Chương 1 KHẢO CỨU VĂN BẢN TÀI LIỆU HÁN NÔM NHA KINH LƯỢC BẮC KỲ 1. Cơ sở hình thành tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ 1.1 Bối cảnh lịch sử hình thành Nha Kinh lược Bắc Kỳ Sau khi chiếm được toàn bộ Nam Kỳ, Thực dân Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu tiến ra Bắc Kỳ. Trước sự tấn công mạnh mẽ của Thực dân Pháp, lúc đó triều đình nhà Nguyễn lại quá suy yếu nên các tỉnh Bắc Kỳ lần lượt rơi vào tay thực dân. Năm 1884, quân Pháp được tiếp viện dồi dào đã chiếm được nhiều tỉnh giàu có của Bắc Kỳ.
Tháng 5 – 1884, hiệp ước Thiên Tân được ký, đại diện Pháp buộc quân Thanh phải rút về nước, đồng thời triều Nguyễn phải chấp nhận một số điều kiện trong hiệp ước Harmand và ký hiệp ước Patenotre. Với hiệp ước này, việc thiết lập quyền bảo hộ ở Việt Nam của Pháp không còn bị ngăn cản. Từ đây, triều đình nhà Nguyễn gần như phải phụ thuộc vào Toàn quyền Pháp ở Đông Dương. Để trực tiếp cai quản xứ Bắc Kỳ cách xa Kinh đô Huế, dưới sự đồng ý của Tổng trú sứ Trung – Bắc Kỳ Paul Bert, vua Đồng Khánh đã ra chỉ dụ thành lập Nha Kinh lược Bắc Kỳ vào ngày 3 – 6 – 18861.
Đến ngày 20 – 6 – 1886, dụ thành lập này được chuẩn y. Lệnh ngày 20 – 6 – 1886 của Tổng trú sứ Trung- Bắc Kỳ Paul Bert chuẩn y Đạo dụ ngày 3 – 6 – 1886 của Vua Đồng Khánh về việc uỷ nhiệm các quyền hạn của triều đình cho Kinh lược sứ Bắc Kỳ như sau: 13 z Khảo cứu tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ về Hà Nội (1886 -1897) “Theo đó, để cai quản Bắc Kỳ, Kinh lược sứ được toàn quyền áp dụng mọi biện pháp mà ông ta cho là cần thiết và phù hợp. Tuy nhiên, Kinh lược sứ không được tự ý ban hành quyết định sửa đổi quyền hạn của mình cũng như quyền hạn trao cho người đại diện của Pháp và viên chức trong triều đình Huế theo các hiệp ước hiện hành. Kinh lược sứ có trách nhiệm thông báo cho triều đình những quyết định do ông ta đưa ra”1 Như vậy, Nha Kinh lược Bắc Kỳ là cơ quan hành chính nhà nước phong kiến cao nhất ở Bắc Kỳ, có nhiệm vụ thay mặt vua trực tiếp điều hành và giải quyết mọi việc ở Bắc Kỳ.
Kinh lược sứ Bắc Kỳ có nhiệm vụ làm tấu sớ báo cáo tình hình lên triều đình để nhà vua biết. Về phía thực dân, Tổng trú sứ Trung – Bắc Kỳ Paul Bert đồng ý cho lập Nha Kinh lược là muốn lợi dụng cơ quan này làm trung gian phục vụ mục đích của mình. Vì vậy, những vấn đề về quản lý hành chính của các tỉnh Bắc Kỳ trên danh nghĩa vẫn là do Nha Kinh lược quản lý, điều hành nhưng thực tế nha này không được quyền sửa đổi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng như của đại diện Pháp. Đến khi trực tiếp thiết lập điều hành bộ máy cai trị ở Bắc Kỳ, Toàn quyền Đông Dương P.Doumer thấy Nha Kinh lược không còn cần thiết.
Vì vậy, ngày 26 – 7 – 1897 vua Thành Thái xuống dụ giải thể Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Ngày 13 – 8 – 1897 dụ giải thể được Toàn quyền Pháp ở Đông Dương P. Doumer 1 Phông RST, Hồ sơ 4797, tờ 3 14 z Khảo cứu tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ về Hà Nội (1886 -1897) chính thức thông qua. Theo đó, Nghị định đồng ý giải thể Nha Kinh lược và bãi bỏ chức Kinh lược gồm 2 điều: “Điều 1.
Chuẩn y đạo dụ ngày 26 – 7 - 1897 của Vua Thành Thái về việc xoá bỏ chức Kinh lược Bắc Kỳ và chuyển giao toàn bộ chức năng của Kinh lược sứ vào tay Thống sứ. Đạo dụ được thực thi trên toàn xứ Bảo hộ. Khâm sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ chịu trách nhiệm thi hành nghị định này”1. Sau 11 năm hoạt động, đến năm 1897 Nha Kinh lược bị bãi bỏ, Hoàng Cao Khải trở về Kinh đô Huế làm việc, toàn bộ nhân viên ở nha do Thống sứ Bắc Kỳ quản lý.
Nhà sử học Dương Kinh Quốc nhận định rằng: “Đây là một bước quyết định trong chính sách trực trị của Thực dân Pháp đối với Bắc Kỳ. Từ đây, vua và triều đình Huế không còn chút quyền hành gì ở Bắc Kỳ nữa; quyền bổ nhiệm, điều động, thăng, giáng quan lại các cấp ở Bắc Kỳ đều do Thống sứ Bắc Kỳ quyết định [33, tr. Như vậy, bãi bỏ Nha Kinh lược đồng nghĩa với việc Thực dân Pháp đã xóa nốt cả phần hành chính còn lại trong tay triều đình Huế ở Bắc Kỳ để trực tiếp thực hiện mục đích khai thác thuộc địa của mình.2 Chức năng hành chính của Nha Kinh lược Bắc Kỳ Nha Kinh lược Bắc Kỳ được thiết lập nhằm thay mặt vua trực tiếp điều hành và giải quyết mọi việc ở Bắc Kỳ. Người đầu tiên giữ chức Kinh lược sứ là Nguyễn Hữu Độ, bố vợ vua Đồng Khánh.
Ngay sau khi giữ chức, Nguyễn Hữu Độ xin với quan thầy Pháp cho xây trụ sở và tổ chức bộ máy làm việc. Bộ máy Nha Kinh lược lúc đầu có 15 viên chức chia làm 2 phòng. Phòng I có 1 bát phẩm, 2 cửu phẩm, 5 thư lại, phụ trách các việc của Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Binh. Phòng II có 1 bát phẩm, 1 cửu phẩm, 5 thư lại, đảm nhiệm các việc thuộc 1 Phông GGI-A, Q.26, tờ 39 15 z Khảo cứu tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ về Hà Nội (1886 -1897) Bộ Hình, Bộ Hộ, Bộ Công.
Tuy nhiên số biên chế của nha không cố định là 15 người mà tùy vào lượng công việc nhiều ít có thể thêm bớt. Đầu năm 1888, bộ máy của Nha Kinh lược được mở rộng và chia lại các phòng ban cho tiện làm việc. Lúc này, nha có sáu phòng gồm Phòng Lại, Phòng Lễ, Phòng Binh, Phòng Hình, Phòng Hộ, Phòng Công và có một Viên ngoại lang phụ trách chung. Cuối năm Mậu Tý (1888), Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Độ chết, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Trần Lưu Huệ làm quyền Kinh lược.
Sau khi Trần Lưu Huệ lên giữ quyền Kinh lược, Thực dân Pháp rút hẹp quyền hạn của nha. Kinh lược sứ không được quyền quyết định những việc quan trọng, thậm chí chỉ như một cơ quan trung gian để tấu các việc hành chính của các tỉnh vào Kinh và tư những hiệu lệnh xuống các tỉnh Bắc Kỳ khi Toàn quyền Đông Dương hay triều đình ban bố. Ngày 1 – 7 năm Thành Thái thứ 2 (1890), quyền Kinh lược sứ Trần Lưu Huệ xin từ chức, Tổng đốc Hải An Hoàng Cao Khải được về giữ Nha Kinh lược. Ngày 1 – 6 năm Canh Dần (1890), Toàn quyền Đông Dương Piquet và Thống sứ Bắc Kỳ Bonnal ra nghị định cho phép Hoàng Cao Khải được quyền tổ chức lại bộ máy của nha, đồng thời lựa chọn viên chức và định mức lương cho từng người.
