Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA - HOA KỲ (1954 - 1969) 1. Sự xác lập quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ Có hai sự kiện lịch sử quan trọng ghi dấu ấn sâu sắc trong quan hệ VNCH - HK. Đó là 2 bản Hiệp định lập lại hòa bình cho Việt Nam được ký kết: Hiệp định Genève (1954) và Hiệp định Paris (1973). Hai hiệp định này giống như hai mố cầu đặc biệt mà trên đó là cầu nối lịch sử về quan hệ Sài Gòn - Washington từ bước khởi thủy, hưng thịnh tới suy vi.
Sự khởi đầu từ chống phá Hiệp định Genève Tháng 7 - 1954, Hiệp định Genève được ký kết. Đây là kết quả 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam. Theo tinh thần của Hiệp định, Việt Nam tạm thời được chia làm 2 miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới và sau 2 năm sẽ thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Để thi hành Hiệp định, toàn bộ lực lượng kháng chiến ở miền Nam sẽ tập kết ra Bắc.
Trong khi đó, lực lượng quân viễn chinh Pháp cùng ngụy quân rút về miền Nam. Nhưng ngay từ đầu, Hiệp định Hòa bình thống nhất đất nước đã không được đối phương thực hiện. Người Mỹ nhanh chóng gạt Pháp và dựng lá bài Ngô Đình Diệm ở miền Nam. Chính quyền này từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do với lý do mà Ngô Đình Diệm đưa ra: “Chúng ta không bị ràng buộc dưới bất kỳ hình thức nào với các hiệp định được ký kết chống lại ý chí của dân tộc Việt Nam… Chúng ta không thể để lỡ bất cứ một cơ hội nào có thể cho phép thực hiện sự thống nhất Tổ quốc trong tự do.
Nhưng không nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ không xem xét bất kỳ đề nghị nào của Việt Minh nếu nó không chứng tỏ rằng, họ đã đặt lợi ích tối cao của toàn dân tộc lên lợi ích của chủ nghĩa cộng sản”[97, tr. Vin vào cớ không tham gia vào bản tuyên bố cuối cùng của Hiệp định, Mỹ đã can thiệp vào nội bộ Việt Nam, ra sức phá hoại Hiệp định 14 z nhằm chia cắt lâu dài hai miền của Việt Nam. Do vậy, cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không được tổ chức. Trong khi đó, ở miền Bắc, chính phủ VNDCCH cố gắng thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản của Hiệp định.
Đồng thời, có những hành động thiện chí, tích cực để chuẩn bị cho công cuộc thống nhất. Năm 1955, VNDCCH thành lập một cơ quan chuyên trách lĩnh vực Hiệp thương chính trị “Ban quan hệ Bắc Nam” (còn được gọi Ban Thống nhất), Ban này có nhiệm vụ đảm bảo thống nhất lãnh đạo cuộc vận động lập lại quan hệ Bắc - Nam… Ngày 18 - 6 - 1956, Ban Thống nhất ra nghị quyết số 70 về quan hệ với miền Nam trong đó nhắc nhở cán bộ kiên trì việc thiết lập quan hệ hai miền; về kinh tế coi buôn bán giữa hai miền không có tính chất ngoại thương mà là trong một đất nước thống nhất, vận động trao đổi buôn bán và thư từ qua lại của các gia đình có bà con giữa hai miền… Đúng theo quy định của Hiệp định Genève, trong thời kỳ còn tạm phân chia thì nhân dân giữa hai miền có thể thông tin qua lại trong khuôn khổ những tờ bưu thiếp (có thể viết 5 dòng). Nhưng mối quan hệ ruột thịt Bắc - Nam nóng bỏng, thiêng liêng được chuyển tải qua lá thiếp mỏng manh đó cũng bị Ngô Đình Diệm sớm cấm đoán. Để thực hiện chủ trương hòa bình thống nhất đất nước, các lực lượng kháng chiến ở miền Nam nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Chính phủ VNDCCH chấm dứt các hoạt động vũ trang, rút quân ra Bắc, bàn giao lại toàn bộ lãnh thổ miền Nam cho đối phương kiểm soát.
Đề cương “Đường lối cách mạng miền Nam” năm 1956 của Lê Duẩn một lần nữa nhấn mạnh sự bền bỉ với đường lối đấu tranh hòa bình. Tuy nhiên, những thiện chí của miền Bắc Việt Nam tiếp tục bị Chính quyền Sài Gòn khước từ với nhiều lý do, trong đó thực chất ngoài sự căm thù Cộng sản, ngoài lập trường chống Cộng, Diệm và những người trong bộ máy của Diệm, còn có một lý do trực tiếp nữa: họ biết chắc rằng nếu để nhân dân được tự do lựa chọn thì đa số sẽ không lựa chọn họ, chế độ “Cộng sản” mà họ ghét cay ghét đắng ấy lại là chế độ rất được lòng dân. Ngay từ 1954, các cơ quan tình báo Mỹ đã nhận định rằng: “Nếu để tổng tuyển cử tự 15 z do ở Việt Nam thì 80% dân chúng Việt Nam sẽ lựa chọn Chính phủ Hồ Chí Minh”[48, tr. Một người rất ủng hộ Diệm cũng đã viết trên tờ Lock vào ngày 25 - 1 - 1955: “Nếu tiến hành Tổng tuyển cử ngay ngày hôm nay thì tuyệt đại đa số người Việt Nam sẽ bỏ phiếu cho những người Cộng sản”[48, tr.
