Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BỎ HỌC CỦA HỌC VIÊN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP-GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu về hoạt động giáo dục phòng ngừa bỏ học của học sinh 1. Trên thế giới Tình trạng học sinh bỏ học thường gặp phải ở hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước nghèo, chậm phát triển, nơi có trình độ dân trí còn thấp, là một hiện tượng phức tạp với hệ thống các nguyên nhân từ bên trong và bên ngoài nhà trường. Giáo dục được xác định là chiến lược lâu dài cho sự phát triển bền vững của mỗi một quốc gia.
Đặc trưng về phát triển kinh tế quy định nền giáo dục của quốc gia nên một số nước đặt giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ phát triển, để tạo ra nguồn lực chất lượng cao không chỉ cho hiện tại mà còn định hướng sự phát triển cho tương lai của quốc gia đó. Chỉ số HDI (Human Development Index) về chất lượng cuộc sống cũng lấy tỷ lệ người biết chữ làm tiêu chí đo lường nhằm đánh giá mức độ phát triển toàn diện của một quốc gia bên cạnh GDP bình quân và tuổi thọ bình quân đầu người. Ở những nước phát triển tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 95%, các đạt nước có thu nhập thấp như nước ta thì tỷ lệ trẻ em học xong trung học cơ sở (THCS) cũng rất thấp, khoảng 77%. Ví dụ như với Malaysia tỷ lệ bỏ học ở trường phổ thông là 9,3% đối với vùng đô thị và 16,7% nông thôn.
Trong khi đó có 4,4% học sinh tiểu học và 0,8% học sinh phổ thông chưa làm chủ được ba kỹ năng đọc, viết và làm toán. Nghiên cứu của UNICEF (2010) chỉ ra rằng “Trong khi tỷ lệ nhập học ngày càng được cải thiện thì việc học sinh bỏ học đang là một trong những vấn đề mà hầu như tất cả các nước đang phát triển phải đối mặt”. Điều này là một sự lãng phí nguồn lực và làm tăng số người mù chữ. Các nước có dân số đông tỷ lệ nhập học cao, song đồng thời tỷ lệ bỏ học ở các nước này cũng cao.
Chính sách giáo dục có liên quan mật thiết, hữu cơ đến chính sách phát triển kinh tế, chính sách dân số của một quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều phải đương đầu với tình trạng học sinh 5 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục bỏ học trong nhiều giai đoạn khác nhau, điều này đã trở thành đề tài cho nhiều nhà nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp thiết thực cho ngành giáo dục quốc dân góp phần thúc đẩy sự bình đẳng ở tất cả mọi lĩnh vực. Okumu, Ibrahim M, Naka jo, Alex and Isoke, Doren (2008) đã phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội dẫn đến quyết định bỏ học ở học sinh tiểu học tại Uganda. Các nhà nghiên cứu đã thiết lập một mô hình hậu cần để phân tích các số liệu quốc gia vào năm 2004 và mô hình phân tích này đã phân tích theo đoàn hệ đối với tuổi của các học sinh nông thôn và thành thị, theo giới tính.
Kết quả phân tích cho thấy các biến số như giới tính, tổng số tiền chi trả cho học phí, giới tính của chủ hộ không có tác động đến tỷ lệ bỏ học. Nhưng các biến số như quy mô gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, loại hình hoạt động kinh tế của các thành viên hộ gia đình, đặc biệt là ở vùng nông thôn đã có những tác động quan trọng đối với cơ hội tiếp tục việc học tập hoặc tỷ lệ bỏ học của học sinh. Thậm chí rằng, Robert Balfanz and Nettie Legters (2004) còn chỉ ra rằng có những vùng, miền có tỷ lệ học sinh bỏ học cao thường là những trường yếu về năng lực, và kết quả học tập của trường thông thường kém ở những môn như toán, văn…Hơn nữa các trường này thường là những trường được đặt ở các vi trí mà cộng đồng xung quanh đó có tỷ lệ cao về thất nghiệp, tội phạm và có trình độ học vấn không cao. Alfred Liu (1976) đề cập đến các nội dung rất thú vị về sự biến đổi xã hội, sự gia tăng dân số với vấn đề phát triển giáo dục.
Theo nghiên cứu này thì sự biến đổi xã hội có được là do sự tác động của các yếu tố hệ tư tưởng, công nghệ và nhân khẩu. Biến đổi xã hội sẽ dẫn đến những biến đổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sự biến đổi của hệ thống giáo dục. Sự biến đổi này chính là để thích nghi với những nhu cầu đặt ra trong quá trình chuyển hóa của xã hội. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, việc kiểm soát yếu tố nhân khẩu có một vai trò quan trọng.
Vì quy mô dân số là chỉ số chủ chốt trong việc phát triển hệ thống giáo dục cả về lượng và chất. Không thể hình thành các chương trình chuyên biệt nếu không có đủ số lượng học sinh và cũng không thể hình thành các chương trình phát triển nếu không tính đến yếu tố về quy mô dân số. Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân khẩu học với với việc lập kế hoạch giáo dục của Stelios N. Georgiou cho thấy, việc nâng cao tỷ lệ nhập học và 6 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục chất lượng giáo dục là mục tiêu của kế hoạch hóa phát triển giáo dục.
