Mở đầu 6 Nêu“lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu” và các“phương pháp cơ bản để tiến hành”nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu” Trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan, các khái niệm: Sự hài lòng; Nghề và trình độ lành nghề; đào tạo nghề; lao động nông thôn, đào tạo nghề lao động nông thôn. Các đặc điểm của chương trình đào tạo nghề theo Quyết định số 1956 của Thủ tướng Chính phủ. Khái niệm về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng.
Một số nghiên cứu trước; đưa ra mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thiết. Phương pháp nghiên cứu” “ Trình bày quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo và phương pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu” Trình bày sơ nét đặc điểm của Trung tâm Dạy nghề huyện Đầm Dơi. Tiếp theo là kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo; Phân tích khám phá các nhân tố, kết quả thu thập qua phương pháp chạy phần mềm SPSS để khẳng“định mối “ quan hệ giữa các biến; phân tích”thực trạng của các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của lao động nông thôn.
Kết luận và kiến nghị Nêu tóm tắt kết quả nghiên cứu; các đóng góp của nghiên cứu về học thuật và thực tế; trình bày các kiến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của lao động nông thôn về chương trình“đào tạo nghề theo Quyết định số 1956 của Thủ tướng Chính phủ”và các hạn chế cũng như hướng nghiên cứu mới của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ở chương này, tác giả trình bày những nội dung lý thuyết được áp dụng trong đề tài gồm: Những khái niệm về“ hoạt động đào tạo nghề , trong đó”nêu rõ các “ ” quan niệm về lao động ở khu vực nông thôn, đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các đặc“điểm của chương trình”đào tạo nghề theo Quyết định số 1956 của Thủ tướng Chính phủ.”Khái niệm về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng. “ ” Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ trình bày các mô hình nghiên cứu, thang đo chất lượng dịch vụ theo các quan điểm của Parasuraman, SERVPERF, HEdPERF. Các nghiên cứu trước về sự hài lòng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm nền tảng cho việc đề xuất khung nghiên cứu phù hợp với đề tài mà tác giả chọn thực hiện luận văn.
Các khái niệm có liên quan 2. Khái niệm lao động ở khu vực nông thôn Lao động nông thôn là lao động trong khu vực nông thôn. Lực lượng chủ yếu của“lao động nông thôn là làm việc trong lĩnh vực”sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, tức là hoạt động sản xuất, kinh doanh gắn với đối tượng“cây trồng, vật nuôi. Ngoài ra,“lao động nông thôn”còn bao gồm một bộ phận nhỏ lao động trong các lĩnh vực khác phi nông nghiệp như: các nghề thủ công, chế biến lương thực, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình và dịch vụ xã hội… (Tạ Đức Khánh, 2002.
Giáo trình Kinh tế Lao động. Đại học Kinh tế Quốc dân). Đặc điểm của lao động ở khu vực nông thôn: phần lớn trình độ văn hóa thấp, chưa được đào tạo nghề, chủ yếu chăn nuôi, trồng trọt năng suất lao động thấp do còn ở trình độ thủ công, chưa tiếp cận nhiều với những thông tin về khoa học kỹ “ thuật nông nghiệp. Do đó, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn liền với nó là cơ cấu ” lao động, một mặt phải làm sao“ lao động nông nghiệp phải có năng suất lao động” “ cao hơn, mỗi lao động phải đảm nhiệm số diện tích nuôi trồng lớn hơn để có thể chuyển một số lao động sang công nghiệp, dịch vụ… Do đó đào tạo nghề cho khu vực nông thôn, cùng với đào tạo các ngành nghề khác, phải bao gồm cả kỹ thuật nông nghiệp.
Khái niệm đào tạo nghề Khái niệm đào tạo nghề: “ Đào tạo nghề là quá trình tác động đến những người trong độ tuổi lao động “ ” “ nhằm hình thành và phát triển ở họ những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ” nghề nghiệp. Đào tạo nghề là nhằm hướng vào hoạt động nghề nghiệp và hoạt động “ xã hội. Mục tiêu đào tạo là trạng thái phát triển nhân cách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và được hiểu là chất lượng cần đạt tới của người học sau quá trình đào tạo. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) , đào tạo nghề là ” nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả những nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao.
(Tạ Đức Khánh, 2002. ” Giáo trình Kinh tế Lao động. Đại học Kinh tế Quốc dân) Nếu tiếp cận dưới góc độ quản lý, những định nghĩa trên chưa thật đầy đủ vì chưa đề cập tới việc làm. Mục đích cuối cùng của đào tạo có hiệu quả là người lao động có thể tìm được việc và tạo thu nhập để tái sản xuất và phát triển sức lao động “ ” của chính mình.
Vì vậy, Luật Dạy nghề đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29-11-2006 chỉ rõ: “Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” (Nhà xuất bản Lao động 2006, trang 8). Luật Dạy nghề năm 2006, đã đề cập những nội dung cơ bản trên lĩnh vực dạy nghề (đào tạo nghề) như: Đào tạo nghề là dạy các kỹ năng thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội nắm vững tri thức kỹ năng. Đào tạo nghề bao gồm: đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện “ tử, xây dựng, sửa chữa …); đào tạo nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánh máy, nhân viên lễ tân, nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị…) và phổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp). ” “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương 9 tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.” “ Như vậy, nội dung của đào tạo nghề bao gồm: trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định.” Theo Tạ Đức Khánh (2002), Giáo trình Kinh tế Lao động.
Đại học Kinh tế Quốc dân có đưa ra nhiều dạng đào tạo, đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề. - Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một “ năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề. Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên. - Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm “ trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.
Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn. ” - Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có “ nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề). ” - Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có nghề “ song vì lý do nào đó , kiến thức và kỹ năng của họ không còn phù hợp nữa, không ” còn đáp ứng được trước những thay đổi của công nghệ mới hay của thị trường. - Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh “ nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn.
Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là quá trình tác động đến những “ người trong độ tuổi lao động ở vùng nông thôn nhằm hình thành và phát triển ở họ ” 10 những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp. Đào tạo nghề là nhằm hướng vào hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội. (Tạ Đức Khánh, 2002. Giáo “ ”” trình Kinh tế Lao động.
Đại học Kinh tế Quốc dân). Nếu tiếp cận dưới góc độ quản lý, những định nghĩa trên chưa thật đầy đủ vì chưa đề cập tới việc làm. Mục đích cuối cùng của đào tạo có hiệu quả là người lao động có thể tìm được việc và tạo thu nhập để tái sản xuất và phát triển sức lao động “ ” của chính mình. Chất lượng dịch vụ “Feigenbaum (1991): Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể được hoặc không được nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh.” Parasuraman, Zeithaml và Berry (1988, trang 12) đã định nghĩa: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402:1999, Chất lượng là toàn bộ đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã đưa ra và đã dự định. Sự hài lòng của khách hàng (người học) Sự hài lòng là tâm trạng hoặc cảm giác về một sản phẩm và dịch vụ khi sự mong đợi của họ được thỏa mãn hay được đáp ứng vượt mức trong suốt vòng đời của sản phẩm hay dịch vụ.