Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CỦA THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN 1995 - 2015 1. Nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thị xã An Nhơn giai đoạn 1995 - 2015 Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ ngày càng phát triển và đã trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong xu thế mới, giáo dục nghề nghiệp trở thành nhân tố quyết định trong việc thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực.
Bởi thế, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển như Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề và định hướng nghề nghiệp cho giới trẻ, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do đặc điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp mà cả phương pháp, hình thức, quy mô giáo dục nghề nghiệp cũng có sự khác nhau. Song, có điểm chung là đều chú trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp. Đối với Việt Nam nói chung, thị xã An Nhơn nói riêng, công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho các ngành kinh tế.
Vì vậy, giáo dục trở thành nhân tố chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống xã hội, trong đógiáo dục nghề nghiệp là một bộ phận quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nguồn lao động có chất lượng cao để An Nhơn phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình chính trị và hướng tới xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều này cũng đã được Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 9 IX và Kết luận Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [22, tr. Nhận thức đó của Đảng đã chỉ rõ muốn phát triển kinh tế - xã hội, phải phát triển giáo dục nghề nghiệp cả chiều rộng lẫn chiều sâu, điều đó cho thấy các địa phương và cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải không ngừng đổi mới chương trình, kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chuyển đổi từ đào tạo theo hướng “cung” sang đào tạo theo hướng “cầu” của thị trường lao động, của nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. An Nhơn là một thị xã đồng bằng ở phía Nam tỉnh Bình Định, nằm dọc Quốc lộ 1A, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 25 km về hướng Tây Bắc; phía Bắc giáp huyện Phù Cát, phía Đông giáp huyện Tuy Phước, phía Tây giáp huyện Tây Sơn và phía Tây Nam giáp huyện miền núi Vân Canh.
Thời kỳ 1995 - 2010, An Nhơn có 15 đơn vị hành chính với 2 thị trấn (Bình Định, Đập Đá) và 13 xã (Nhơn Tân, Nhơn Lộc, Nhơn Thọ, Nhơn Hòa, Nhơn Phúc, Nhơn Khánh, Nhơn Hậu, Nhơn Hưng, Nhơn Mỹ, Nhơn Thành, Nhơn An, Nhơn Phong, Nhơn Hạnh). Ngày 28/11/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 101/NĐ-CP thành lập thị xã An Nhơn. Lúc này, An Nhơn có 05 phường (Bình Định, Đập Đá, Nhơn Hưng, Nhơn Thành, Nhơn Hòa) và 10 xã (Nhơn Tân, Nhơn Lộc, Nhơn Thọ, Nhơn Phúc, Nhơn Khánh, Nhơn Hậu, Nhơn Mỹ, Nhơn An, Nhơn Phong, Nhơn Hạnh). Là một huyện đồng bằng nhưng địa hình An Nhơn khá đa dạng, gồm các vùng: đồi núi, gò trảng, đồng bằng và thị tứ.
Đồng bằng An Nhơn rộng lớn với diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 15.119,94 ha, trong đó đất trồng lúa là 7.492,49 ha, đất trồng các loại cây nông nghiệp khác 2.221,85 ha, 10 đất rừng thuộc diện sản xuất chiếm 2.274,40 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm khoảng 16,50 ha, còn lại là đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. An Nhơn cũng được đánh giá là địa phương có nhiều ưu thế về giao thông vận tải. Ngoài tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua, An Nhơn có Quốc lộ 1A đi quacác phường, xã Đập Đá, Nhơn Thành, Nhơn Hưng, Bình Định, Nhơn Hòa và đường chiến lược 19 từ cảng biển Quy Nhơn đi quacác phường, xã Nhơn Hòa, Nhơn Thọ, Nhơn Lộc, lên các tỉnh Tây Nguyên, sang Lào và Đông Bắc Campuchia. Cùng với đó, có những tuyến đường địa phương nối các tụ điểm dân cư, trung tâm thương nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng như Gò Găng, Đập Đá, Nhơn Hòa, Bình Định… với những vùng quê khác của thị xã An Nhơn và tỉnh Bình Định.
Từ xưa, An Nhơn cũng như “vùng đất tam huyện” (An Nhơn, Tây Sơn, Tuy Phước) được mệnh danh là “tiểu nông trại”, vựa lúa của tỉnh Bình Định. Đồng thời đây còn là một vùng giàu sản vật tiểu thủ công nghiệp, hoạt động buôn bán khá phát triển. Theo đó, trên địa bàn An Nhơn, có nhiều nghề thủ công truyền thống như dệt, nhuộm, rèn đúc, mộc, gạch ngói, gốm, chế biến nông sản, làm nón, làm đá ong… Nhiều sản phẩm hàng hóa tiểu thủ công nghiệp như nón ngựa Gò Găng, bột sam, bún song thần An Thái, lụa và nhiễu An Ngãi… chẳng những nổi tiếng khắp cả nước mà trong lịch sử còn bán sang một số nước khác trong khu vực Đông Á. Và với địa thế thuận lợi, An Nhơn là địa phương sớm hình thành những trung tâmvới tư cách là các làng chuyên về sản xuất thủ công nghiệp, hoạt động thương nghiệp phát triển của tỉnh Bình Định.
Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới, với chủ trương đúng đắn của các cấp bộ Đảng, chính quyền tỉnh Bình Định, trên địa bàn thị xã An Nhơn hình thành nhiều khu, cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung, thu hút nhiều ngành nghề, nhà đầu tư xây dựng nhà máy, cơ sở sản xuất, chế biến. Điều đó không chỉ làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế địa phương, mà còn đặt ra nhu cầu, 11 yêu cầu về nguồn lao động có tay nghề. Trong quá trình đấu tranh để xây dựng và bảo vệ quê hương, nhân dân An Nhơn đã tạo nên những nét đẹp văn hoá vừa phong phú, vừa đậm đà bản săc mang tính cách con người và cảnh quan địa phương. An Nhơn là mảnh đất màu mỡ cho văn hóa dân gian đâm chồi, nở hoa đầy hương sắc địa phương, với nhiều thể loại phong phú, độc đáo, từ ca dao, tục ngữ, ca lý, hò vè, hát kết đến những ngày lễ hội trong năm.
Đặc biệt, vùng đất An Nhơn với bề dày lịch sử đã để lại nhiều di tích lịch sử và văn hoá độc đáo. Về thành trì cổ có thành Cha (An Thành, Nhơn Lộc), thành Đồ Bàn (Nhơn Hậu) một thời là đế đô của Vương quốc Chămpa, thành Hoàng Đế (Nhơn Hậu) - bản doanh và kinh đô buổi đầu của nhà Tây Sơn và thành Bình Định của nhà Nguyễn. Ngoài hai ngọn tháp Phú Lộc (Nhơn Thành) và Cánh Tiên, còn có một số phế tích tháp, cụm tháp khác. Chùa Thập Tháp được xây dựng cuối thế kỷ XVII là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở miền Nam, lưu giữ những văn bản tạng kinh cổ, với nghệ thuật, kiến trúc rất độc đáo.
Rõ ràng, An Nhơn là địa phương có tiềm năng khá đa dạng để phát triển kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thị xã. Trong khi đó, nhân dân An Nhơn lại cần cù, khéo tay và năng động trong mọi cơ chế kinh tế. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Nhơn ra sức xây dựng và bảo vệ quê hương trong thời kỳ mới. Vấn đề là Đảng bộ và chính quyền An Nhơn phải tận dụng tối đa nguồn lực từ lợi thế này để phục vụ cho phát triển bền vững.
Muốn vậy, không gì khác ngoài việc xây dựng được một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn với thực tiễn địa phương. Và một trong những phương cách để thực hiện chiến lược đó là coi trọng giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,Đại hội Đảng bộ thị xãAn Nhơn lần thứ XIX (4/1996) xác định rõ công cuộc công nghiệp hóa, 12 hiện đại hóa của thị xã được khởi đầu từ khu vực kinh tế nông nghiệp, phải coi phát triển nông nghiệp chiếm vị trí hàng đầu; cần phải tiếp tục đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cải biến khu vực nông thôn theo Nghị quyết Trung ương 5 và 7 (khóa VII) [3, tr. Tuy nhiên, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, Đảng bộ thị xã tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và đưa ra phương hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của thị xã là vừa giữ vững ngành nghề truyền thống bằng những biện pháp cải tạo kỹ thuật, từng bước đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế; vừa đầu tư chiều sâu lắp ráp một số dây chuyền thiết bị hiện đại cho các ngành công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, gia công, may mặc., đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và tham gia xuất khẩu [3, tr.
Đồng thời, mở rộng các hoạt động dịch vụ, lưu thông hàng hoá, vật tư, tiêu thụ sản phẩm để thúc đẩy sản xuất phát triển, giải quyết việc làm, góp phần phân công lại lao động xã hội, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nông thôn. Tiếp đó, Đại hội Đảng bộ thị xã An Nhơn lần thứ XX (12/2000) xác định phương hướng chung cho giai đoạn 2000 - 2005 là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo nền kinh tế của thị xã tăng trưởng cao, hiệu quả, bền vững và gắn chặt phát triển kinh tế với giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, nhất là việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho nhân dân. Triển khai phương hướng đó, Đảng bộ thị xã An Nhơn khẳng định phải tập trung “Phát triển mạnh nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân ở nông thôn” [4, tr.