PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG gồ m 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xây dƣ̣ng chƣơng trình đào ta ̣o nghề. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn về nhu cầu sử dụng và đào tạo nghề “May thời trang Áo dài” trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Chƣơng 3: Xây dựng chƣơng trin ̀ h đào tạo sơ cấp nghề tại Trƣờng trung cấp nghề Bạc Liêu và đánh giá sơ bộ chƣơng trình. PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO -5- Luan van PHẦN NỘI DUNG -6- Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 1.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Một số khái niệm và thuật ngữ về xây dựng chƣơng trình Hoạt động xây dựng CTĐT sơ cấp nghề bao hàm một số thuật ngữ sau [ 3 ]: Chƣơng trình (Curriculum): Một hệ thống các thông tin đƣợc biên soạn cho giáo viên bao gồm: trình tự về nội dung, trang thiết bị, dụng cụ, vật tƣ tiêu hao, các yêu cầu về tiêu chuẩn đạt đƣợc. Theo từ điển Giáo dục học- NXB Từ điển bách khoa 2001. Khái niệm CTĐT đƣợc hiểu là : “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phƣơng thức, phƣơng pháp, phƣơng tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”.
Xây dựng chƣơng trình đào tạo (Develop training programs) [18, Tr 126] Là quá trình phân tích nhu cầu đào tạo, phân tích nghề, phân tích công việc, thiết kế cấu trúc CT và biên soạn đề cƣơng CT, biên soạn CT chi tiết cho một nghề cụ thể. Phát triển chƣơng trình đào tạo [14]: là một quá trình thiết kế, điều chỉnh sửa đổi dựa trên việc đánh giá thƣờng xuyên liên tục. Phát triển là một từ đã mang nghĩa là thay đổi tích cực. Thay đổi trong CTĐT có nghĩa là những lựa chọn hoặc điều chỉnh hoặc thay thế những thành phần trong CTĐT (thay đổi về mẫu năng lực, thay đổi cấu trúc nội dung).
Cải tiến chƣơng trình đào tạo: là một quá trình cập nhật, điều chỉnh sửa đổi những chi tiết nhỏ trong CTĐT theo hƣớng tốt hơn mà không làm thay đổi về mẫu năng lực hay cấu trúc nội dung, có thể giảm bớt hay bổ sung thêm một số môn học hay module. cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Công việc (Task): Một đơn vị việc làm cụ thể, có thể quan sát đƣợc của một việc làm đã hoàn tất (có một khởi điểm và một kết thúc xác định), có thể chia nhỏ thành 2 hay nhiều bƣớc và đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian hữu hạn; khi hoàn tất kết quả sẽ có thể là một sản phẩm, bán thành phẩm, một dịch vụ hoặc một quyết định, mà thông thƣờng ngƣời thợ đƣợc phân công để thực hiện. -7- Luan van DACUM: thuật ngữ đƣợc viết tắt từ các chữ cái của cụm từ tiếng Anh “Develop A Curriculum” (Xây dựng một chƣơng trình).
Đây là một phƣơng pháp phân tích nghề, qua đó một tiểu ban gồm các chuyên gia lành nghề đƣợc tập hợp và dẫn dắt bởi một thông hoạt viên đã đƣợc đào tạo để cùng xác định danh mục các nhiệm vụ và công việc mà các công nhân lành nghề phải thực hiện trong nghề nghiệp của họ. Mô-đun (Module): Tập hợp một số công việc có liên quan với nhau nhằm cung cấp một số kiến thức và kỹ năng để ngƣời học có thể hành nghề ngay trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp của nghề hoặc một vị trí nhất định của sản xuất. Phân tích công việc (Task analysis): Phƣơng pháp phân tích một công việc trong một ngành nghề nào đó để xác định đƣợc các bƣớc để thực hiện đƣợc công việc đó, các kỹ năng và kiến thức có liên quan mà ngƣời thợ cần có, và các tiêu chuẩn mà giới sản xuất đòi hỏi cho việc thực hiện công việc. Phân tích nghề (Job Analysis): Một tiến trình nhằm xác định các nhiệm vụ và công việc mà một công nhân lành nghề phải thực hiện đƣợc trong nghề nghiệp của mình.