Xây dựng và thực hiện các mục tiêu này trong phát triển giáo dục cần phải tính đến các yếu tố nhân khẩu như cấu trúc tuổi và giới tính dân cư. Nghiên cứu về tình trạng bỏ học của Ấn Độ trên cơ sở thống kê khá đầy đủ theo từng năm và theo các đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản như đô thị - nông thôn, giới tính và đã áp dụng phân tích theo đoàn hệ để chỉ ra xu hướng và số bỏ học theo từng nhóm tuổi và từng lớp học. Đa số học sinh bỏ học là những học sinh lưu ban, điều đó cho thấy kết quả học tập thấp cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bỏ học. Vấn đề này đòi hỏi xem xét những yếu tố liên quan đến giảng dạy như chất lượng giáo viên, chương trình học và những điều kiện cơ sở hạ tầng…Một phát hiện trong nghiên cứu này là trẻ em gái bỏ học nhiều hơn trẻ em trai, điều này cũng chỉ ra mối liên hệ giữa tỷ lệ bỏ học và giới.
Ở khu vực nông thôn, các nghiên cứu phát hiện phát hiện có khoảng sáu mươi nguyên nhân dẫn đến việc bỏ học của trẻ em. Các nguyên nhân này được nhóm thành ba cụm chủ yếu và có sự chồng lấn lên nhau. Nghèo khổ là một trong những nguyên nhân chủ yếu, song trầm trọng hơn nữa là tình trạng mù chữ của bố mẹ có tác động lớn đến việc bỏ học của trẻ em. Nguyên nhân thứ hai là do những trẻ em bỏ học và cha mẹ của chúng đưa ra là việc trừng phạt về thân thể đối với học sinh học kém.
Trong khi đó, giáo viên và nhà trường lại cho rằng, phụ huynh học sinh ít liên hệ với nhà trường, chương trình giảng dạy chưa phù hợp, thiếu phương tiện giảng dạy là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của trẻ em. Bất bình đẳng giới cũng được xác định là một trở ngại đối với trẻ em gái. Học sinh bỏ học do gia đình có thu nhập thấp, bố mẹ thất nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, học vấn thấp hoặc thất học hoặc bỏ học vì sức khỏe yếu do suy dinh dưỡng, trường ở xa nhà, không thích học và những yếu tố nhà trường như cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên. Những nguyên nhân này liên quan đến những rào cản về kinh tế xã hội và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau (Barton, 2006; Barsaga, 1995).5], Nhìn chung, các yếu tố tác động đến học sinh bỏ học được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề bỏ học sớm của học sinh liên quan đến trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, từ những chính 7 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục sách về kinh tế, dân số, nhân khẩu đều ảnh hưởng rõ rệt đến vấn đề này. Ngoài ra, những nguyên nhân về bình đẳng giới, sự phân cấp giữa thành thị, nông thôn, giữa nhóm người có thu nhập cao với nhóm có thu nhập thấp. Từ thực tế này chỉ ra rằng bất bình đẳng trong tiếp cận với giáo dục cho trẻ em vẫn còn diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, điều này cần thiết có sự vào cuộc nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau. Trong nước Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề học sinh bỏ học, nghiên cứu về quan điểm lý luận chung gồm có: Đặng Thành Hưng [27], [28], [29], [30], Đặng Vũ Hoạt [34], Nguyễn Sinh Huy [30], Trần Kiểm [31]… Các tác giả đã đề cập đến bản chất của hiện tượng lưu ban bỏ học; các nhân tố tác động đến lực lượng bỏ học: xã hội, nhà trường, gia đình và bản thân học sinh; đề xuất các giải pháp trên bình diện quá trình giáo dục, quá trình dạy học, bình diện xã hội, bình diện nhân cách cá nhân học sinh.
Các tác giả còn đề cập đến nguyên nhân khiến học sinh bỏ học là do chương trình và sách giáo khoa, do giáo viên gây ra. Từ đó các tác giả cho rằng: Cần phải sửa tận gốc những sai lầm đó, có nghĩa là phải tạo ra một cấu trúc mục đích, nội dung chương trình, phương pháp mới, hợp lý hơn và phải áp dụng các biện pháp đồng bộ thì mới có thể khắc phục được tình trạng học kém - nguyên chủ yếu gây nên tình trạng học sinh bỏ học. Tình trạng học sinh bỏ học đã và đang là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, vấn đề này đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Các tác giả đã khảo sát các đặc điểm tâm lý của học sinh yếu, kém, lưu ban; tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm ngăn ngừa hiện tượng bỏ học.
Tóm lại, vấn đề học sinh bỏ học đã diễn ra từ rất lâu và phổ biến tại các nước nghèo, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm.