phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề gắn với việc làm cho 6 ngƣời lao động tại các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thƣờng xuyên. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý đào tạo nghề gắn với việc làm cho ngƣời lao động tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thƣờng xuyên huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý đào tạo nghề gắn với việc làm cho ngƣời lao động tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thƣờng xuyên huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ GẮN VỚI VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.
Tổng quan các nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nƣớc tƣ bản phát triển nhƣ Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề và quản lý quá trình đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do đặc điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nƣớc có khác nhau nên phƣơng pháp, hình thức, quy mô đào tạo nghề cũng có sự khác nhau song có điểm chung là đều chú trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp. Ở Mỹ, đào tạo công nhân kỹ thuật đƣợc chú trọng, tiến hành ngay từ cấp trung học phổ thông và các trƣờng dạy nghề cấp trung học, các cơ sở đào tạo nghề sau trung học phổ thông.
Học sinh tốt nghiệp đƣợc cấp bằng, chứng chỉ công nhân lành nghề và có quyền đƣợc đi học tiếp theo. Thời gian đào tạo từ 2 đến 7 năm tuỳ thuộc vào từng nghề đào tạo. Các loại trƣờng tƣ thuộc các công ty tƣ nhân lớn đào tạo công nhân ngay trong công ty mình và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng. Còn ở Cộng hòa Liên bang Đức đã sớm hình thành hệ thống đào tạo nghề và hệ trung cấp chuyên nghiệp.
GD chuyên nghiệp là một bộ phận trung học cấp hai của hệ thống GD quốc dân với các loại hình trƣờng đa dạng, họ đã phân thành hai loại trình độ: ở trình độ 1 đƣợc xếp vào bậc trung học tƣơng đƣơng với trung học phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12, ở trình độ 2 đƣợc xếp cao hơn bậc sau trung học phổ thông. Ngoài trƣờng phổ thông mang tính không chuyên nghiệp chỉ nhằm mục tiêu đào tạo chuẩn bị lên đại học còn có các trƣờng phổ 8 thông chuyên nghiệp, trƣờng hỗn hợp…. Học sinh các loại trƣờng này có thể vào học ở các trƣờng đại học chuyên ngành, sau khi tốt nghiệp chủ yếu học sinh ra làm việc sơ cấp. Do các loại hình trƣờng rất đa dạng nên không có mô hình tổ chức QL đồng nhất giữa các trƣờng nhất là các bang khác nhau, có trƣờng công lập, trƣờng tƣ thục, có trƣờng thuộc công ty tƣ nhân chuẩn bị phần nhân lực cho công ty mình… Cho đến ngày nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều bố trí hệ thống GD kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại học.
Do sớm có hệ thống đào tạo nghề nên các nƣớc tƣ bản phát triển đã tích lũy đƣợc nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo cũng nhƣ quản lý đào tạo nghề (QLĐTN) liên tục đƣợc hoàn thiện, đổi mới đảm bảo chất lƣợng đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống. Ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô (cũ) cũng sớm quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề, với những đóng góp quan trọng của các nhà GD học, tâm lý học nhƣ: X.Ia Batƣsep, A.I Kôndakôp… dƣới góc độ GD học nghề nghiệp, tâm lý lao động, tâm lý học kỹ sƣ, tâm lý học xã hội. Tuy nhiên, theo nhận xét của M. Kôndakôp, những nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học và GD nghề vào những năm 70 của thế kỷ XX còn mang tính từng mặt, một chiều nên chƣa giải quyết đƣợc một cách triệt để vấn đề chuẩn bị cho thế hệ trẻ bƣớc vào cuộc sống và lao động.
Quá trình hình thành nghề lúc đó đƣợc chia làm 4 giai đoạn tách rời nhau, đó là: Giai đoạn nảy sinh dự định nghề và bƣớc vào học các trƣờng nghề; Giai đoạn học sinh lĩnh hội có tính chất tái tạo những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; Giai đoạn thích ứng nghề và cuối cùng là giai đoạn hiện thực hoá từng phần hoạt động nghề. Quá trình hình thành nghề trải qua bốn giai đoạn nhƣng chúng có sự gắn bó mật thiết với nhau, quan điểm này của tác giả đã tạo nên nhận thức mới về sự hình thành nghề, là cơ sở khoa học để xây dựng mô hình đào tạo nghề và 9 nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề. Nghiên cứu trong nước Phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc cần phải đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho các ngành kinh tế. Vì vậy, công tác QLĐTN chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống xã hội.