Những báo cáo đó khiến Diệm không thể tin được rằng ông ta sẽ chiến thắng trong bầu cử nên đã bác bỏ Hiệp thương Tổng tuyển cử. Nhờ sự hậu thuẫn của Mỹ, vị trí của Diệm ngày càng được củng cố. Mỹ công khai ủng hộ lập trường của Diệm đối với cuộc bầu cử, đồng thời gây sức ép với một số nước tham gia Hội nghị Genève. Như vậy, cả Diệm và Mỹ đều ra sức chống phá, bác bỏ Hiệp định Tổng tuyển cử tự do đã được ký kết.
Liên minh “chống Cộng” 1956 - 1960 Sau Hiệp định Genève, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm - một viên quan triều Nguyễn, được Mỹ đào tạo, thân Mỹ, bài xít Pháp và là một con Chiên ngoan đạo về làm thủ tướng thay thế Bửu Lộc. Với cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm lên nắm quyền thay quốc trưởng Bảo Đại. Lá bài Ngô Đình Diệm - như dư luận HK chỉ rõ, được rút ra từ “tay áo” Mỹ và HK nhanh chóng ủng hộ lá bài mà họ đã dựng lên. Mỹ cử tướng L.Colins sang làm đại sứ đầu tiên ở Sài Gòn.
Như vậy, về mặt ngoại giao, một tướng 2 sao của HK là vị đại sứ đầu tiên làm cầu nối cho mối quan hệ giữa Washington và Sài Gòn. Vị đại sứ hàm cấp tướng này đã nhanh chóng vạch 6 điểm để gạt hẳn mọi ảnh hưởng còn lại của Pháp; mặt khác củng cố thế lực của HK và xây dựng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Kế hoạch này bao gồm: bảo trợ chính quyền Diệm, viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài Gòn; Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mỹ trang bị, huấn luyện; Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hóa chính quyền Sài Gòn; Định cư cho số người công giáo di cư vào Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa; Thay đổi chế độ thuế khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam; Đào tạo cán bộ hành chính. Để tạo chỗ đứng vững chắc cho chính quyền tay sai, Mỹ và Diệm đã dần loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và chính quyền Bảo Đại ở miền Nam với chính sách 16 z “đả thực, bài phong”.
Ngày 1 tháng 1 năm 1955, Pháp đã bị Mỹ ép buộc chuyển giao tất cả những hoạt động còn lại về mặt chính quyền cho Việt Nam quốc gia. Một khi điều đó được tiến hành, Mỹ có thể trao viện trợ trực tiếp cho Nam Việt Nam mà không cần thông qua Chính phủ Pháp như trước đó. Đồng thời, Diệm cũng mạnh tay hơn trong việc dùng bạo lực để tiêu diệt các thế lực giáo phái và phe phái chống đối Diệm như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên… nhằm xây dựng chính quyền “độc trị”. Để củng cố chính quyền của mình, Diệm tập hợp các lực lượng trong giai cấp tư sản, địa chủ và Thiên chúa giáo chống đối lực lượng Cộng sản, thành lập “Đảng Cần lao nhân vị”, phong trào “Cách mạng quốc gia”, “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới” từ Trung ương đến địa phương.
Bên cạnh đó, thông qua các đạo dụ, Diệm chủ định cải cách ruộng đất nhằm tạo lực lượng và thế lực chủ chốt trong việc ủng hộ sự tồn tại của chính quyền. Ngày 4 - 3 - 1956, Diệm tổ chức bầu “Quốc hội” và ngày 26 - 10 - 1956 cho công bố “Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa”. Được sự trợ giúp của Mỹ, bằng những chính sách quyết liệt, ngay sau khi lên nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam thành một “quốc gia mạnh”. Cùng với việc dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm và từng bước áp đặt chủ quyền thực dân mới ở MNVN, mối quan hệ VNCH - HK được xác lập.
Như vậy, chính quyền mới ở Sài Gòn do Ngô Đình Diệm đứng đầu là sản phẩm trực tiếp của Washington nhằm gạt Pháp để trực tiếp “chống Cộng” ở miền Nam. Nền đệ nhất Cộng hòa được thiết lập, HK làm “bà đỡ” cho thể chế MNVN này. Song song với việc đào luyện bộ máy, HK đã ồ ạt viện trợ về kinh tế, quân sự cho chính quyền VNCH. Cũng từ đó, “Viện trợ Mỹ và sự hiện diện kinh tế của Mỹ không đi vào nền kinh tế miền Nam một cách tự nhiên như những chất dinh dưỡng đi vào một cơ thể, mà là một yếu tố thay thế, nhiều khi lấn át cả những yếu tố thuộc nội lực của nền kinh tế đó”[48, tr.
Thực tế, nếu chỉ tính riêng những khoản viện trợ chính thức thì viện trợ của Mỹ cho Nam Việt Nam là lớn nhất trong số các nước nhận viện trợ của Mỹ. 17 z Về kinh tế, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn từ năm 1955 - 1957, Mỹ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỷ đô-la (60% chi dùng vào mục đích quân sự).1: Viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Nam Việt Nam Tài khóa 1953 - 1960 (triệu đô-la Mỹ) Năm tài Viện trợ kinh tế Viện trợ quân sự Toàn bộ viện trợ quân khóa Mỹ Mỹ sự và kinh tế của Mỹ 1953-1957 823,3 277,8 1. Agency for International Development. Overseas Loans and Grands and Assitance from International Organizations, tr.
Viện trợ kinh tế của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa tăng vọt, từ 25 triệu đô- la năm 1954 lên 100 triệu đô-la trong năm 1955. Khoảng 4/5 tổng số viện trợ của Mỹ cho Nam Việt Nam trong những năm 50 đã trực tiếp hay gián tiếp được sử dụng để duy trì Chính quyền Diệm. Như vậy, xét quan hệ Nam Việt Nam – HK dưới góc độ kinh tế, thì HK là người bảo trợ cho sự ra đời và tồn vong của chế độ Diệm.