Một số khái niệm và thuật ngữ về giáo dục nghề nghiệp Dạy nghề (Vocational Training): Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tƣơng xứng với trình độ đào tạo. Đƣợc thực hiện dƣới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp. [1] Giáo dục nghề nghiệp (Technical and Vocational Education): đƣợc sử dụng nhƣ một thuật ngữ toàn diện về các khía cạnh của quá trình giáo dục, bổ sung vào nền giáo dục nói chung, bao gồm việc nghiên cứu những công nghệ và các môn khoa học có liên quan, và việc đạt đƣợc kỹ năng thực hành, thái độ, sự hiểu biết và kiến thức liên quan đến nghề nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế và cuộc sống xã hội. Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật còn có thể đƣợc hiểu thêm là: Một phần không thể thiếu của nền giáo dục nói chung; Một phƣơng tiện (hoặc cách thức) nhằm chuẩn bị cho các lĩnh vực nghề nghiệp và tham gia hiệu quả vào thế giới việc làm; Một khía cạnh của học tập suốt đời và chuẩn bị cho tinh thần trách nhiệm công dân; Một công cụ cho việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện về môi trƣờng; -8- Luan van Một phƣơng pháp để tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo.
[21, tr7] Chƣơng trình dạy nghề trình độ sơ cấp: CT dạy nghề trình độ sơ cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi, và cấu trúc nội dung, phƣơng pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, mỗi nghề. Một số khái niệm và thuật ngữ chuyên ngành Thời trang (Fashion): “Là một thuật ngữ thƣờng dùng để mô tả một kiểu quần áo đƣợc con ngƣời mặc trong một quốc gia nào đó. Một dạng thời trang vẫn thƣờng phổ biến tồn tại trong khoảng 1-3 năm và sau đó đƣợc thay thế bởi một thời trang khác, mới hơn”.[22] “Là quá trình thay đổi trong phong cách sống bao gồm trang phục và cách cƣ xử đƣợc chấp nhận bởi sống đông vào những thời điểm thích hợp. Là trang phục đƣơng thời, tập những thói quen và thị hiếu phổ biến trong cách ăn mặc, thịnh hành trong một môi trƣờng xã hội nhất định, vào một khoảng thời gian nhất định”.[11] Thiết kế thời trang (Fashion Design): Đƣợc hiểu là sự sáng tạo ra một sản phẩm nào đó bằng các biện pháp kỹ thuật.
Thiết kế thời trang có thể nói là sự sáng tạo ra một sản phẩm may mặc phản ánh thói quen và thị hiếu thẩm mỹ đƣơng thời. [22] Áo dài: là loại trang phục truyền thống của Việt Nam, che thân ngƣời từ cổ hoặc quá đầu gối, dành cho cả nam lẫn nữ. Áo dài thƣờng đƣợc mặc vào các dịp lễ hội trang trọng, hoặc nữ sinh mặc khi đi học. Có lẽ chƣa có một văn bản nào quy định áo dài chính thức là quốc phục của phụ nữ Việt Nam.
Thế nhƣng trong thực tế, hễ nói đến phụ nữ Việt Nam thì không thể không nói đến áo dài. [35] Như vậy, từ những khái niệm và thuật ngữ trên, người nghiên cứu rút ra được “Xây dựng chương trình đào tạo sơ cấp nghề May thời trang Áo dài” là một kế hoạch bao gồm các bước: Phân tích nhu cầu đào tạo, phân tích nghề, phân tích công việc, thiết kế cấu trúc CT và biên soạn đề cương CT, biên soạn CT chi tiết cho một nghề cụ thể với mục tiêu trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục lên trình độ cao hơn; nhằm sáng tạo ra một sản phẩm may mặc cho học sinh, sinh viên, cán bộ công chức và người dân đồng thời thể hiện thị hiếu thẩm mỹ, phản ánh văn hóa, giữ gìn nét đẹp truyền thống có khi còn quảng bá văn hóa dân tộc Việt Nam với các nước trên Thế giới. TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH 1. Hệ thống đào tạo nghề ở Việt Nam [14, Tr4] Luật giáo dục 2005 quy định hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Hình 1.1: Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam Trung cấp chuyên nghiệp đƣợc thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với ngƣời có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với ngƣời có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; Dạy nghề đƣợc thực hiện dƣới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.
- 10 - Luan van Dạy nghề có 3 cấp: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho ngƣời học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho ngƣời học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.