Trong thời gian qua, ở nƣớc ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực đào tạo nghề, nhiều tài liệu, giáo trình về QLĐTN đã đƣợc biên soạn: “Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo” (năm 1996) và nhiều tài liệu khác của Nguyễn Minh Đƣờng; “Cải tiến mục tiêu và nội dung đào tạo nghề” (năm 1990) và “Giáo dục định hƣớng nghề nghiệp – những vấn đề và giải pháp” (năm 2005) của Nguyễn Viết Sự; “Định hƣớng nghề nghiệp và việc làm” (năm 2004) của Tổng cục Dạy nghề; “Những dấu hiệu đặc trƣng của các loại hình đào tạo nghề” và “Một số vấn đề quản lý giáo dục nghề nghiệp” (1995) của tác giả Bùi Sỹ. Nhiều bài đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học đào tạo nghề (số 1, tháng 6/2003) nhƣ: “Đổi mới hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010” của tác giả Đỗ Minh Cƣơng; “Hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành ở Việt Nam - Nội dung và các giải pháp thực hiện” của Nguyễn Viết Sự và Nguyễn Thị Hoàng Yến; “ Một số vấn đề đặt ra trong nghiên cứu khoa học dạy nghề” của Mạc Văn Tiến… Trong những năm gần đây, đã có nhiều luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác QL hoạt động đào tạo nghề nhƣ: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trƣờng Cao đẳng nghề Cơ điện - Xây dựng và Nông lâm Trung bộ” của tác giả Lê Thị Thúy Hằng (2012); “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo ngành kỹ thuật điện tại trƣờng Đại học Quy Nhơn” của tác giả Nguyễn Mai Vũ (2012); “Biện pháp quản lý công tác dạy nghề của Giám đốc Trung tâm Giáo dục 10 thƣờng xuyên - Hƣớng nghiệp huyện, thị trên địa bàn tỉnh Bình Định” (2013) tác giả Nguyễn Lê Giang; “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo tại Viện sốt rét - Ký sinh - Côn trùng Quy Nhơn” của tác giả Đào Ngọc Trung (2013)… Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đều xuất pháp từ thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề của các địa phƣơng, đơn vị để đƣa ra những biện pháp QL nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề phù hợp từng giai đoạn phát triển. Các nghiên cứu này góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về vấn đề QL hoạt động đào tạo nghề. Tuy nhiên, những biện pháp mà các tác giả đã nêu trong các luận văn không hoàn toàn là những biện pháp QL mà các cơ sở dạy nghề tỉnh Bình Định có thể áp dụng; đồng thời việc nghiên cứu các biện pháp QL hoạt động đào tạo nghề hiện nay mang tính cấp thiết và đòi hỏi phải có sự đột phá, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng trong giai đoạn mới.
Tỉnh Bình Định, trong nhiều năm qua, vấn đề QL hoạt động đào tạo nghề gắn với việc làm cho ngƣời lao độngchƣa đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống. Vì vậy, đề tài này có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định. Một số khái niệm cơ bản 1. Đào tạo nghề Đào tạo nghề cho ngƣời lao động là quá trình giáo dục cho ngƣời lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả ngƣời đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề chuyên môn khác.
Có nhiều định nghĩa về đào tạo nghề: Tác giả William Mc. Gehee (1979) cho rằng: ĐTN là những quy trình mà những công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty. 11 Theo tác giả Tack Soo Chung (1982): ĐTN là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (trí thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc đƣợc áp dụng đối với những ngƣời lao động và những đối tƣợng sắp trở thành ngƣời lao động. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): "Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề.
Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu" [14, tr. Luật Dạy nghề đƣa ra khái niệm nhƣ sau: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học" [10, tr. Tác giả Nguyễn Viết Sự đƣa ra khái niệm: “ĐTN là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo năng lực cho họ vào đời hành nghề có năng suất và hiệu quả cao. Thông thƣờng sau khi đào tạo ngƣời lao động kỹ thuật đƣợc cấp bằng, chứng chỉ nghề” [17, tr.
Phan Chính Thức (2004, tr.