mỹ thời kỳ này đã được giới nghiên cứu khai thác ở một số khía cạnh và mức độ nhất định trong hai nhóm tài liệu sau đây: 1.
Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp Nhóm tài liệu này chiếm số lượng khá lớn, chủ yếu tập trung vào những vấn đề như: chính sách của thực dân Pháp, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, lịch sử kinh tế Việt Nam nói chung, các lĩnh vực kinh tế cụ thể thời Pháp thuộc (thủ công nghiệp, công nghiệp.), sự biến đổi kinh tế - xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc… Tình hình ngoại thương, quan hệ thương mại của Việt Nam chỉ được nghiên cứu chung hoặc đề cập gián tiếp. Trước hết là tác phẩm kinh điển về “Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam” (Nguyễn Khắc Đạm, Nxb Văn Sử Địa, năm 1957). Với trên 300 trang, tác giả đã phân tích, đánh giá khá rõ nét chính sách bóc lột của thực dân Pháp và tình hình kinh tế Việt Nam từ 1858 đến 1954 trên các mặt: nông nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp, ngân hàng, vận tải… Chương IV làm rõ chính sách thuế qua các giai đoạn thời thuộc Pháp; đặc điểm nền thương nghiệp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc; cuối cùng là danh sách hãng buôn Pháp ở Việt Nam. Tác giả khái quát thực trạng, đặc điểm hoạt động ngoại thương của Việt Nam nói chung nhưng không đề cập đến quan hệ thương mại với một quốc gia hay khu vực cụ thể nào.
Trong số chùm bài viết, công trình nghiên cứu về giai cấp tư sản Việt Nam (xuất bản cuối những năm 1950)3, "Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp 3 Minh Tranh (1956), “Thử bàn về sự hình thành giai cấp tư sản Việt Nam”, Văn Sử Địa, 17, tháng 5 Minh Tranh, Nguyễn Kiến Giang (1959), Về giai cấp tư sản Việt Nam: một số ý kiến về sự hình thành và 10 thuộc" (Ngyễn Công Bình, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1950) là công trình dày dặn hơn cả. Đi sâu nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển, hoạt động và đặc điểm của giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, tác giả đã đề cập đến chính sách độc quyền ngoại thương, chính sách chèn ép, bóc lột về thương mại của tư bản Pháp; đồng thời cung cấp một số thông tin liên quan đến hoạt động buôn bán của tư bản Âu, Mỹ trên thị trường Việt Nam đương thời. Nguyễn Công Bình cho biết, cửa biển Sài Gòn trong những năm 1860 – 1862 đã có khoảng 400 tàu và thuyền buôn ra vào của Pháp, Anh, Đức, Mỹ, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc. Nhận định của tác giả về tiềm lực của tư sản Việt Nam rất đáng lưu ý: sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều thương nhân Việt Nam đã có tàu và thuyền buôn trực tiếp buôn bán với nước ngoài; nhiều công ty thương mại hoạt động trên thị trường Việt Nam và có tiếp xúc với thị trường ngoài nước như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore, Pháp… [11; tr.
Lấy đối tượng nghiên cứu là tư sản người Hoa, trong công trình “Vai trò người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á” (Nxb Hà Nội, Hà Nội, 1992), tác giả Trần Khánh chỉ rõ, dưới thời Pháp thuộc, người Hoa chiếm vị trí quan trọng trong thị trường nội địa Việt Nam, kiểm soát khoảng 40 % buôn bán sỉ và 70 % buôn bán lẻ. Còn trong lĩnh vực ngoại thương, người Hoa chỉ chiếm độc quyền việc xuất khẩu gạo. Ông khẳng định, người Pháp độc quyền xuất khẩu các sản phẩm từ khai thác mỏ, cao su và kiểm soát các mặt hàng nhập khẩu như máy móc, thiết bị giao thông vận tải, vật liệu xây dựng, hàng hóa sản xuất ở nước ngoài. Người Hoa đảm nhiệm chức năng môi giới, ăn hoa hồng, hoặc mua lại để phân phối cho các nhà bán lẻ, đặc biệt là các mặt hàng nhu yếu phẩm nhập ngoại [43; tr.
Những số liệu, nhận định về vai trò kinh tế của người Hoa ở Đông Nam Á là một trong những cơ sở để nhìn nhận, so sánh vai trò, thị phần của người Âu trên thị trường Đông Dương. Những năm cuối thập niên thứ 9 của thế kỷ XX được đánh dấu bởi sự ra đời của nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế thủ công nghiệp, công nghiệp Việt Nam phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Đào Hoài Nam (1959), “Góp vào việc nghiên cứu tình hình và đặc điểm giai cấp tư sản Việt Nam trong thời thuộc Pháp”, Nghiên cứu Lịch sử, 3, tr. 56 – 71 11 thời Pháp thuộc4. Mặc dù không bàn về ngoại thương, các nghiên cứu trên cũng góp thêm thông tin về các mặt hàng tham gia giao dịch thương mại ngoài khu vực.
