Chương 1 – Khai thác nông nghiệp (từ trang 9 đến trang 36), tác giả có đề cấp đến hoạt động đào kênh của người Pháp ở Nam Kỳ thông qua nguồn tư liệu khai thác ở TTLT QG II (TP. Chương 2 – Khai thác giao thông vận tải, ở chương này tác giả trình bày khá chi tiết về các loại đường giao thông mà trong đó các tuyến đường thuỷ kênh đào đề cập đến cơ bản đầy đủ. Ở Chương 3 – Khai thác công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, tác giả nghiên cứu khá chi tiết về thị trường lúa gạo ở Nam Kỳ. Mặc dù, đây là một công trình nghiên cứu khá quy mô trong nhiều lĩnh vực nhưng không đi sâu vào nghiên cứu một mảng và chỉ mang tính tổng hợp từ nhiều tư liệu khác nhau.
Tuy nhiên, những nội dung mà tác giả nêu lên giúp chúng tôi có thêm nguồn tư liệu quý về thuỷ lợi và kinh tế Nam Kỳ thời thuộc Pháp. 14 Bộ sách Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập được hoàn thành trên cơ sở Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp bộ (Viện Khoa học xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do Viện sử học là cơ quan chủ trì, PGS. Trần Đức Cường làm Chủ nhiệm và Tổng chủ biên, cùng với tập thể các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ, Thạc sỹ, Nghiên cứu viên cao cấp (NCVCC), Nghiên cứu viên chính và Nghiên cứu viên của Viện sử học thực hiện. Bộ sử này cung cấp tương đối toàn diện về các nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,.
của Việt Nam từ thời kỳ nguyên thủy cho đến năm 2000. Thế nhưng để phục vụ cho nội dung có liên quan đề tài luận án, chúng tôi quan tâm khai thác một số tập chủ yếu sau đây: - Tập 4 do Trần Thị Vinh chủ biên, giai đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Ở Chương 3, các tác giả tập trung nghiên cứu quá trình khai hoang đất Nam Bộ; Chương IV và Chương V, với nội dung tương đối đầy đủ trên các mặt kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp ở Đàng Ngoài và Đàng Trong. - Tập 4, Trương Thị Yến (chủ biên), từ năm 1802 đến năm 1858.
Ở tập này, chúng tôi tập trung khai thác Chương IV – Chế độ ruộng đất, ngoài ra, nhóm tác giả còn phản ánh quá trình xây dựng các công trình thủy lợi để phục khai hoang trên khắp cả nước trong giai đoạn nghiên cứu. Chương VI – Thương nghiệp, ở chương này đã cung cấp một bức tranh tổng quan hoạt động nội thương và ngoại thượng Việt Nam nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng. - Tập 6 do Võ Kim Cương chủ biên, từ năm 1858 đế năm 1896. Toàn bộ tập này cung cấp nội dung về tình hình nước ta trước khi Pháp xâm lược, quá trình xâm lược của thực dân Pháp ở Việt, bước đầu thực dân Pháp tiến hành đầu tư hạ tầng kỹ thuật để khai thác thuộc địa.
Đáng lưu ý trong Chương V, lĩnh vực thủy lợi và thương mại được đề cập, tuy rằng chỉ ở mức độ khái quát. - Tập 7, Tạ Thị Thúy (chủ biên), thời gian từ năm 1897 đến năm 1918, đây là tập mà nhóm tác giả nghiên cứu sâu về khai thác thuộc địa của thực dân Pháp kể 15 từ sau khi Paul Doumer lên làm toàn quyền Đông Dương. Các diện mạo kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến. Trong đó, chủ trương đầu tư vốn để phát triển hạ tầng kỹ thuật nhằm phục vụ cho công cuộc tư bản hóa thuộc địa được các tác giả quan tâm nghiên cứu.
- Tập 8, Tạ Thị Thúy (chủ biên), từ năm 1919 đến năm 1930, toàn bộ tập sách tập trung phản ánh Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Với sự kiệt quệ tài chính trong chiến tranh, thực dân Pháp tiến hành vơ vét của cải ở thuộc địa. Để thực hiện được ý đồ này, người Pháp đã tăng cường củng cố bộ máy cai trị từ trung ương xuống địa phương để đảm bảo cho việc thu thuế. Trong đầu tư, với Chương trình Albert Sarraut, tổng số chi ngân sách trong 11 năm (1920 - 1930) là 319.
Trong số này, gần 1/3 được đầu tư vào nông nghiệp, còn lại 2/3 là đầu tư cho các công trình công cộng. Như vậy, trong bối cảnh mới, vấn đề xây dựng các công trình thủy nông chắc rằng sẽ tiếp tục được đầu tư. - Tập 9 do Tạ Thị Thúy chủ biên, từ năm 1930 đến năm 1945. Các chương I đến V, tiếp tục nghiên cứu và phản ánh chính sách của thực dân Pháp ở thuộc địa.
Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau chính quyền thực dân tăng cường vơ vét của cải để bù đắp cho cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) và đồng thời tích trữ cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Hệ thống các công trình công cộng trong khoảng thời gian này bị hạn chế xây dựng mới, chủ yếu là tu sửa lại. Trong điều kiện đó, hệ thống thủy lợi Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng sẽ không được chú trọng đầu tư như trước đây. Theo chúng tôi, được tiếp cận và khai thác Bộ sách Lịch sử Việt Nam xuất bản trong năm 2017 là một điều may mắn, đồng thời với một lượng tri thức rất đồ sộ được công bố là cơ sở khoa học để chúng tôi phục vụ cho luận án.