Sau đó, Hoàng Cao Khải sắp xếp lại bộ máy làm việc, giữ nguyên các phòng ban, nhưng số người thì giảm một nửa. Tổng số nhân viên hành chính của Nha Kinh lược lúc này còn 12 người và đội bảo vệ 18 người. Triều đình Nguyễn giao cho Nha Kinh lược quản lý mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội…của Bắc Kỳ từ cấp tỉnh trở xuống (tỉnh, huyện, phủ, tổng, xã). Nha có nhiệm vụ giải quyết mọi vấn đề ở Bắc Kỳ, sau đó làm tấu sớ báo về triều đình.
Mặt khác, nha có trách nhiệm thông báo những chỉ, dụ, quy định của 16 z Khảo cứu tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ về Hà Nội (1886 -1897) triều đình ban hành cho các địa phương thực hiện. Như vậy, nha Kinh lược vừa có chức năng quản lý hành chính ở Bắc Kỳ, vừa như một cầu nối giữa triều đình và địa phương. Về phía Thực dân Pháp, muốn cai trị Việt Nam, họ dùng chính “người bản xứ trị người bản xứ”. Vì thế, họ tiếp tục duy trì chế độ phong kiến để làm công cụ, làm trung gian cho họ.
Ngoài ra, Thực dân Pháp đặt chức Thống sứ Bắc Kỳ cai quản chung toàn vùng này; đặt tòa Công sứ tại các tỉnh, giao cho viên Công sứ, Phó công sứ quản lý mọi mặt trong tỉnh. Đồng thời, đặt thêm những đội lính khố đỏ, khố xanh, lính thủy; ở phủ huyện có lính cơ, lính lệ để tăng cường bộ máy đàn áp. Với chức năng, nhiệm vụ như vậy, Nha Kinh lược thực chất là một cơ quan trung gian có trách nhiệm giải quyết mọi thủ tục hành chính ở các tỉnh Bắc Kỳ. Nha có nhiệm vụ tư báo toàn bộ tình hình ở địa phương cho triều đình và chính quyền Pháp, đồng thời thông tin lại những hiệu lệnh của triều đình và Toàn quyền Đông Dương xuống địa phương thực hiện.
Với nhiệm vụ đó, mọi thông tin hành chính từ chính quyền địa phương lên trên và ngược lại đều phải thông qua trung gian Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Điều đó có nghĩa Nha Kinh lược mang chức năng quản lý hành chính giải quyết mọi vấn đề về quan chức, địa giới hành chính, án kiện, kinh tế, văn hóa, giáo dục …. ở Bắc Kỳ nhưng không được thực quyền.3 Việc hình thành tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ Nha Kinh lược được lập nhằm thay mặt triều đình Huế quản lý và điều hành hệ thống hành chính thuộc chính quyền địa phương về mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội … ở Bắc Kỳ. Việc quản lý này thông qua hệ thống các văn bản hành chính như tư, tư di, nghị định, quyết định, trình, báo cáo ….
Nha có 17 z Khảo cứu tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ về Hà Nội (1886 -1897) nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết những văn bản của Toàn quyền, Thống sứ, công sứ, triều đình, Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát … gửi đến và ngược lại. Trong suốt quá trình hoạt động của Nha Kinh lược từ năm 1886 – 1897 đã ban hành và tiếp nhận một khối công văn đồ sộ về khối lượng, phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức. Đây là những văn bản hành chính được viết chủ yếu bằng chữ Hán Nôm và một số thư từ được dịch từ tiếng Pháp sang chữ Nôm.