Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9229013) với đề tài "Thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến năm 1945" do nghiên cứu sinh Trần Hữu Thắng thực hiện tại Trường Đại học Vinh năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Trọng Văn.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, các công trình về kinh tế, chính trị và xã hội thời Nguyễn cũng như thời kỳ thuộc Pháp đã được công bố với số lượng đáng kể. Tuy nhiên, các công trình chuyên sâu về công tác thủy lợi, thủy nông—cụ thể là việc tổ chức, thực hiện đào vét kênh rạch, đắp đê ngăn lũ, chống triều dâng, giải quyết việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX—vẫn còn khiêm tốn và phần lớn dừng lại ở mức độ ghi chép sự kiện. Riêng đối với vùng Nam Bộ và đặc biệt là khu vực Tây Nam Bộ, hoạt động thủy nông dưới thời nhà Nguyễn (1802–1867) và thời kỳ thực dân Pháp thống trị (1867–1945) chưa được khảo cứu một cách hệ thống từ góc độ sử học. Các khía cạnh như quy hoạch khảo sát, phương thức thi công, phương tiện kỹ thuật, chính sách đấu thầu, cơ chế quản lý cũng như tác động toàn diện của hệ thống kênh đào đến cơ cấu kinh tế - xã hội qua hai hình thái chính trị khác nhau vẫn là một khoảng trống khoa học cần được làm sáng tỏ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là khảo sát nguồn tài liệu lịch sử tin cậy để làm rõ mục đích, quá trình thi công và quản lý các công trình thủy nông ở Tây Nam Bộ từ thời nhà Nguyễn (1802–1867) đến thời thuộc Pháp (1867–1945); qua đó so sánh phương thức đào kênh giữa hai giai đoạn và đánh giá tác động của hệ thống thủy nông đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng đất này.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các nguồn tư liệu, tài liệu nghiên cứu liên quan đến thủy nông vùng Tây Nam Bộ.
  2. Khái quát tình hình khai hoang và hoạt động thủy lợi ở vùng Tây Nam Bộ trước thế kỷ XIX.
  3. Trình bày có hệ thống chính sách thủy lợi, hoạt động đào vét kênh rạch và phương thức đào kênh ở Tây Nam Bộ của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1867.
  4. Trình bày hệ thống kênh đào vùng Tây Nam Bộ thời thuộc Pháp (1867–1945) trên các phương diện: mục đích thi công, quá trình đào vét, phương thức đào kênh và tổ chức quản lý, từ đó rút ra các nhận xét lịch sử.
  5. Đi sâu phân tích và đánh giá tác động nhiều mặt của hệ thống kênh đào đối với kinh tế và xã hội vùng Tây Nam Bộ trong toàn bộ giai đoạn 1802–1945.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Trọng tâm đối tượng nghiên cứu là hệ thống kênh đào nhân tạo ở Tây Nam Bộ. Tác giả luận giải rằng trong khi thủy nông ở Bắc Bộ và Trung Bộ chủ yếu bao gồm hệ thống đê điều, đập, cống và hồ chứa nước ngọt, thì tại Nam Bộ, hệ thống kênh đào là thành tố đặc trưng và giữ vai trò cốt lõi trong giao thông, thủy lợi, khai hoang và thau chua rửa mặn.
  • Phạm vi không gian: Không gian địa lý bao gồm vùng Tây Nam Bộ với phạm vi tương ứng 13 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Thành phố Cần Thơ. Địa bàn này gắn liền với mạng lưới sông Tiền, sông Hậu và lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây.
  • Phạm vi thời gian: Luận án khảo cứu từ năm 1802 (khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lập ra triều Nguyễn) đến năm 1945 (khi chế độ thực dân Pháp sụp đổ ở Việt Nam). Mốc thời gian được chia thành 2 giai đoạn chính: 1802–1867 (thời kỳ triều Nguyễn độc lập, xác lập chủ quyền) và 1867–1945 (thời kỳ thực dân Pháp cai trị Nam Kỳ). Đồng thời, phần mở đầu có khái quát giai đoạn trước thế kỷ XIX để tạo bối cảnh lịch sử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tiến hành điểm luận một khối lượng tư liệu chuyên khảo và công trình khoa học của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Các ấn phẩm và sách chuyên khảo: Đào Trinh Nhất (1924) với Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ đề cập đến biện pháp khai thác đất đai, thủy lợi và di dân. Nhóm công trình của kỹ sư Phan Khánh gồm Sơ thảo lịch sử thuỷ lợi Việt Nam từ tháng 8–1945 đến tháng 12 năm 1995 (1997), Đồng bằng sông Cửu Long - Lịch sử và lũ lụt (2001), 300 năm Nam Bộ làm thủy lợi, và đặc biệt là Lịch sử thuỷ lợi Việt Nam (2014) đã hệ thống các công trình đào kênh thời Nguyễn (kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế, Bảo Định, Ruột Ngựa) và hoạt động nạo vét thời Pháp; tuy nhiên các công trình này chủ yếu đứng dưới góc độ kỹ thuật và thống kê số liệu, chưa đi sâu vào bối cảnh sử học và địa lý lịch sử. Các khảo cứu của nhà văn Sơn Nam như Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1997, 2009), Đất Gia Định xưa, Sài Gòn xưa – Dấu ấn 300 năm tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long (2008) cung cấp các cứ liệu thực địa về hoạt động đào kênh ở An Giang, Hậu Giang, Rạch Giá. Công trình Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ (Từ khởi thủy đến năm 1945) do Trần Đức Cường chủ biên (2016) và bộ sách 12 tập Lịch sử vùng đất Nam Bộ (2016) do Phan Huy Lê làm chủ nhiệm đề án (trong đó có Tập I của Trương Thị Kim Chuyên, Tập IV của Nguyễn Quang Ngọc, Tập V của Đoàn Minh Huấn và Nguyễn Ngọc Hà) phân tích quá trình khai phá, điều kiện tự nhiên và biến đổi kinh tế. Công trình của Nguyễn Đình Tư (2016), Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ 1859–1954 (tập 2) khảo cứu về nạo vét kênh rạch, giao thông đường thủy và thị trường lúa gạo. Bộ sách Lịch sử Việt Nam 15 tập (2017) của Viện Sử học (các tập 4, 5, 6, 7, 8, 9 do Trần Thị Vinh, Trương Thị Yến, Võ Kim Cương, Tạ Thị Thúy chủ biên) cung cấp bối cảnh kinh tế nông nghiệp, công trình công chính và chính sách khai thác thuộc địa qua từng thời kỳ.
  • Luận án và luận văn chuyên ngành: Trần Thị Mai (1998) nghiên cứu kinh tế Sóc Trăng thời Pháp thuộc; Lê Huỳnh Hoa (2002) khảo cứu về cảng Sài Gòn và xuất khẩu lúa gạo; Phạm Đức Hảnh (2009) nghiên cứu lịch sử kênh đào Nam Bộ thời Nguyễn từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX; Nguyễn Sinh Hương (2010) đánh giá vai trò kênh đào vùng Tứ giác Long Xuyên nửa đầu thế kỷ XIX; Phạm Hồng Thắng (2012) nghiên cứu thủy nông Tiền Giang; Lê Công Lý (2012) khảo cứu dấu ấn văn hóa của tuyến vận tải lúa gạo Miền Tây – Sài Gòn; cùng các luận án của Nguyễn Thúy Dương (1996) về Hà Tiên – Rạch Giá và Võ Thị Hồng (1997) về An Giang.
  • Các bài báo khoa học và kỷ yếu hội thảo: Các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Huỳnh Lứa (1978), Lê Văn Năm (1988, 2000), Nguyễn Phan Quang (2000, 2002), Nguyễn Thùy Dương (2000, 2001), Phạm Quang Trung (1988); kỷ yếu hội thảo khoa học về Kênh Vĩnh Tế (1999), Vương triều Nguyễn (2008) và Khai hoang Đồng Tháp Mười (2013); các bộ địa chí địa phương sau năm 1975 của Đồng Tháp Mười (Trần Bạch Đằng, 1996), Minh Hải, Cửu Long, Long An, Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Tháp.

Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài

  • Sách chuyên khảo tiếng Pháp: Toàn quyền Paul Beau (1908) với Situation de L'Indochine de 1902 à 1907 (Phụ lục 19 về Công trình công cộng); Thanh tra công chính Pouyenne với hai tác phẩm Voies d'eau de la Cochinchine (1911) và Les travaux publics de l’Indochine (chương 3 về Thủy nông Đông Dương); Bộ trưởng thuộc địa Albert Sarraut (1923) với La mise en valeur des colonies françaises; Victor Delahaye (1928) với luận án địa lý La plaine des joncs et sa mise en valeur; Yves Henry (1932) với L’Économie agricole de l’Indochine; tài liệu của Toàn quyền Đông Dương Dragages de Cochinchine – Canal RachGia – HaTien (1930); luận án của Jean-Pierre Aumiphin (1994) về Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859–1939); Pierre Brocheux (2009) với Une histoire économique du Viet Nam 1850–2007; hồi ký của Paul Doumer (2016) Xứ Đông Dương (L’Indochine française); cùng các công trình của Albert Coquerel (1911) và Ch. Robequain (1939).
  • Tạp chí quốc tế và Địa phương chí trước 1945: Các bài báo trên tạp chí Annales de géographie của Ch. R (1932), Hauser (1895), Maurice Zimmermann (1901, 1911), Choveaux (1924), Pierre Gourou (1939); cùng bộ Monographie đầu thế kỷ XX của các tỉnh Mỹ Tho, Hà Tiên, Châu Đốc, Phú Quốc, Sa Đéc, Sóc Trăng, Long Xuyên, Rạch Giá, Vĩnh Long.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình trước đây hoặc chỉ khảo cứu kỹ thuật thuần túy, hoặc nghiên cứu lịch sử trong phạm vi hẹp từng địa phương, hoặc chỉ dừng lại ở từng giai đoạn đơn lẻ (thời Nguyễn hoặc thời Pháp). Chưa có công trình nào phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống toàn bộ quá trình đào vét, phương thức thi công, cơ chế vận hành và đánh giá tác động kinh tế - xã hội của thủy nông trên phạm vi toàn vùng Tây Nam Bộ liên tục từ năm 1802 đến năm 1945. Luận án được thực hiện nhằm khỏa lấp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung phân tích

Luận án tiếp cận khái niệm "thủy nông" trong điều kiện đặc thù của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Khác với vùng Bắc Bộ và Trung Bộ nơi thủy nông gắn liền với đê ngăn lũ biển, đập và cống điều tiết, tại Tây Nam Bộ thủy nông được định hình thông qua mạng lưới kênh đào nhân tạo kết nối hệ thống sông rạch tự nhiên. Khung phân tích của luận án đặt các công trình kênh đào trong mối tương quan với điều kiện địa mạo, chế độ thủy văn (mùa lũ, mùa cạn, xâm nhập mặn, đất phèn), mục tiêu chính trị - quân sự của nhà nước phong kiến và mục tiêu khai thác kinh tế thuộc địa của thực dân Pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ đạo của khoa học lịch sử:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, tuần tự tiến trình các sự kiện đào vét kênh rạch, các chủ trương chính sách của triều đình nhà Nguyễn và chính quyền thực dân Pháp theo trục thời gian tuyến tính 1802–1945.
  • Phương pháp lôgic: Khái quát bản chất, quy luật vận động, so sánh và phân tích đối chiếu sự khác biệt về phương thức thi công, tổ chức quản lý và hiệu quả kinh tế - xã hội giữa hai chế độ chính trị.