Đặc biệt, người viết đã có những gợi mở về mối liên hệ, tác động của hoạt động ngoại thương đối với sự phát triển thủ công nghiệp, công nghiệp. Trong công trình Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 – 1945 (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996), tác giả Vũ Huy Phúc đã nhìn nhận hết sức khách quan về nguyên nhân phát triển của thủ công nghiệp Việt Nam thời cận đại. Ông khẳng định: “Điều đầu tiên dễ dàng nhận thấy là nền tiểu thủ công nghiệp Việt Nam thời cận đại phát triển hơn bản thân nó dưới thời quân chủ nửa đầu thế kỷ XIX… Sự gia tăng về mọi nhu cầu sinh hoạt của con người, phát sinh từ quá trình thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội, về các yếu tố thị trường trong và ngoài nước đã mở rộng diện hoạt động của của các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp” [73; tr. 243]… Và “Sự xuất khẩu sản phẩm tiểu thủ công nghiệp bao giờ cũng là đòn bẩy kích thích sản xuất mạnh bên trong tiểu thủ công nghiệp” [73; tr.
Cuối những năm 1990 cũng là thời điểm tác giả Nguyễn Văn Khánh công bố loạt bài viết, sách chuyên khảo về biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa5. Trong đó, “Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945)” (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999) là công trình tiêu biểu. Xem vấn đề ngoại thương là một bộ phận trong tổng thể cơ cấu kinh tế gồm nhiều ngành, lĩnh vực nghiên cứu, tác giả đã cung cấp những thông tin chung về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với nước ngoài, chủ yếu là Pháp. Tác giả cũng khẳng định, ngoài Pháp, Trung Quốc và Hong Kong, Việt Nam còn buôn bán với nhiều nước trong khu vực, cũng như với Mỹ 4 Gồm các công trình: Vũ Huy Phúc (1996), Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 – 1945, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Cao Văn Biền (1998), Công nghiệp than Việt Nam thời kỳ 1888 – 1945, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Bùi Thị Tân, Vũ Huy Phúc (1998), Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế.
Trước đó nhiều năm, vấn đề này đã được Phạm Đình Tân đề cập đến trong “Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tình hình công nghiệp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959) 5 Nguyễn Văn Khánh (1999), “Sự hình thành nền kinh tế thuộc địa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX”, Nghiên cứu kinh tế, 249, tháng 2 Nguyễn Văn Khánh (1999), “Cơ cấu kinh tế Việt Nam thời kỳ 1919 – 1945”, Nghiên cứu kinh tế, số 251, tháng 4 Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội 12 và một số nước châu Âu. Đặc biệt, từ thực tế biến đổi kinh tế - xã hội ở Việt Nam thời thuộc Pháp, tác giả đã đưa ra những đánh giá mới khách quan, toàn diện về quá trình tư bản hóa. Điều đó có ý nghĩa định hướng tiếp cận và đánh giá đúng việc nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội thời thuộc địa. Bước sang những năm 2000, nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc tiếp tục được đưa lên diễn đàn sử học.
Năm 2002, nhà nghiên cứu Phạm Xanh công bố bài viết “Hoạt động kinh doanh của các nhà doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài tại Hải phòng trước 1945” (Nghiên cứu lịch sử, số 1, 2002, tr. Tác giả chuyển tải một lượng thông tin lớn và chi tiết về hoạt động doanh nghiệp của Việt Nam và nước ngoài tại đất cảng Hải Phòng qua ba giai đoạn lịch sử: trước 1914; từ 1914 đến 1929; từ 1929 đến 1945. Mặc dù không trực tiếp đề cập đến hoạt động xuất – nhập khẩu qua cảng Hải Phòng, ông đã cung cấp thêm số liệu về lượng tàu ra vào cảng qua các năm, trong đó có tàu của người Âu, người Mỹ; các công ty tàu biển Pháp có mặt ở cảng biển lớn thứ hai ở Việt Nam thời đó. Trong thời gian này, một số công trình, bài viết hướng đến chính sách của nhà cầm quyền Pháp ở những khía cạnh cụ thể hơn.
Công trình “Chế độ thuế của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ từ 1897 đến 1945” (Nxb Chính trị quốc gia, 2003) khi đề cập đến thuế xuất, nhập khẩu đã khẳng định: chế độ đồng hóa thuế quan làm cho Việt Nam hầu như chỉ có thể buôn bán với Pháp. Tác giả công trình tán thành ý kiến của các nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm cho rằng “60% hàng nhập là hàng Pháp, 30% hàng xuất là đưa sang Pháp” [20; tr. Cuốn sách tập trung nghiên cứu một khía cạnh trong chính sách ngoại thương của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam; tác động của nó đối với sự phát triển ngoại thương mới bước đầu được đề cập đến. Đây cũng là đặc điểm của một số công trình, bài viết khác gần chủ đề như: “Hệ thống tiền tệ ở nước ta thời cận đại” (Ngô Văn Hòa, Phạm Quang Trung, Nghiên cứu Lịch sử, 5, 2002, tr.
8 – 22), “Những hoạt động tài chính của chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX” (Tạ Thị Thúy, Nghiên cứu Lịch sử, số 9, năm 2005, tr 35 - 72).