Song, với năng lực có hạn nên chúng tôi chỉ tiếp cận và khai thác những nội dung có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tên đề tài. 16 Bên cạnh đó, trong vòng hơn 30 năm trở lại đây, nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội vùng Tây Nam Bộ có giá trị khoa học và thực tiễn đã được xuất bản, cụ thể là: Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà nội 1982; Đồng bằng sông Cửu Long của Lê Minh, Nxb Tp. HCM, 1984; Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Huỳnh Lứa (chủ biên), Nxb Tp. HCM, 1987; Nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long của Dương Hồng Hiên, Nxb Tp.
HCM, 1989; Đồng bằng sông Cửu Long - Nghiên cứu phát triển, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975) của tác giả Võ Văn Sen, Nxb Tp. HCM, 1996; Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam của Vũ Huy Phúc, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội 1996; Góp thêm tư liệu Sài Gòn - Gia Định từ 1859 – 1945, tác giả Nguyễn Phan Quang, Nxb Trẻ Tp. HCM, 1998; Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 - 1945), tác giả Nguyễn Văn Khánh, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 1999; tác giả Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại những sử liệu mới (tập 3) - Sóc Trăng (1867 -1945), Nxb Văn Nghệ Tp. HCM và Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng, 2000 v.
Theo chúng tôi, nguồn tài liệu này có nhiều ưu điểm chẳng hạn như các tác giả nghiên cứu, phát hiện và đưa ra nhiều kết quả mới, đồng thời lĩnh vực nghiên cứu cũng rộng hơn, vì thế, đã cung cấp cho người đọc nhiều tri thức mới. * Luận văn, luận án: Cùng nghiên cứu về kinh tế, xã hội một số tỉnh riêng lẻ ở Nam Kỳ có khá nhiều luận án, luận văn, nhưng chúng tôi chỉ tham khảo những đề tài có liên quan về thuỷ lợi, thuỷ nông, giao thông kênh đào, kinh tế nông nghiệp, dân cư, sở hữu ruộng đất, trong đó tiêu biểu như: - Trần Thị Mai (1998), Kinh tế Sóc Trăng thời Pháp thuộc 1867 – 1945, Luận án Tiến sỹ lịch sử. Tác giả đã nghiên cứu toàn diện nền kinh tế của tỉnh Sóc Trăng thời Pháp thuộc, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp, phản ánh hoạt động mua 17 bán lúa gạo và xuất khẩu lúa gạo ở khu vực miền Tây Nam Bộ. Trong luận án này, tác giả chưa nêu lên đầy đủ tầm quan trọng của thuỷ lợi để canh tác - sản xuất lúa và chuyên chở lúa gạo từ tỉnh Sóc Trăng lên Sài Gòn - Chợ Lớn và ngược lại.
- Lê Huỳnh Hoa (2002), Cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1860 - 1939), Luận án Tiến sĩ lịch sử, lưu trữ tại Trường Đại học sư phạm Tp. Trong nội dung luận án, tuy rằng tác giả không trực tiếp nghiên cứu về thủy nông, nhưng một số thông tin về giao thông đường thủy cũng như các kết quả nghiên cứu về kinh tế, xã hội là nguồn tài liệu rất quý báu. Bên cạnh đó, một hệ thống các bảng, biểu, sơ đồ miêu tả về xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kỳ thông qua thương cảng Sài Gòn đã được tác giả thể hiện khá đầy đủ. Như vậy, luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Huỳnh Hoa là một tư liệu tốt để chúng tôi tham khảo phục vụ cho nội dung của luận án.
- Phạm Đức Hảnh (2009), Lịch sử kênh đào Nam Bộ thời nhà Nguyễn từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, Luận văn Thạc sỹ lịch sử. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử đào kênh thời nhà Nguyễn trên vùng Nam Bộ. Tuy nhiên, do yêu cầu của đề tài nên tác giả cũng chỉ đề cập đến lịch sử hình thành hệ thống kênh đào chứ chưa quan tâm đến vai trò giao thông vận tải của nó. Thời gian nghiên cứu của luận văn này chỉ dừng lại trong gia đoạn thời kỳ nhà Nguyễn, đồng thời, Luận văn đi sâu trình bày về lịch sử hình thành hệ thống kênh đào trong khi Luận án lại đi sâu nghiên cứu những vấn đề: mục đích đào kênh và làm rõ vai trò của hệ thống kênh đào trong phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nội dung về lịch sử hình thành các con kênh, chúng tôi đã kế thừa và tham khảo, đối chiếu nhiều nguồn tài liệu, đặc biệt là Châu bản triều Nguyễn, ngược lại, tác giả Luận văn chưa quan tâm và khai thác tư liệu gốc này. Riêng đối với nội dung: vai trò của hệ thống kênh đào, vì không phải là đối tượng nghiên cứu chính nên đề tài Lịch sử kênh đào Nam Bộ thời nhà Nguyễn từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, tác giả trình bày khá sơ lược, chỉ kể ra một số kênh đào mang tính đại diện. Vì vậy, 18 chưa phản ánh hết bản chất của vấn đề đặt ra, chưa thấy được phương thức đặc trưng trong lựa chọn giải pháp để khai hoang đất Nam Bộ.