Bên cạnh đó, luận án kết hợp các phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp thống kê, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh: Xử lý các số liệu định lượng về khối lượng bùn đất đào đắp, diện tích ruộng đất khai hoang, năng suất lúa, sản lượng gạo xuất khẩu và số lượng dân cư.
  • Phương pháp điền dã khảo sát thực địa và phỏng vấn: Tác giả tiến hành khảo sát thực tế trên một số tuyến kênh đào và cụm dân cư tại các tỉnh Long An, Tiền Giang, An Giang; thu thập tư liệu hiện vật tại các bảo tàng tỉnh Long An, Sóc Trăng, An Giang.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án được khai thác từ các khối dữ liệu gốc và thứ cấp:

  • Tài liệu chữ Hán - Việt: Các bộ chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Châu bản triều Nguyễn, cùng các công trình Gia Định thành thông chí, Phủ biên tạp lục.
  • Tài liệu lưu trữ tiếng Pháp: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) và Thư viện Quốc gia Pháp (BnF). Các tài liệu bao gồm báo cáo của Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Sở Công chính Đông Dương, các bản địa phương chí (Monographie) đầu thế kỷ XX, các tạp chí kinh tế - hành chính Pháp thuộc như Bulletin économique de l’Indochine, L’Éveil économique de l’Indochine, Journal Officiel de l’Indochine Française.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

Chương này dành toàn bộ dung lượng để phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân chia hệ thống tài liệu thành các nhóm: sách chuyên khảo của tác giả trong nước, luận án - luận văn, bài báo trên các tạp chí khoa học, kỷ yếu hội thảo, tài liệu địa chí sau năm 1975, sách của các học giả và chính khách Pháp, tài liệu của chính quyền thuộc địa, các bài báo trên tạp chí quốc tế (Annales de géographie) và địa phương chí trước năm 1945. Chương 1 chỉ rõ những thành tựu mà các nhà nghiên cứu đi trước đã đạt được, đồng thời xác định các mặt hạn chế về mặt tư liệu, cách tiếp cận sử học để khẳng định lý do và những nội dung mà luận án cần tiếp tục giải quyết.

Chương 2. Thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ thời nhà Nguyễn (1802 - 1867)

Chương 2 phục dựng bức tranh thủy nông thời kỳ vương triều Nguyễn xác lập và củng cố chủ quyền tại vùng đất Nam Bộ.

  • Điều kiện tự nhiên: Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng châu thổ tam giác hình thành từ trầm tích phù sa, độ cao trung bình 3–5m (nhiều nơi chỉ 0,5–1m). Đất đai gồm 3 nhóm chính: đất phù sa (ven sông Tiền, sông Hậu), đất phèn (Đồng Tháp Mười, Bo Bo, Hà Tiên, trung tâm bán đảo Cà Mau) và đất xám phù sa cổ (dọc biên giới Campuchia). Vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa hàng năm khoảng 4.000 tỷ mét khối nước và mang lại khoảng 100 triệu tấn phù sa; mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 (mưa cao điểm tháng 8, 9, 10 đạt 250–350 mm/tháng). Thủy văn phân hai mùa rõ rệt: mùa lũ (tháng 7 đến tháng 10) ngập từ 1,2 đến 1,4 triệu ha kéo dài 2–6 tháng; mùa cạn (tháng 12 đến tháng 6 năm sau) lưu lượng sông Mê Kông giảm xuống trung bình 3.000 m³/s, khiến nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng.

Bảng so sánh nhiệt độ trung bình tại các thành phố Đông Dương được thống kê trong văn bản:

Thành phố Nhiệt độ trung bình (°C) Nhiệt độ cao nhất (°C) Nhiệt độ thấp nhất (°C)
Sài Gòn 27,01 35,0 18,0
Phnôm Pênh 27,44 35,8 19,4
Hải Phòng 24,56 36,8 9,8
  • Khai hoang và thủy lợi trước thế kỷ XIX: Trước thế kỷ XIX, lưu dân người Việt cùng các nhóm cư dân Hoa, Khơ-me đã tiến hành khẩn hoang. Hoạt động đào kênh xuất hiện sớm gắn liền với yêu cầu quân sự và bảo vệ vùng đất mới, tiêu biểu như kênh Vũng Cù (1705 do Nguyễn Cửu Vân chỉ huy), kênh Ruột Ngựa – Mã Trường giang (1772 do Nguyễn Cửu Đàm chỉ huy đào tại Trấn Phiên An) và kênh Rạch Chanh (1785 do danh tướng Tây Sơn Đặng Văn Trấn tổ chức đào).
  • Công cuộc đào vét kênh rạch thời Nguyễn (1802–1867): Sau khi thống nhất đất nước năm 1802, nhà Nguyễn đẩy mạnh chính sách đồn điền và đào vét kênh rạch. Mục đích chính là củng cố an ninh - quốc phòng, bảo vệ biên giới phía Tây Nam, vận chuyển quân lương, kết hợp tưới tiêu, thau chua rửa phèn, mở rộng diện tích canh tác lúa và phát triển giao thương thủy lộ.
  • Phương thức thi công và công trình tiêu biểu: Việc đào kênh thời Nguyễn hoàn toàn sử dụng sức người (lao dịch của binh lính và dân phu), công cụ thô sơ (cuốc, xẻng, đòn khiêng, ki xọt), tổ chức theo kỷ luật quân đội nghiêm ngặt. Các đại công trình tiêu biểu được hoàn thành bao gồm kênh Thoại Hà (Rạch Giá – Long Xuyên), kênh Vĩnh Tế (nối Châu Đốc với Hà Tiên), kênh Bảo Định, kênh Ruột Ngựa.

Chương 3. Thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ thời thuộc Pháp (1867 – 1945)

Chương 3 khảo sát quá trình chuyển đổi toàn diện hoạt động thủy nông sang hình thái khai thác thuộc địa cơ giới hóa:

  • Bối cảnh và mục đích của chính quyền thực dân: Sau khi chiếm trọn Nam Kỳ Lục tỉnh năm 1867, thực dân Pháp thực hiện chủ trương "vừa đánh vừa khai thác". Chính quyền thuộc địa (đứng đầu là Thống đốc Nam Kỳ và các Tham biện chủ tỉnh) tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm phục vụ công cuộc vơ vét tài nguyên, mở rộng diện tích trồng lúa để thu lợi nhuận từ chuyển nhượng đất đai và xuất khẩu lúa gạo ra thị trường thế giới. Trong Chương trình Albert Sarraut (1920–1930), tổng chi ngân sách trong 11 năm là 319 triệu franc, trong đó gần 1/3 đầu tư vào nông nghiệp và 2/3 dành cho các công trình công chính.
  • Phương thức thi công và tổ chức đấu thầu: Điểm khác biệt căn bản so với thời Nguyễn là người Pháp sử dụng phương tiện cơ giới hiện đại—các tàu cuốc cơ giới cỡ lớn (gọi là "xáng múc" - dragages). Chính quyền thuộc địa tổ chức quy hoạch các tuyến kênh trục quy mô lớn, sau đó giao cho các tập đoàn tư bản công trình Pháp thi công thông qua hình thức đấu thầu công khai.
  • Hệ thống kênh đào tiêu biểu và quản lý công trình: Hàng loạt tuyến kênh chiến lược được đào và nạo vét xuyên qua các vùng đất trũng ngập như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, vùng bán đảo Cà Mau và tuyến kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Bộ máy quản lý thủy nông được chuyên môn hóa dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Sở Công chính Đông Dương (Travaux publics).

Chương 4. Tác động của thuỷ nông đối với kinh tế và xã hội vùng Tây Nam Bộ (1802 - 1945)

Chương 4 phân tích, đánh giá tác động sâu rộng của hệ thống kênh đào qua hai thời kỳ:

  • Tác động thời nhà Nguyễn (1802–1867):
    • Kinh tế: Kênh đào dẫn nước ngọt, đẩy mặn, thau chua, tạo điều kiện lập làng, lập ấp và khai hoang hàng chục vạn mẫu đất mới; kết nối giao thông thủy giữa các trấn/tỉnh miền Tây với Gia Định; thúc đẩy hoạt động thương nghiệp nội địa và trao đổi nông sản.
    • Xã hội: Tạo lập các cụm dân cư mới dọc theo bờ kênh, củng cố thế trận quốc phòng bảo vệ biên giới Tây Nam và an ninh trật tự làng xã.
  • Tác động thời thuộc Pháp (1867–1945):
    • Kinh tế: Đẩy mạnh khai hoang quy mô lớn, diện tích trồng lúa tăng nhanh chóng; chất lượng nước nội đồng được cải thiện, làm tăng sản lượng lúa; hình thành trục vận tải thương mại thủy lộ then chốt: con đường lúa gạo Tây Nam Bộ – Sài Gòn – Chợ Lớn để đưa gạo ra cảng Sài Gòn xuất khẩu.
    • Xã hội: Hình thành mạng lưới đô thị, chợ nổi và trung tâm dân cư sung túc ven các trục kênh đào; thúc đẩy luồng di dân mạnh mẽ từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và các tỉnh lân cận vào Nam Kỳ; làm biến đổi sâu sắc cơ cấu sở hữu ruộng đất với sự hình thành tầng lớp đại địa chủ người Pháp và địa chủ thân Pháp, dẫn đến sự phân hóa giai cấp sâu sắc ở nông thôn Nam Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả và đóng góp khoa học sau:

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Luận án là công trình nghiên cứu sử học chuyên biệt đầu tiên ở Việt Nam tái hiện bức tranh toàn cảnh, có hệ thống và tương đối toàn diện về quá trình xây dựng, cải tạo và phát triển thủy nông tại vùng Tây Nam Bộ suốt chiều dài lịch sử từ năm 1802 đến năm 1945.
  • Làm rõ và so sánh sự chuyển biến về bản chất, mục đích, phương thức thi công và cách thức quản lý hệ thống kênh đào qua hai hình thái kinh tế - xã hội khác nhau: từ hình thái phong kiến thủ công dựa trên sức người và kỷ luật quân sự dưới triều Nguyễn (1802–1867) sang hình thái tư bản thực dân cơ giới hóa bằng tàu cuốc xáng múc và cơ chế đấu thầu dưới thời thuộc Pháp (1867–1945).
  • Hệ thống hóa, phân loại và bổ sung một khối lượng tư liệu lịch sử giá trị từ các văn bản Hán - Nôm (Châu bản triều Nguyễn, Quốc sử quán) và tài liệu gốc tiếng Pháp tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thư viện Quốc gia Pháp và Viện Viễn Đông Bác Cổ.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp các luận cứ khoa học và bài học kinh nghiệm lịch sử về công tác quy hoạch, tổ chức thi công, đấu thầu, quản lý và khai thác các công trình thủy lợi, xả phèn, dẫn nước ngọt tại Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương và giảng dạy lịch sử tại các trường đại học, cao đẳng và trường phổ thông tại khu vực phía Nam.

Kiến nghị và giải pháp rút ra

  • Đề xuất các cấp chính quyền và cơ quan quản lý chuyên ngành tham khảo kinh nghiệm lịch sử của các giai đoạn trước trong việc quy hoạch thủy lợi vùng, kết hợp đồng bộ giữa phát triển giao thông thủy lợi với bảo vệ môi trường sinh thái và ứng phó với hạn mặn trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu trọng tâm vào hệ thống kênh đào nhân tạo, chưa bao quát toàn diện các công trình thủy lợi khác như đê bao cục bộ hay cống đập nhỏ do người dân tự phát xây dựng. Mặt khác, các phân tích về biến động sở hữu ruộng đất và tác động xã hội thời thuộc Pháp mới chỉ dừng lại ở những đánh giá bước đầu từ nguồn tư liệu lưu trữ hiện có do sự tản mát của các thống kê tài chính thuộc địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh chi tiết giữa hệ thống kênh đào Tây Nam Bộ với hệ thống kênh rạch của các đồng bằng châu thổ lân cận trong khu vực Đông Nam Á (như đồng bằng sông Chao Phraya ở Thái Lan); đi sâu khảo cứu vi mô về đời sống kinh tế - văn hóa của các cộng đồng dân cư định cư dọc theo từng tuyến kênh đào cụ thể qua các thời kỳ lịch sử.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các đối tượng:

  • Nhà nghiên cứu lịch sử, địa lý lịch sử và kinh tế học: Sử dụng làm tư liệu đối chiếu về lịch sử khai hoang, chính sách nông nghiệp thời Nguyễn và lịch sử khai thác thuộc địa của Pháp tại Nam Kỳ.
  • Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nông nghiệp, thủy lợi: Tham khảo các kinh nghiệm lịch sử về xử lý hệ thống thoát lũ, thau chua rửa phèn và phát triển giao thông thủy kết hợp dân sinh tại 13 tỉnh/thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Việt Nam: Làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên đề về lịch sử Nam Bộ và biên soạn giáo trình lịch sử địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án xác định đối tượng nghiên cứu thủy nông ở Tây Nam Bộ chủ yếu là hệ thống kênh đào?

Trong điều kiện tự nhiên của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long với mạng lưới sông Tiền, sông Hậu chằng chịt, thủy nông không tập trung vào việc đắp đê ngăn lũ quy mô lớn như Bắc Bộ hay xây hồ chứa như Trung Bộ, mà phương thức hữu hiệu nhất là đào vét kênh rạch để dẫn nước ngọt, tiêu úng, thau chua rửa phèn, ngăn mặn và mở đường giao thông thủy phục vụ khai hoang.

2. Kênh đào nào được xem là sớm nhất ở Nam Bộ theo khảo cứu của luận án?

Theo các sử liệu được luận án dẫn chứng, con kênh đào sớm nhất ở Nam Bộ là kênh Vũng Cù, do Nguyễn Cửu Vân chỉ huy đào vào năm 1705 thời các chúa Nguyễn. Sau đó là kênh Ruột Ngựa (Mã Trường giang) đào năm 1772 do Nguyễn Cửu Đàm chỉ huy và kênh Rạch Chanh do tướng Tây Sơn Đặng Văn Trấn cho đào năm 1785.

3. Phương thức đào kênh giữa thời nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc có điểm gì khác biệt căn bản?

Thời nhà Nguyễn (1802–1867), việc đào kênh được tiến hành hoàn toàn thủ công bằng sức người (binh lính và dân phu), công cụ thô sơ và tổ chức theo kỷ luật quân đội phong kiến. Thời thuộc Pháp (1867–1945), việc đào nạo vét kênh rạch chuyển sang cơ giới hóa hoàn toàn bằng tàu cuốc xáng múc (dragages) công suất lớn, thi công thông qua tổ chức đấu thầu tư bản và quản lý chuyên môn hóa bởi Sở Công chính.

4. Hệ thống kênh đào thời thuộc Pháp đã tác động như thế nào đến việc hình thành tuyến thương mại lúa gạo?

Hệ thống kênh đào nối liền các vùng lúa trọng điểm ở Tây Nam Bộ với các trung tâm xay xát, trung chuyển, tạo nên "con đường lúa gạo" huyết mạch từ Tây Nam Bộ về Sài Gòn – Chợ Lớn, tập trung lúa gạo đưa ra thương cảng Sài Gòn để phục vụ thị trường xuất khẩu quốc tế.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến năm 1945" của tác giả Trần Hữu Thắng là một công trình khoa học lịch sử chuyên khảo có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển mạng lưới kênh đào tại Tây Nam Bộ. Bằng việc xử lý nghiêm cẩn các nguồn sử liệu Hán - Nôm và tài liệu lưu trữ tiếng Pháp, tác giả đã phục dựng sinh động quá trình cải tạo tự nhiên qua hai thời kỳ lịch sử đối lập nhau về thể chế chính trị và trình độ kỹ thuật. Công trình không chỉ làm rõ vai trò cốt lõi của thủy nông đối với công cuộc khẩn hoang, mở rộng diện tích canh tác và biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Nam Bộ thời cận đại mà còn đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý và phát triển thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.